Xóa đói, giảm nghèo là chủ trương chiến lược của Đảng. Giảm nghèo toàn diện và bền vững luôn được xác định là ưu tiên hàng đầu trong đường lối, chính sách phát triển của Đảng, Nhà nước Việt Nam, nhằm bảo đảm quyền con người và thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Những năm đầu thế kỷ XXI, nhờ các thành tựu về tăng trưởng kinh tế, sự tập trung ưu tiên và những nỗ lực to lớn trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội, Việt Nam đã đạt những bước tiến vượt bậc, hoàn thành trước thời hạn mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về xóa đói, giảm nghèo.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghèo đói là vấn đề mang tính toàn cầu, đang được chính phủ các quốcgia trên thế giới quan tâm Không chỉ các nước nghèo đang phát triển, mà cảcác nước phát triển cũng còn một bộ phận dân cư nghèo đói, thu nhập thấp,thiếu cơ hội tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng Vấn đề xóa đói,giảm nghèo đang được các nhà khoa học và các nhà lãnh đạo nghiên cứu, tìmcách tháo gỡ Giải quyết vấn đề đói nghèo vừa là mục tiêu, vừa là động lựccủa nhân loại trong việc thực hiện các giá trị của thời đại là: hòa bình, ổnđịnh, phát triển, tiến bộ và đảm bảo các quyền con người Nhận thức rõ đượctầm quan trọng của việc giảm lượng người nghèo khổ trên thế giới, tháng 10năm 2000, 189 nguyên thủ quốc gia, trong đó có Việt Nam đã ký cam kết đạtmục tiêu thiên niên kỷ nhằm giảm mức nghèo đói xuống còn một nửa vàonăm 2015
Ngay từ khi mới thành lập, Đảng luôn quan tâm đến việc xóa đói, giảmnghèo, đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Ra đời sau Cách mạng ThángTám năm 1945, Nhà nước Việt Nam đã đưa ra nhiều biện pháp để diệt “giặcđói”, cải thiện đời sống nhân dân Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ, cũng như trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đềgiải quyết đói nghèo luôn được đặt ra thành một trong những nhiệm vụ trọngtâm trong chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước đề ra nhiều chủ trương,chính sách về xóa đói, giảm nghèo (XĐGN) như: Đầu tư xây dựng kết cấu hạtầng kinh tế, xã hội và trợ giúp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức đểngười nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo Nhờ đó, côngtác xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng,cuộc sống của đại bộ phận dân cư được nâng lên Người nghèo được tạo điều
Trang 2kiện để tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội về y tế, giáo dục; cơ sở hạ tầng củacác huyện, xã nghèo được tăng cường; đời sống người nghèo được cải thiện
rõ rệt Thành tựu về giảm nghèo liên tục tăng Năm 2002 Việt Nam hoànthành Mục tiêu Thiên niên kỷ về xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếuđói, sớm 13 năm so với mục tiêu đề ra Sau 5 năm thực hiện mục tiêu giảmnghèo quốc gia, đến năm 2015 Việt Nam đã đạt được mục tiêu đề ra và đượcthế giới đánh giá là 1 trong 6 quốc gia hoàn thành mục tiêu trước thời hạn và
là điểm sáng về thực hiện mục tiêu giảm nghèo Tuy nhiên, bên cạnh nhữngthành tích nói trên, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, số hộ thoátnghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỷ lệ hộ tái nghèohàng năm cao; chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư khá lớn,đời sống người nghèo vẫn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở khu vực miền núi,vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Yên Bái là một tỉnh miền núi với 70 xã vùng cao trên tổng số 180 xã,phường, thị trấn Trong đó có 62 xã đặc biệt khó khăn, 2 huyện Trạm Tấu và
Mù Cang Chải thuộc diện 61 huyện nghèo, đặc biệt khó khăn của cả nước Mặc dù trong những đổi mới, tỉnh Yên Bái đã có nhiều nỗ lực trong công tácxoá đói, giảm nghèo, song, số hộ nghèo của tỉnh vẫn ở mức cao Vì vậy,nhiệm vụ xoá đói, giảm nghèo ở Yên Bái trở thành yêu cầu bức xúc, cấp báchđối với Tỉnh ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị
Vì vậy, nghiên cứu quá trình lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo củaTỉnh ủy Yên Bái trong một giai đoạn lịch sử nhất định, từ đó những đánh giánhững thành công, hạn chế và đúc kêt những kinh nghiệm lịch sử góp phần nângcao hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái trong thời gian tới là rất cần
thiết Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài " Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo từ năm 2005 đến năm 2015" làm đề tài luận văn thạc sĩ,chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 32 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo là vấn đề được giành được sự quan tâmnghiên cứu của nhiều nhà khoa học Nhiều công trình khoa học, bài viết liên quanđến vấn đề xóa đói, giảm nghèo đã được công bố Có thể chia thành các nhómcông trình như:
Thứ nhất: Nhóm nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về nghèo đói
xóa, đói nghèo và thực trạng công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam của cáchọc giả nước ngoài và trong nước, với các ấn phẩm tiêu biểu như:
- Chi nhánh chính sách việc làm và thị trường lao động, Ban việc làm
và đào tạo, Văn phòng ILO.1999, Báo cáo về việc làm và hệ thống an sinh xã hội thị trường lao động cho các nhóm dễ tổn thương ở Việt Nam [4] đã cho
thấy những đổi mới hướng tiếp cận phát triển xã hội gần đây của Đảng vàChính phủ Việt Nam, đặc biệt là vấn đề xoá đói giảm nghèo
Báo cáo của Đại học Harvard: "Lựa chọn thành công bài học từ Đông
Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam", Đại học Harvard - Chương
trình Châu Á.2007 [30], đã phân tích những vấn đề tiềm ẩn nguy cơ xung đột
xã hội ở Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hóa, của các chính sách pháttriển thiếu hợp lý trong thời gian qua, đặt ra nguy cơ tái nghèo đói
- TS Trần Thị Hằng, Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Nxb Thông kê, H, 2001 [40]; TS Lê Xuân Bá (cùng tập thể tác giả), Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2001[1]; Vũ Ngọc Phùng, Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn
đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 1999 [69]; TS Đàm Hữu Đắc - TS Nguyễn Hải Hữu, Những định hướng chiến lược của chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010, Nxb Lao động Xã hội, H, 2004 [33]; Lê Hải Đường, Tăng cường vai trò và sự tham gia của người dân vào hoạt động xóa đói giảm nghèo, Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia xóa đói, giảm
nghèo, Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, H, 2001 [34]; LG Đức
Trang 4Quyết, Một số chính sách quốc gia về việc làm và xóa đói giảm nghèo, Nxb Lao động, H, 2002 [72]; Lê Thị Quế, Việt Nam qua hơn một thập niên xóa nghèo, Tạp
chí Nghiên cứu kinh tế, số 12- 2004 [71] đã cho thấy những quan điểm, yếu tốảnh hưởng đến công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Ngoài ra còn có tạp chí viết về đề tài xóa đói giảm nghèo như: TS Đàm
Hữu Đắc, Cuộc chiến chống đói nghèo ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp, Tạp
chí Lao động và Xã hội số 272 tháng 10 - 2005 [33]
Các tác giả đã phản ánh tổng quan về nghèo đói trên thế giới, đưa raphương pháp đánh giá về nghèo đói hiện nay, nghèo đói ở Việt Nam và nghiêncứu thực tiễn nghèo đói ở Việt Nam, qua đó nêu một số quan điểm, giải phápchung về xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
Thứ hai: Nhóm nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xóa
đói giảm nghèo ở các địa phương trong cả nước thời kỳ đổi mới, với các ấn phẩmtiêu biểu như:
- Nguyễn Thị Hằng, Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, 1997 [39] Tác giả đánh giá khá đầy đủ về thực trạng
nghèo đói ở Việt Nam và biện pháp xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Việt Namđến năm 2000 đã phân tích và đề ra giải pháp về vấn đề xóa đói giảm nghèo ởnông thôn Việt Nam
Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa, Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu nghèo vùng dân tộc miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia,
-H, 1999 [61]; Bùi Minh Đạo, Xóa đói giảm nghèo cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H, 2003 [32]; Lê Hải Đường, Xóa đói giảm nghèo, vấn đề và giải pháp ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Nxb Nông nghiệp,
H, 2004 [35] đề cập đến vấn đề xóa đói giảm nghèo ở các vùng dân tộc thiểu số,
đề gia các phương hướng giải quyết vấn đề xóa đói, giảm nghèo khu vực vùng sâuvùng xa ở nước ta
Trang 5- Lê Như Nhất, Đảng bộ tỉnh Kon Tum lãnh đạo xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
2007 [60] đề cập đến vấn đề xóa đói giảm nghèo ở các địa phương cụ thể
Có thể khẳng định, các công trình nghiên cứu về nghèo đói và xóa đói giảmnghèo các địa phương, các vùng miền ở Việt Nam là rất phong phú Kết quả củanhững công trình đã cung cấp những luận cứ khoa học, thực tiễn cho việc xây dựng,triển khai công tác xóa đói giảm nghèo trên toàn quốc và từng địa phương
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về nghèo đói và xóa đói giảm nghèođược công bố trong thời gian qua là rất phong phú Những kết quả nghiên cứu đãcung cấp các luận cứ khoa học, thực tiễn cho việc thực hiện công tác xóa đóigiảm nghèo và cung cấp nguồn tư liệu quý cho việc nghiên cứu vấn đề nghèo đói
và xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào đã công bốnghiên cứu trực tiếp, có hệ thống và chuyên sâu dưới góc độ Lịch sử Đảng Cộng
sản Việt Nam về đề tài: "Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo từ năm 2005 đến năm 2015"
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Đề tài nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái đối với côngtác xóa đói, giảm nghèo từ năm 2005 đến năm 2015 Trên cơ sở phân tíchthành tựu, hạn chế của việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo ở tỉnhYên Bái từ năm 2005 đến năm 2015, luận văn rút ra những kinh nghiệm gópphần nâng cao hiệu quả lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộtỉnh Yên Bái trong thời gian tới
Trang 6- Đánh giá kết quả quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách XĐGN củaĐảng bộ tỉnh Yên Bái từ năm 2005 đến năm 2015.
Nêu lên một số kinh nghiệm trong lãnh đạo thực hiện chính sáchXĐGN của Đảng bộ tỉnh Yên Bái từ năm 2005 đến năm 2015
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Yên Bái đề rachủ trương và tổ chức thực hiện công tác XĐGN ở địa phương từ năm 2005đến năm 2015
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo thực hiện chính sách
xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh
- Về thời gian: Từ năm 2005 đến năm 2015
5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu
Luận văn trình bày dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chínhsách xã hội, về nhiệm vụ cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thầncho nhân dân lao động trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận sử học mácxít, luận văn sử dụngphương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc phương pháp phân tích và tổng hợp
là chủ yếu Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp thống kê, so
sánh để thực hiện mục đích, nhiệm vụ đặt ra của luận văn.
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Luận văn trình bày một cách tương đối hệ thống và toàn diện quá trìnhĐảng bộ Tỉnh Yên Bái lãnh đạo thực hiện chính sách XĐGN từ năm 2005
Trang 7đến năm 2015 Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo chocác nhà hoạch định chính sách của địa phương liên quan đến vấn đề XĐGN.
Từ kết quả nghiên cứu, luận văn nêu lên một số kinh nghiệm bướcđầu góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo cho công tác XĐGN của Đảng
bộ tỉnh Yên Bái trong những năm tiếp theo
Luận văn là nguồn tài liệu phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứuthuộc chuyên ngành Lịch sử, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tình hìnhnhiệm vụ địa phương góp phần vào tổng kết thực tiễn 30 năm thực hiệnđường lối đổi mới của Đảng trong lĩnh vực XĐGN
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,nội dung của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Chương 1: Quá trình Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo thực hiện xóa đói,
giảm nghèo từ năm 2005 đến năm 2010
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm
nghèo theo hướng bền vững từ năm 2011 đến năm 2015
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 8Chương 1 QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010
1.1 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI VÀ THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO Ở YÊN BÁI TRƯỚC NĂM 2005
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đói nghèo và xóa đói, giảm nghèo
Tại Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực Châu Á - Thái BìnhDương do Ủy ban kinh tế - xã hội châu Á và Thái Bình Dương của Liên hợpQuốc (ESCAP) tổ chức vào tháng 9- 1993 đã tập trung bàn về khái niệm, cáctiêu chí đánh giá sự đói nghèo và các giải pháp về XĐGN tại khu vực Châu Á
- Thái Bình Dương, Hội nghị đã đưa ra khái niệm được nhiều quốc gia chấp
nhận và sử dụng trong những năm qua: Nghèo đói là tình trạng một bộ phận
dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mànhững nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh
tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương [38, tr.43].
Từ khái niệm này, người ta chia nghèo đói thành 2 loại: “nghèo tuyệt đối”
và “nghèo tương đối”
Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng
thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu (ăn, mặc, ở, nhu cầu văn hóa, y tế, giáo dục vàgiao tiếp) để duy trì cuộc sống
Nghèo tương đối: là tình trạng bộ phận dân cư có mức thu nhập dưới
mức trung bình của cộng đồng tại địa phương
Khái niệm nghèo tuyệt đối được sử dụng để so sánh mức độ nghèo khổgiữa các quốc gia Trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm quốc gia nghèo làđất nước có thu nhập bình quân đầu người rất thấp, nguồn lực hạn hẹp, cơ sở
hạ tầng và môi trường yếu kém, có vị trí không thuận lợi trong giao lưu vớicộng đồng quốc tế
Trang 9Trong đấu tranh chống nạn nghèo đói người ta dùng khái niệm “nghèotương đối”
Như vậy, nghèo đói là khái niệm mang tính tương đối cả về không gian
và thời gian
Từ định nghĩa của ESCAP, qua nhiều cuộc khảo sát nghiên cứu, cácnhà khoa học và quản lý ở các bộ ngành nước ta đã thống nhất khái niệm vềđói nghèo của Việt Nam là:
“Nghèo”: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn
một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng vớimức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện
“Đói”: là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới
mức tối thiểu, không bảo đảm nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống [56,tr.3]
Khái niệm đói cũng có hai dạng: “Đói kinh niên” và “đói cấp tính”
+ Đói kinh niên: Là bộ phận dân cư đói nhiều năm liền cho đến thời
điểm đang xét
+ Đói cấp tính (đói gay gắt): là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói
đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thờiđiểm đang xét
Xem xét quan niệm nghèo và đói cho thấy: đói là khái niệm dùng để
phân biệt mức độ rất nghèo của một bộ phận dân cư Giữa đói và nghèo cũng
có quan hệ mật thiết với nhau, nó phản ánh cấp độ và mức độ khác nhau,
"nghèo là một kiểu đói tiềm tàng và đói là một tình trạng hiển nhiên củanghèo"[47, tr.10]
Vùng nghèo, vệt nghèo: Là nơi có tr lệ nghèo cao hơn nhiều và mức
sống dân cư thấp hơn nhiều so với mức sống chung của cả nước, trong cùngmột thời điểm
Quốc gia nghèo: Là một đất nước có thu nhập trung bình rất thấp,
Trang 10nguồn lực (tài nguyên) cực kỳ hạn hẹp (về vật chất, lao động, tài chính) cơ sở
hạ thầng môi trường thấp kém, có vị trí không thuận lợi trong giao lưu vớicộng đồng quốc tế
Một số khái niệm khác như: Nghèo không gian, nghèo thời gian, nghèomôi trường, nghèo lứa tuổi, nghèo giới tất cả chỉ là xác định rõ hơn đặcđiểm, mức độ, nguyên nhân của các đối tượng nghèo và từ đó sẽ có nhữnggiải pháp thích hợp cho từng đối tượng nghèo khác nhau
Chuẩn nghèo (đường nghèo, ngưỡng nghèo, tiêu chí nghèo): Là công
cụ để phân biệt người nghèo và người không nghèo, đồng thời là công cụ để
đo lường, giám sát nghèo đói Hầu hết chuẩn nghèo dựa vào thu nhập hoặcchi tiêu Những người được coi là nghèo khi mức sống của họ đo qua thunhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn chuẩn nghèo Những người có mức thu nhậphoặc chi tiêu ở trên chuẩn này là người không nghèo hoặc đã vượt nghèo,thoát nghèo
Chính sách xoá đói, giảm nghèo: Là hệ thống các giải pháp và công
cụ xác định vai trò của Nhà nước, của các tổ chức trong xã hội trong việcphân phối hợp lý các hành động của mình để nâng cao mức sống cho ngườidân nghèo, tạo cho họ những cơ hội phát triển trong đời sống cộng đồng bằngchính lao động của bản thân
Khái niệm này được thâu tóm một cách cô đọng kinh nghiệm thực tiễngiảm bớt đói nghèo của các nước trong khu vực và trên thế giới, nó có ý nghĩa
tư vấn và chỉ đạo quá trình tìm kiếm con đường và cách thức xoá đói giảmnghèo ở Việt Nam
Xoá đói, giảm nghèo bền vững: Là một nội dung của phát triển bền
vững về mặt xã hội Phát triển bền vững về mặt xã hội thể hiện ở mức độ bảođảm dinh dưỡng, chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân; mọi người đều
có cơ hội được học hành; giảm tình trạng đói nghèo và hạn chế khoảng cáchgiàu nghèo giữa các tầng lớp và các nhóm xã hội, giảm các tệ nạn xã hội;
Trang 11nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên của
xã hội và giữa các thế hệ của một xã hội; duy trì và phát huy tính đa dạng vàbản sắc văn hoá dân tộc, không ngừng nâng cao trình độ văn minh của đờisống vật chất và tinh thần…
Xoá đói, giảm nghèo bền vững là một hệ thống các giải pháp và công cụđồng bộ xác định rõ vai trò của Nhà nước, của các tổ chức trong xã hội giúpngười dân vươn lên thoát khỏi cảnh nghèo đói mà không làm ảnh hưởng đếnmôi trường xung quanh, không bị nguy cơ tái đói nghèo đe doạ
Trên đây là những khái niệm có tính chất công cụ khi nghiên cứu về vấn
đề xóa đói, giảm nghèo
1.1.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến công tác xoá đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái
Trước tháng 8/1991, Yên Bái thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn, tại kỳ họp
thứ 9 (27/7-12/8/1991), Quốc hội khoá VIII quyết định tách tỉnh Hoàng LiênSơn thành 2 tỉnh Yên Bái và Lào Cai Tháng 9/1991, Ban Chấp hành Đảng bộlâm thời đã tiến hành Hội nghị thông báo Quyết định của Bộ chính trị về việcthành lập Đảng bộ lâm thời tỉnh Yên Bái Ngày 1/10/1991, tỉnh Yên Bái chínhthức đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính mới
Yên Bái là một tỉnh miền núi, nằm giữa vùng Tây Bắc và Đông Bắc,giữa miền trung du và thượng du của Bắc Việt Nam, chiều rộng từ Đông sangTây dài 120 km, từ Bắc xuống Nam dài 100 km Phía Bắc giáp tỉnh Lao Cai,phía Đông giáp hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang, phía Tây giáp tỉnh Sơn
La, Lai Châu, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ Yên Bái bao gồm 1 thành phố:Yên Bái, 1 thị xã: Nghĩa Lộ và 7 huyện: Yên Bình, Lục Yên, Văn Chấn, VănYên, Trấn Yên, Trạm Tấu, Mù Cang Chải; với tổng số 180 xã, phường, thịtrấn (159 xã và 21 phường, thị trấn); trong đó có 70 xã vùng cao và 62 xã đặcbiệt khó khăn được đầu tư theo các chương trình phát triển kinh tế - xã hộicủa Nhà nước, có 2 huyện vùng cao Trạm Tấu, Mù Cang Chải (đồng bào
Trang 12Mông chiếm trên 80%) nằm trong 61 huyện nghèo, đặc biệt khó khăn của cảnước Yên Bái là trung độ của các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt,đường thuỷ từ Hải Phòng, Hà Nội lên cửa khẩu Lào Cai, là một lợi thế trongviệc giao lưu với các tỉnh bạn, với các thị trường lớn trong và ngoài nước.Địa hình Yên Bái phức tạp, độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh bởi núi cao,sông, ngòi, khe suối; hướng cao dần từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc; độcao trung bình so với mặt nước biển là 600m Vùng cao có hai dãy núi lớn: PúLuông ở phía Tây và con Voi ở phía Đông Bắc, trong đó đỉnh Pú Luông cao2.985m Vùng thấp tập trung ở ven sông Hồng, sông Chảy và cánh đồngMường Lò, có nơi chỉ cao hơn mặt nước biển 26m (xã Minh Quân, huyệnTrấn Yên) Do địa hình như vậy, giao lưu mọi mặt giữa các vùng gặp nhiềutrở ngại, việc xây dựng hệ thống giao thông vận tải rất khó khăn, tốn kém, ảnhhưởng không nhỏ đến công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đối vớivùng cao, vùng sâu, vùng xa.
Theo số liệu thống kê năm 2015, tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là688.627,64 ha Trong đó diện tích nhóm đất nông nghiệp là 583.717,47 ha,chiếm 84,76% diện tích đất tự nhiên; diện tích nhóm đất phi nông nghiệp là51.713,13 ha chiếm 7,51%; diện tích đất chưa sử dụng là 53.197,04 ha chiếm7,71%; Diện tích đất có rừng toàn tỉnh Yên Bái đạt 406.230,8 ha Trong đó:
đất rừng tự nhiên 231.563,7ha, đất rừng trồng 174.667,1 ha Đất đai Yên Bái
màu mỡ, cùng với khí hậu thuận lợi rất thích hợp cho sinh trưởng, phát triểncủa các loại cây nhiệt đới, trong đó có những cây quan trọng như lúa, ngô,chè, quế, mía, nhãn, cam, bưởi Chè Suối Giàng, gạo nếp Tú Lệ, quế VănYên là những đặc sản nổi tiếng trong nước và quốc tế
Yên Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình
là 22 – 230C; (cao nhất từ 37-390C, thấp nhất từ 2-40C); tổng nhiệt độ trongnăm từ 7.500- 8.0000C lượng mưa trung bình 1.500 – 2.200 mm/năm; độ ẩmtrung bình 83 – 87%, thuận lợi cho việc phát triển nông – lâm nghiệp Dựa
Trang 13trên yếu tố địa hình khí hậu, có thể chia Yên Bái thành 5 tiểu vùng khí hậu.Tiểu vùng Mù Cang Chải với độ cao trung bình 900 m, nhiệt độ trung bình 18– 200C, có khi xuống dưới 00C về mùa đông, thích hợp phát triển các loạiđộng, thực vật vùng ôn đới Tiểu vùng Văn Chấn – nam Văn Chấn, độ caotrung bình 800 m, nhiệt độ trung bình 18 – 200C, phía Bắc là tiểu vùng mưanhiều, phía Nam là vùng mưa ít nhất tỉnh, thích hợp phát triển các loại động,thực vật á nhiệt đới, ôn đới Tiểu vùng Văn Chấn – Tú Lệ, độ cao trung bình
200 – 400 m, nhiệt độ trung bình 21 – 320C, thích hợp phát triển các loại câylương thực, thực phẩm, chè vùng thấp, vùng cao, cây ăn quả và cây lâmnghiệp Tiểu vùng nam Trấn Yên, Văn Yên, thành phố Yên Bái, Ba Khe, độcao trung bình 70 m, nhiệt độ trung bình 23 – 240C, là vùng mưa phùn nhiềunhất tỉnh, có điều kiện phát triển cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp,lâm nghiệp, cây ăn quả Tiểu vùng Lục Yên – Yên Bình độ cao trung bìnhdưới 300 m, nhiệt độ trung bình 20 – 230C, là vùng có mặt nước nhiều nhấttỉnh, có hồ Thác Bà rộng 19.050 ha, có điều kiện phát triển cây lương thực,thực phẩm, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, có tiềm năng du lịch
Yên Bái có tài nguyên thiên nhiên phong phú Dưới lòng đất có than ởHồng Quang (Lục Yên), Hoàng Thắng (Trấn Yên); quặng sắt ở Mỵ - HưngKhánh (Văn Chấn – Trấn Yên); vàng ở Xuân Ái (Văn Yên); bạc ở Tú Lệ(Văn Chấn); cao lanh ở thành phố Yên Bái; đá quý ở Lục Yên, Yên Bình.Rừng có nhiều loại động, thực vật quý như: về động vật có hổ, gấu, trăn ; vềthực vật có gỗ đinh, lim, sến, pơ mu Nhưng mấy thập kỷ trở lại đây do khaithác nhiều, lại thiếu quan tâm bảo vệ, phát triển cho nên rừng bị cạn kiệt, môitrường sinh thái bị phá hoại nặng nề; cuộc sống của con người nơi đây bị ảnhhưởng nghiêm trọng Ngoài ra, thiên nhiên còn ban tặng cho Yên Bái nhữnghang động, cảnh quan kỳ thú, muôn hình, muôn vẻ Hồ Thác Bà được coi là
“Hạ Long nổi trên lục địa” Đó là những điều kiện thuận lợi để du lịch trởthành ngành kinh tế quan trọng của Yên Bái
Trang 14Yên Bái là một tỉnh đa dân tộc, xen cư là chính và phân bố không đều.Tập trung ở vùng đô thị và các trung tâm chính trị, tiếp đến là các thung lũngsông, ven đường quốc lộ và các dải đồng bằng thuộc vùng thấp, thưa thớt ởvùng cao Năm 2015, tổng dân số toàn tỉnh là 792.010 người Mật độ dân sốbình là 114 người/km2, tập trung ở một số khu đô thị như thành phố Yên Bái,thị xã Nghĩa Lộ, và các thị trấn huyện lỵ Theo số liệu điều tra, trong số trên
30 dân tộc sinh sống địa bàn tỉnh Yên Bái có 07 dân tộc có dân số hơn 10.000người; 02 dân tộc có từ 2.000 - 5.000 người; 03 dân tộc có từ 500 - 2.000người Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 46,3%, Tày chiếm 18,3%, Dao chiếm11,3%, H’Mông chiếm 11,1%, Thái chiếm 7,2%, người Cao Lan chiếm 1%,;còn lại là các dân tộc khác [67, tr.5] Cộng đồng các dân tộc trong tỉnh vớinhững truyền thống và bản sắc riêng đã hình thành nên một nền văn hóa rất đadạng và phong phú, độc đáo
Theo số liệu thống kê, năm 2015 số người trong độ tuổi lao động ở YênBái là 503,549 người Trong đó, nữ chiếm 50,35%, dân số thành thị là 94,341người, chiếm 18,74% Trình độ lao động nhìn chung còn thấp, lao động cótrình độ đại học ít chiếm khoảng 4,5% Phấn đấu hàng năm có 50% công chức
sự nghiệp được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng,phương pháp thực hiện công vụ và 20% cán bộ cơ sở cấp xã được đào tạo.Hàng năm, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) đềukhảo sát, bổ sung danh mục nghề đào tạo, nhu cầu sử dụng lao động củadoanh nghiệp và năng lực đào tạo của cơ sở dạy nghề để xây dựng kế hoạchphù hợp, sát thực tế với nhu cầu học nghề của từng địa phương Từ năm 2010đến năm 2015, toàn tỉnh đã đào tạo nghề cho trên 60 ngàn người, trong đó cótrên 31 ngàn lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề theo chính sách của Đề
án 1956, đã có trên 70% lao động có việc làm sau học nghề Hoạt động dạynghề đã đóng góp quan trọng trong nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của
Trang 15tỉnh, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh đạt 45%, trong đó, tỷ lệ lao động quađào tạo nghề đạt 30% [67, tr.7].
Trong những năm đầu thế kỷ XXI, kinh tế Yên Bái đạt được nhiều kếtquả quan trọng Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷtrọng nông nghiệp (giảm được 1,23%), tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ(tăng 0,4% và 0,84%) Tổng sản phẩm xã hội (GDP) theo giá so sánh 2010 đạthơn 13.874 tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2013, đứng thứ 6/12 tỉnh vùng TâyBắc Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 11,07%, tăng 0,56% so với năm 2013,đứng thứ 3 trong vùng (năm 2013 đứng thứ 4) GDP bình quân đầu người đạt25,07 triệu đồng, tăng 15% so với năm 2013, đứng thứ 4 so với các tỉnh trongvùng (năm 2013 đứng thứ 3)
Bên cạnh những kết quả tích cực nói trên, kinh tế Yên Bái còn nhữnghạn chế Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) chưa được cải thiện nhiều(PCI năm 2013 của tỉnh xếp thứ 59/63 tỉnh thành) Phần lớn doanh nghiệp củatỉnh quy mô nhỏ về nhiều mặt, năng lực quản lý và thích ứng với cơ chế thịtrường hạn chế nên khó tạo ra những khâu đột phá trong phát triển kinh tế
Nhân dân Yên Bái chủ yếu sống dựa vào canh tác nông nghiệp (ruộngbậc thang, nương rẫy một vụ) tự cấp, tự túc; tỷ lệ rất nhỏ sống bằng nghề khaithác lâm sản; đồng bào dân tộc thiếu số vùng sâu, vùng xa sống chủ yếu dựavào thiên nhiên, đốt nương làm rẫy, thiếu nước sản xuất và sinh hoạt; các hủtục lạc hậu vẫn còn tồn tại khá phổ biến, kìm hãm sự phát triển cả về kinh tế,văn hóa, xã hội; tỷ lệ đói nghèo cao; các hoạt động lợi dụng tôn giáo, dân tộcdiễn biến phức tạp là nguy cơ tiềm ẩn gây bất ổn về kinh tế - xã hội và anninh chính trị
Yên Bái là cửa ngõ tiến sâu vào miền Tây Bắc nước ta, với hệ thốngđường bộ, đường thuỷ, đường sắt rất thuận lợi Tuyến đường sắt Hà Nội –Yên Bái – Lào Cai đến Hồ Kiều, thị trấn Hà Khẩu, tỉnh Vân Nam, TrungQuốc dài 300km, trong đó có 88 km nằm trên địa bàn Yên Bái Đây là tuyến
Trang 16đường sắt liên vận quốc tế nối liền Thủ phủ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) vớiThủ đô Hà Nội và cảng Hải Phòng Về đường thuỷ, với hệ thống sông, ngòikhá dày đặc với hai trục sông lớn: Sông Hồng và sông Chảy, cho phép nốiliền các vùng miền trong tỉnh Từ Yên Bái ngược dòng sông Hồng đến đượcLào Cai, cửa khẩu Hồ Kiều (Trung Quốc), cũng từ Yên Bái xuôi theo dòngsông Hồng về đến Hà Nội, tới cảng Hải Phòng Về đường bộ, với hệ thốngcầu, đường được xây dựng cân đối, hợp lý Ba quốc lộ trọng yếu là 37, 70, 32với chiều dài 353km Đặc biệt, tuyến đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai rấtthuận lợi cho giao thông trong tỉnh với các vùng miền trong cả nước Ngoài
ra, có 144 km đường liên tỉnh và 1.247km đường liên huyện và liên xã Hiệntại đã có đường ô tô đến tất cả các xã trong tỉnh Tỉnh đang tiếp tục hoànthiện, mở mới các tuyến đường xuống trung tâm xã, cụm xã ở các huyện vùngcao và các con đường vào các vùng kinh tế của tỉnh
Những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội của Yên Bái nóitrên tác động sâu sắc tới sự phát triển kinh tế, điều kiện cơ bản để XĐGN vàgiảm nghèo bền vững của Đảng bộ tỉnh Yên Bái
Những thuận lợi:
- Với vị trí địa lý là cửa ngõ miền Tây Bắc của Tổ quốc đã tạo cho YênBái lợi thế quan trọng trong phát triển kinh tế, giao lưu, trao đổi hàng hóa, mởrộng thị trường Đây là điều kiện quan trọng để người dân phát triển hànghóa, nâng cao thu nhập
- Với cấu tạo địa hình độc đáo cùng kho tàng văn hóa phong phú củacộng đồng đa dân tộc phù hợp cho phát triển du lịch, tạo thêm sinh kế chongười dân bản địa trong phục vụ du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng
- Điều kiện tự nhiên nhiều sông suối, địa hình dốc là tiềm năng lớncho phát triển thủy điện, thủy lợi phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xãhội của tỉnh
Trang 17- Nguồn nhân lực rẻ, dồi dào,cần cù chịu khó trong lao động sản xuất, giánhân công thấp.
Những điều kiện thuận lợi trên đã tạo điều kiện cho Yên Bái tiềm nănglớn để đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần tíchcực vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Yên Bái nếu như cónhững chính sách phù hợp
- Kết cấu hạ tầng kém, mạng lưới giao thông, điện nước thông tin liên lạccòn chưa đồng bộ nên mức tiếp cận dịch vụ công cộng của đồng bào dân tộcthiểu số, các hộ nghèo ở vùng sâu, vùng xa so với người dân ở thành thị trước
đã có khoảng cách nay khoảng cách lại còn xa hơn
- Cơ cấu dân số phân bố không đều, chủ yếu ở nông thôn, miền núi, cáckhu vực có điều kiện sống khó khăn, có nhiều dân tộc thiểu số Cùng vớiđồng bào dân tộc thiểu số là tập tục tập quán lạc hậu gây cản trở tới quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội, làm cho mức nghèo đói ở Yên Bái ngày càng phứctạp hơn và công việc xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn Tỉnh ngày càng trở nênkhó khăn hơn
Những khó khăn này gây cản trở tới sự lãnh đạo của các cấp ủyđảng đối với công tác xóa đói, giảm nghèo ở Yên Bái, vì vậy cần phảitìm ra các biện pháp thích hợp để thực hiện có hiệu quả công tác xóa đói,giảm nghèo của Tỉnh
Trang 181.1.3 Thực trạng công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Yên Bái trước năm 2005
Đảng bộ tỉnh Yên Bái, tiền thân là Ban Cán sự Đảng liên tỉnh Phú Yên Bái được thành lập ngày 30/6/1945 tại xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa,tỉnh Phú Thọ
Thọ-Đến ngày 31/12/2015, Đảng bộ tỉnh Yên Bái có 13 đảng bộ trực thuộc;
579 tổ chức cơ sở đảng (gồm 139 đảng bộ; 260 chi bộ cơ sở); 3.270 chi bộtrực thuộc đảng ủy cơ sở; 50.596 đảng viên; 100% thôn, bản, tổ dân phố trongtoàn tỉnh có chi bộ Số tổ chức cơ sở đảng trong từng loại hình gồm: 180 đảng
bộ xã, phường, thị trấn; 159 đảng bộ, chi bộ cơ quan hành chính; 95 đảng bộ,chị bộ đơn vị sự nghiệp; 55 đảng bộ, chi bộ doanh nghiệp Nhà nước; 5 đảng
bộ doanh nghiệp cổ phần có vốn Nhà nước; 37 đảng bộ, chi bộ doanh nghiệp
tư nhân; 37 đảng bộ, chi bộ Công an và 15 đảng bộ Quân sự
Năm năm đầu thế kỷ XXI, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, nhân dânYên Bái đã giành được nhiều thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, đồng thờitrong lĩnh vực xoá đói, giảm nghèo cũng đã thu được nhiều kết quả tích cực:Tổng nguồn lực huy động đạt trên 600 tỷ đồng để triển khai các chính sách,
dự án hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo của tỉnh Trong đó: có46,73% là vốn tín dụng ưu đãi, còn lại vốn đầu tư cơ sở hạ tầng và chi cho cáchoạt động hỗ trợ người nghèo về y tế, giáo dục, an sinh xã hội… Trong 5năm, đã có 569.617 lượt người nghèo được khám, chữa bệnh miễn phí với sốtiền 25,5 tỷ đồng; gần 390.000 lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí,cấp học bổng, sách giáo khoa, đồ dùng học tập với kinh phí 36,2 tỷ đồng;đồng bào dân tộc vùng đặc biệt khó khăn được hỗ trợ tiền mua sắm công cụsản xuất, trâu bò cày kéo, giống cây lương thực với số tiền 3 tỷ đồng; thựchiện chính sách an sinh xã hội đối với người già cô đơn, trẻ mồ côi, người tàntật nghèo, cứu đói giáp hạt với số tiền trên 11 tỷ đồng; huy động được trên 46
tỷ đồng để hỗ trợ hộ nghèo về giống cây lương thực, giống sắn cao sản, trồng
Trang 19chè, cây công nghiệp, chế biến sản phẩm sau thu hoạch; sửa chữa, làm mớiđược 4.454 căn nhà cho hộ chính sách, hộ nghèo với tổng kinh phí thực hiệntrên 27 tỷ đồng; hỗ trợ gần 70 tỷ đồng để trợ giá các mặt hàng thiết yếu, trợcước vận chuyển, cấp không thu tiền một số mặt hàng phục vụ đời sống vàsản xuất cho 34.315 lượt hộ, 192.541 khẩu nghèo ở vùng cao Thông qua hệthống ngân hàng phục vụ người nghèo (nay là Ngân hàng Chính sách Xãhội), từ năm 2001 đến nay, tổng nguồn vốn huy động cho vay ngườinghèo đạt trên 281 tỷ đồng, đã có 83.484 lượt hộ nghèo và cận nghèođược vay vốn đầu tư sản xuất, phát triển kinh tế hộ gia đình; tổ chức trên1.800 lớp tập huấn hướng dẫn cách làm ăn, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi,thuỷ sản, lâm nghiệp với trên 77.329 lượt nông dân nghèo tham gia Xâydựng được 100 mô hình với 212 điểm trình diễn tại các thôn, bản trongtoàn tỉnh
Trong 5 năm (2001 – 2005), Yên Bái đã bố trí 77,32 tỷ đồng đầu tư xâydựng các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã nghèo ngoài vùng 135,như: Xây dựng trường học, trạm xá, nước sạch, thủy lợi Những công trìnhnày đã phát huy được hiệu quả, góp phần tạo cơ hội cho hộ nghèo tăng gia sảnxuất, tiếp cận đầy đủ hơn với các dịch vụ xã hội cơ bản
Lồng ghép Chương trình 135 và các chương trình phát triển kinh tế - xãhội của tỉnh vào thực hiện mục tiêu giảm nghèo: Tổng số vốn đầu tư đạt 233,6
tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng, trung tâm cụm xã, ổn định phát triển sảnxuất, bố trí sắp xếp và ổn định dân cư ở vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn.Thông qua triển khai thực hiện Chương trình 135, đã tập trung xây dựng mới,nâng cấp, tu sửa các hệ thống giao thông, thuỷ lợi, cơ sở chế biến nông - lâmsản, mạng lưới điện sinh hoạt, điện thoại, trường học, trạm xá và các côngtrình phúc lợi xã hội khác làm thay đổi cơ bản hệ thống hạ tầng cơ sở kinh tế
xã hội nông thôn vùng cao, phục vụ tích cực cho sản xuất và đời sống của cácdân tộc thiểu số
Trang 20Từ năm 2001 đến năm 2005, toàn tỉnh đã có 17.114 hộ vượt nghèo, tỷ
lệ hộ nghèo giảm từ 19,29% (cuối năm 2000) xuống còn 6,95% (theo chuẩncũ), trong đó nhiều xã đặc biệt khó khăn như: Làng Nhì, Tà Xi Láng (huyệnTrạm Tấu); Zế Xu Phình, Chế Tạo (huyện Mù Cang Chải) đã giảm tỷ lệ hộnghèo trung bình từ trên 50% xuống còn khoảng 20%; không còn hộ đói lưuniên ở vùng cao, kết quả cụ thể của từng năm như sau:
- Năm 2001 giảm 3.412 hộ nghèo, tỉ lệ hộ nghèo còn 16,9%
- Năm 2002 giảm 2.945 hộ nghèo, tỉ lệ hộ nghèo còn 14,9%
- Năm 2003 giảm 3.903 hộ nghèo, tỉ lệ hộ nghèo còn 11,8%
- Năm 2004 giảm 4.058 hộ nghèo, tỉ lệ hộ nghèo còn 9%
- Năm 2005 giảm 2.796 hộ nghèo, tỉ lệ hộ nghèo còn 6,95% [45,tr2,3]Tình trạng nghèo của tỉnh Yên Bái bắt nguồn từ nhiều nguyên nhânkhác nhau Qua khảo sát cho thấy: thiếu vốn, thiếu đất canh tác, thiếu kinhnghiệm sản xuất làm ăn, năng suất cây trồng, vật nuôi thấp…là nguyên nhântrực tiếp dẫn đến đói nghèo Theo số liệu thống kê năm 2004 cho thấy cácnguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở Yên Bái cụ thể như sau:
- Do không biết cách làm ăn chiếm 75%;
- Thiếu vốn sản xuất chiếm 65,7%;
- Thiếu đất canh tác chiếm 27,3%;
- Thiếu lao động chiếm 17,3%;
- Các nguyên nhân khác chiếm 15% [88, tr.6]
Kinh tế sản xuất hàng hóa chưa phát triển là nguyên nhân sâu xa gâykhó khăn cho việc chuyển đổi cơ cấu lao động việc làm Sự mở mang, đadạng hóa ngành nghề còn chậm, chưa đồng đều ở các vùng Một số địaphương, cơ sở không có truyền thống làm nghề; sự năng động và chủ độngtạo ra ngành nghề mới của cán bộ có trách nhiệm chưa cao Nơi nào sựchuyển đổi cơ cấu lao động, việc làm còn mang nặng tính tự phát thì nơi đóđói nghèo thể hiện rõ Trong số các hộ nghèo, một số hộ do sức khỏe kém, tàn
Trang 21tật, già yếu, thiếu lao động, họ thuộc nhóm “khó thoát nghèo” Một số do mắccác tệ nạn xã hội như: cờ bạc, rượu chè, nghiện hút… Một số khác lười biếngkhông chịu làm ăn Sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên như: hạn hán, cháyrừng, lũ quét, sạt lở đất cũng là những nhân tố tác động đến sự nghèo hóangười dân Hơn nữa, sự suy kiệt của tài nguyên rừng, đất rừng, mặt nước… lànhững nhân tố trực tiếp dẫn đến đói nghèo, nhất là đối với bộ phận dân cư cónguồn sống chủ yếu dựa vào tài nguyên rừng Những phong tục, tập quán,thói quen lạc hậu cũng gây ảnh hưởng đến đói nghèo ở một bộ phận dân cư.
Do tập quán lâu đời về canh tác, về quan niệm, nên bản thân người dân tự hàilòng với cuộc sống nghèo đói của họ Ngoài ra, tư tưởng trông chờ, ỷ lại vàoNhà nước của một số hộ nghèo, không muốn thoát nghèo để được hưởng chế
đa thiếu đói giáp vụ; bộ mặt nông thôn miền núi đã có nhiều đổi thay, cơ sở hạtầng và phúc lợi xã hội như trường học, bệnh viện, đường giao thông, thuỷ lợi…được cải thiện đáng kể
Theo kết quả điều tra xác định hộ nghèo theo chuẩn mới vào tháng7/2005, tỉnh Yên Bái có 54.143 hộ nghèo, ở 63 xã nghèo thuộc 9 huyện (xemphụ lục 3) chiếm tỷ lệ 34,71 % Cụ thể:
- Huyện Mù Cang Chải: 5.130 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 75,83%
- Huyện Trạm Tấu có: 2.601 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 70,93%
- Huyện Lục Yên có: 9.917 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 47,69%
- Huyện Văn Chấn có: 12.732 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 41,96%
Trang 22- Huyện Văn Yên có: 7.708 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 32,76%
- Thị xã Nghĩa Lộ có: 1.928 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 31,74%
- Huyện Yên Bình có: 6.675 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 30,83%
- Huyện Trấn Yên có: 5.892 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 24,98%
- Thành phố Yên Bái có: 1.560 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 7,97%Qua điều tra cho thấy, những nguyên nhân cơ bản dẫn đến đói nghèo ởYên Bái như sau:
- Thiếu vốn: 21.664/54.143 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 40,01%
- Thiếu kinh nghiệm làm ăn: 13.478/54.143 hộ nghèo, tỷ lệ 24,89%
- Do ốm đau: 51.17/54.143 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 9,45%
- Thiếu lao động: 3.240/54.143 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 5,98%
- Thiếu đất sản xuất : 2.878/54.143 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 5,31%
- Có đông người ăn theo: 2.658/54.143 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 4,90%
- Mắc tệ nạn xã hội: 680/54.143 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 1,25%
- Các nguyên nhân khác: 4.127/54.143 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 7,62%
Từ số liệu trên cho thấy tình trạng đói nghèo ở Yên Bái giai đoạn
2001-2005 có những đặc điểm sau:
- Sự chênh lệch về thu nhập giữa các vùng, miền tiếp tục gia tăng, quakết quả điều tra tỷ lệ hộ có thu nhập thấp ở vùng nông thôn gấp hơn 4 lần tỷ lệ
hộ có thu nhập thấp ở thành thị, đặc biệt chênh lệch tỷ lệ hộ có thu nhập thấp
ở vùng cao đặc biệt khó khăn gấp 13 lần so với vùng nông thôn thành phốYên Bái
- Tỷ lệ hộ nghèo Yên Bái ở mức 34,71 %, trong đó tỷ lệ hộ nghèothành thị là 9,08% còn ở nông thôn là 42,24%; nhiều huyện có tỷ lệ nghèo đặcbiệt cao như: Mù Cang Chải 75,83%, Trạm Tấu 70,93 %, Văn Chấn 41,96 %[84,tr 6, tr 8] Hai huyện Mù Cang Chải và Trạm Tấu có tỉ lệ hộ nghèo caonhất, cũng là 2 trên 61 huyện nghèo của cả nước Đây là 2 huyện có tỷ lệngười Mông chiếm gần 90%
Trang 23Bên cạnh những kết quả tích cực nói trên, công tác xóa đói, giảm nghèocủa Đảng bộ tỉnh Yên Bái trước năm 2005 vẫn còn những hạn chế:
Nguồn lực bố trí cho Chương trình Xoá đói, Giảm nghèo - Việc làmhạn hẹp, phân tán; năng lực quản lý, điều hành Chương trình của cán bộ thônbản, xã phường kém
Một số mô hình xoá, đói giảm nghèo có kết quả tốt, hiệu quả cao nhưngchậm được đầu tư nhân rộng như: Mô hình lúa chất lượng cao, mô hình đỗtương xuân, mô hình trồng cỏ voi để chăn nuôi trâu, bò…
Những hạn chế nói trên bắt nguồn từ các nguyên nhân khách quan vàchủ quan như sau:
Nguyên nhân chủ quan do bản thân và gia đình người nghèo
Nguyên nhân các hộ nghèo đói ở Yên Bái là do thiếu vốn sản xuất Dođiểm xuất phát thấp, hộ nghèo có ít vốn, tài sản chủ yếu là sức lao động củacác thành viên trong gia đình nên họ không có nguồn lực để đầu tư phát triểnsản xuất, đời sống bấp bênh, hầu như không có tài sản đáng giá
Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định Sự hạn hẹp vềnguồn tài chính là yếu tố cản trở việc đào tạo nâng cao trình độ của người nghèo
Vì vậy người nghèo thường có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việclàm tốt, ổn định Mức thu nhấp của họ hầu như chỉ bảo đảm nhu cầu tối thiểu dovậy không có điều kiện để nâng cao trình độ, để thoát khỏi cảnh nghèo Trình độhọc vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ,nuôi dưỡng con cái
Người nghèo không có đủ điều kiện tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo
vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp Người nghèo và các đối tượng có hoàn cảnhkhó khăn thường có trình độ học vấn thấp nên không có khả năng tự giải quyếtcác vấn đề vướng mắc có liên quan đến pháp luật Nhiều chính sách, văn bảnpháp luật có cơ chế thực hiện phức tạp, người nghèo khó nắm bắt; mạng lưới cácdịch vụ pháp lý đến được với người nghèo hạn chế
Trang 24Quy mô hộ gia đình “đông con” có ảnh hưởng đến mức thu nhập bìnhquân của các thành viên trong hộ Đông con vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quảcủa nghèo đói Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao Đông con làmột trong những đặc điểm của các hộ gia đình nghèo
Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở cửa, đói nghèo ở nông thôn và
đô thị còn đi liền với gia tăng các tệ nạn xã hội Các hộ gia đình nghèo rất dễtổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và những biến động bất thườngxảy ra đối với họ và gia đình hay cộng đồng Do nguồn thu nhập thấp, bấpbênh, khả năng tích lũy kém nên họ khó có khả năng chống chọi với nhữngbiến cố xảy ra trong cuộc sống như: Mất mùa, mất việc làm, thiên tai, mất sứckhỏe, mất nguồn lao động
Nguyên nhân khách quan tác động từ điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương
Một là, việc xác định hộ nghèo ở giai đoạn 2001 - 2005 với chuẩn thu
nhập bình quân đầu người một tháng dưới 150 nghìn đồng ở khu vực thànhthị và dưới 80 nghìn đồng ở khu vực nông thôn đã loại bỏ đáng kể những hộcận nghèo (những hộ này có mức thu nhập không cao, nằm ngay bên trênchuẩn nghèo), những hộ cận nghèo này không được hưởng lợi các chính sách,
dự án của Chương trình Xoá đói, Giảm nghèo - Việc làm nên gặp không ít
khó khăn trong đời sống và sản xuất
Hai là, những hộ thoát nghèo nhưng với thu nhập nâng lên không đáng
kể Việc làm và thu nhập không ổn định nên cũng rất dễ tái nghèo khi gặp rủi
ro trong sản xuất và cuộc sống
Ba là, một số chính sách, cơ chế xóa đói giảm nghèo ở tỉnh chưa đồng
bộ, cụ thể, có một số chính sách chưa đến được một bộ phận người nghèo;việc điều hành kế hoạch và lồng ghép các chương trình kinh tế - xã hội vớixóa đói giảm nghèo còn lúng túng và ở một số nơi còn kém hiệu quả
Trang 25Hộ nghèo được hưởng lợi các chính sách, dự án của Nhà nước chủ yếutheo hình thức hỗ trợ "cho không", ít có sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa
vụ đóng góp với cộng đồng và xã hội, vì vậy đã tạo ra tư tưởng ỷ lại vào Nhànước ở một bộ phận hộ nghèo
Các chính sách, dự án thuộc Chương trình Xoá đói, Giảm nghèo - Việclàm được thực hiện thông qua các cán bộ cấp xã và trưởng thôn bản, nhưnglực lượng này phần lớn chưa được đào tạo kỹ năng thực hiện công tác xoá đóigiảm nghèo một cách hệ thống, lại thường xuyên thay đổi cán bộ, do vậy làmảnh hưởng nhiều đến tiến độ, hiệu quả của công tác xoá đói giảm nghèo
Bốn là, năm 2005, thiên tai liên tiếp (cơn bão số 6, số 7) xảy ra tại các
địa phương trong tỉnh đã gây hậu quả nặng nề trên diện rộng, làm thiệt hại vềcon người, cơ sở hạ tầng, của cải vật chất của nhân dân, tạo nên đói giáp hạt ởphần lớn các xã vùng cao khó khăn
Năm là, nhận thức trách nhiệm, việc thực hiện công tác XĐGN của cấp
uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể chưa sâu sắc và toàn diện Đầu tư cho đào tạocán bộ chuyên trách còn rất hạn chế, chủ yếu cán bộ kiêm nhiệm Mặt khác,công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện XĐGN đạt chưa cao nên hạnchế rất nhiều đến việc thực hiện các mục tiêu XĐGN
Những nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp nói trên đan xen vào nhau
và tác động lẫn nhau tạo thành “cái bẫy” của sự nghèo khổ
1.2 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 2005-2010
1.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xóa đói, giảm nghèo
Chủ trương, chính sách XĐGN của Đảng và Nhà nước ta dựa trên lýluận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giảiphóng con người khỏi bị áp bức bất công, thực hiện công bằng xã hội Chủnghĩa xã hội là quá trình kiến tạo hạnh phúc và đấu tranh cho công bằng, thựchiện công bằng xã hội XĐGN là điều kiện tiền đề để giữ vững ổn định chính
Trang 26trị và đảm bảo cho công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa Vìvậy, trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước coi XĐGN là một chủtrương lớn, là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước.
Sau 15 năm đổi mới, đất nước bước vào thế kỷ XXI với những thời cơ
và thách thức mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng4/2001) chủ trương phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa Về nhiệm vụ XĐGN, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hànhTrung ương khóa VIII trình Đại hội IX của Đảng nêu rõ:
Thực hiện chương trình xoá đói, giảm nghèo thông quanhững biện pháp cụ thể, sát với tình hình từng địa phương,sớm đạt mục tiêu không còn hộ đói, giảm mạnh các hộnghèo Tiếp tục tăng tổng nguồn vốn xoá đói, giảm nghèo,
mở rộng các hình thức tín dụng trợ giúp người nghèo sảnxuất, kinh doanh Có chính sách trợ giá nông sản, phát triểnviệc làm và nghề phụ nhằm tăng thu nhập của các hộ nôngdân Thực hiện các chính sách xã hội bảo đảm an toàn cuộcsống mọi thành viên cộng đồng, bao gồm bảo hiểm xã hội đốivới người lao động thuộc các thành phần kinh tế, cứu trợ xãhội những người gặp rủi ro, bất hạnh [23, tr.106]
Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 được Đại hội
thông qua, công tác XĐGN của Đảng được xác định bằng những nhiệm vụnhư sau:
Bằng nguồn lực của Nhà nước và của toàn xã hội, tăng cườngđầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cho vay vốn, trợ giúp đạonghề, cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ, giúp đỡtiêu thị sản phẩm đối với những vùng nghèo, xã nghèo và
Trang 27nhóm dân cư nghèo Chủ động di dời một bộ phận nhân dânkhông có đất canh tác và điều kiện sản xuất đến lập nghiệp ởnhững vùng còn tiềm năng Nhà nước tạo môi trường thuậnlợi, khuyến khích mọi người dân vươn lên làm giàu chínhđáng và giúp đỡ người nghèo Thực hiện trợ cấp xã hội đốivới những người có hoàn cảnh đặc biệt không thể tự laođộng, không có người bảo trợ, nuôi dưỡng.
Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo,Thường xuyên củng cố thành quả xóa đói, giảm nghèo [23,tr.211-212]
Đại hội đề ra Phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005 Trong phần định hướng phát triển các lĩnh vực xã hội,
công tác XĐNG được xác định cụ thể như sau:
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói, giảm nghèo Quan tâm xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng
nghèo, xã nghèo; đồng thời nâng cấp, cải tạo các tuyến trụcgiao thông nối vùng nghèo, xã nghèo với các trung tâm củanhững vùng khác, nhằm tạo thêm điều kiện thuận lợi cho vùngnghèo vùng khó khăn để phát triển Đi đôi với việc xây dựngkết cấu hạ tầng, phải rất coi trọng việc tạo ra nguồn lực cầnthiết để dân cư ở các vùng nghèo, xã nghèo đẩy mạnh sảnxuất, phát triển ngành nghề, tăng thu nhập Phấn đấu đến năm
2005 về cơ bản không còn hộ đói và chỉ còn khoảng 10% số hộthuộc diện nghèo [23, tr.299]
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX về công tác XĐGN, đếncuối năm 2005, tỉ lệ hội nghèo còn 7% (kế hoạch là 10%, theo chuẩn ViệtNam giai đoạn 2001 – 2005), Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã
về đích trước 10 năm so với mục tiêu XĐGN trong thực hiện Mục tiêu Thiên
Trang 28niên kỷ [24, tr.157] Nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác XĐGN, Đại hội đạibiểu toàn quốc của Đảng lần thứ X (tháng 4/2006), tiếp tục khẳng định:
Khuyến khích mọi người làm giàu theo luật pháp, thực hiện
có hiệu quả chính sách xóa đói, giảm nghèo Tạo điều kiện và
cơ hội tiếp cận bình đẳng các nguồn lực phát triển, hưởng thụcác dịch vụ xã hội cơ bản, vươn lên thoát đói nghèo vữngchắc ở các vùng nghèo và các bộ phân dân cư nghèo Khắcphục tư tưởng bao cấp, ỷ lại [24, tr.101]
Để thực hiện chủ trương trên, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khóa IX về Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm2006-2010 tại Đại hội X đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm tiếp tục đẩy mạnhcông tác xoá đói, giảm nghèo như sau:
Đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức thực hiện xoáđói, giảm nghèo theo hướng phát huy cao độ nội lực và kếthợp sử dụng có hiệu quả sự trợ giúp của quốc tế Nhà nướctập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội vàtrợ giúp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để ngườinghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cảithiện mức sống một cách bền vững; kết hợp chính sách củaNhà nước với sự giúp đỡ trực tiếp và có hiệu quả của toàn xãhội, của những người khá giả cho người nghèo, hộ nghèo,nhất là đối với những vùng đặc biệt khó khăn Ngăn chặn tìnhtrạng tái nghèo
Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách đặc biệt về trợ giúpđầu tư phát triển sản xuất, nhất là đất ở, nhà ở, nước sạch, đàotạo nghề, đào tạo việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu sốnghèo Có chính sách khuyến khích mạnh các doanh nghiệp,trước hết là doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ giàu đầu tư vốn
Trang 29phát triển sản xuất ở nông thôn vùng núi Phát huy vai trò củaMặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân thamgia công cuộc xóa đói, giảm nghèo [24, tr.217].
Với các định hướng trên, Đại hội đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm
2010 giảm tỷ lệ hộ nghèo từ khoảng 22% xuống còn 10-11% (theo chuẩnmới) [24, tr.189]
Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội X, Chính phủ ban hành Quyết định số
164/2006/QĐ-TTg ngày 11/7/2006 về việc phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2010 Chương trình này nhằm mục tiêu tăng nhanh đời
sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở các xã đặc biệt khó khănmiền núi và vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng nàythoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hoà nhập vào sựphát triển chung của cả nước, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, anninh quốc phòng
Nhìn chung, cho đến thời điểm này, chủ trương, quan điểm và chínhsách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta đã định hình trên nhữngquan điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, xóa đói, giảm nghèo là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, của toàn
xã hội và của chính người nghèo Xóa đói, giảm nghèo theo phương châm xã hội hoá, kết hợp sức mạnh của Nhà nước, cộng đồng và bản thân mỗi người.
Thứ hai, xóa đói, giảm nghèo phải được giải quyết trong tổng thể chiến lược phát triển của đất nước Kết hợp hài hoá giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ngay từ đầu và trong suốt quá trình phát triển, ngay trong từng giai đoạn phát triển
Thứ ba, xóa đói, giảm nghèo là vấn đề kinh tế - xã hội sâu rộng cho nên mọi lúc, mọi nơi đều phải thống nhất chính sách kinh tế với các chính sách xã
Trang 30hội, điều đó được thể hiện trước hết ở việc ưu tiên các xã nghèo, đặc biệt là
các xã vùng cao, biên giới, hải đảo,… Tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo cókhả năng tiếp cận tối đa các nguồn lực, dịch vụ công cộng làm cho ngườinghèo nâng cao mức sống thoát khỏi cảnh nghèo, đói
Thứ tư, thực hiện XĐGN gắn với khuyến khích làm giàu chính đang, thường xuyên củng cố thành quả XĐGN Thực hiện chủ trương XĐGN không
triệt tiêu động lực làm giàu, ở vùng nghèo có người giàu càng cổ vũ, hỗ trợngười nghèo vươn lên XĐGN Làm giàu chính đáng bằng tài năng, học vấn,khoa học, kinh tế, sản xuất kinh doanh trên nền tảng đạo đức và pháp luật, từ
đó mới có điều kiện giúp đỡ người nghèo, nhất là giải quyết việc làm, nângcao đời sống
Thứ năm, xoá đói, giảm nghèo gắn với sự phát triển kinh tế bằng sự chủ động, tự lực vươn lên của người nghèo, cộng đồng, các ngành, các cấp
và Nhà nước cùng tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế.
Trước hết là làm cho người nghèo, vùng nghèo không ỷ lại, thụ độngchờ cứu giúp mà phải tự cứu mình, vươn lên bằng chính sức lao động củamình, khai thác đất đai, tài nguyên thiên nhiên và đổi mới cung cách làm ăn,đồng thời nhờ sự hỗ trợ của cộng đồng và Nhà nước
Đảng bộ và các cấp uỷ đảng cần có chủ trương, nghị quyết về XĐNG,đồng thời Chính phủ, chính quyền các cấp cần dành cho người nghèo, vùngnghèo nguồn lực về vốn, kỹ thuật và môi trường pháp lý, tâm lý xã hội Ngoài
ra, cần mở rộng hợp tác quốc tế, khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồnlực từ các nước, các tổ chức quốc tế bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú
để thực hiện công tác XĐGN
Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về XĐGN là cơ sở đểcác Đảng bộ địa phương quán triệt, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thểcủa địa phương mình nhằm đẩy mạnh toàn diện công cuộc XĐGN, đưa kếtquả XĐGN ngày càng đi vào chiều sâu và bền vững
Trang 311.2.2 Quan điểm của Đảng bộ tỉnh Yên Bái về xoá đói, giảm nghèo
Quá trình triển khai thực hiện đã được cụ thể hóa bằng Nghị quyết
số 08/2006 của HĐND về CTMTQGGN tỉnh Yên Bái giai đoạn 2006
-2010 Nhiều nhóm giải pháp được triển khai đồng bộ từ việc quản lý chỉđạo thực hiện chương trình tới các dự án, chương trình cụ thể cho ngườinghèo, hộ nghèo
Đó là: nhóm các chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạothu nhập bền vững, nâng cao năng lực cán bộ giảm nghèo; nhóm dự án đầu tưphát triển cơ sở hạ tầng ở các xã nghèo, vùng nghèo; nhóm dự án hỗ trợ trựctiếp hộ nghèo phát triển bền vững; lồng ghép chương trình 135 vào mục tiêugiảm nghèo; Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghịquyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 [39] Với các nhóm giải pháp cụ thểnhiều chương trình, dự án đã được triển khai một cách thiết thực và hiệu quảtrên địa bàn toàn tỉnh
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XVI (12-2005) đã đề
ra những nhiệm vụ chủ yếu cho công tác XĐGN như sau:
- Cùng với tăng trưởng kinh tế phải đảm bảo tiến bộ công bằng xã hội;
ổn định trong quá trình phát triển giữa các vùng, miền trong tỉnh, hạn chế tốc
độ gia tăng khoảng cách giàu và nghèo Gắn giảm nghèo với phát triển kinh
tế, nâng cao năng lực của người nghèo, tạo môi trường, điều kiện để ngườinghèo tiếp cận với các dịch vụ sản xuất tự vươn lên thoát nghèo và phấn đấutrở nên khá giả, giàu có; đồng thời quan tâm đến các nhu cầu về giáo dục, y
tế, nhà ở và nước sạch cho nhóm đồng bào dân tộc nghèo nhất
- Xã hội hóa các hoạt động giảm nghèo: Nhà nước, chính quyền, xã hội
và người dân đều phải chia sẻ trách nhiệm xã hội thực hiện mục tiêu giảmnghèo; việc gì dân làm được thì tạo điều kiện để dân làm, việc gì dân khônglàm được thì Nhà nước làm, bảo đảm tính bền vững, lâu dài Đa dạng hóa việchuy động nguồn lực cho giảm nghèo, phát huy tiềm năng thế mạnh trên từng
Trang 32địa bàn kết hợp nguồn lực của dân, của cộng đồng, Nhà nước, doanh nghiệp,quốc tế để đảm bảo đủ nguồn lực cho mục tiêu giảm nghèo.
- Ưu tiên nguồn lực cho các vùng khó khăn nhất của tỉnh đặc biệt là cáchuyện phía Tây, trên cơ sở phân bổ kinh phí khách quan, khoa học nhằm đảmbảo nguồn lực cho vùng khó khăn nhất và có sự công bằng, minh bạch trongphân bổ nguồn lực
- Thực hiện việc phân cấp mạnh - gắn quyền hạn với trách nhiệm - chođịa phương cấp huyện, cấp xã trên cơ sở nâng cao năng lực, thực hiện dân chủcông khai, bình đẳng trong quá trình tổ chức thực hiện Chương trình Có cơchế trách nhiệm rõ ràng giữa tỉnh, huyện và xã phường Tăng cường sự thamgia của người dân, các hội, đoàn thể trong mọi hoạt động của Chương trình
- Tăng cường các hoạt động giám sát để năng cao hiệu quả đầu tư
1.2.3 Đảng bộ tỉnh Yên Bái tổ chức thực hiện xóa đói, giảm nghèo
1.2.3.1 Đẩy mạnh tuyên truyền vận động cán bộ, đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng và ý nghĩa của chương trình xóa đói, giảm nghèo
Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, các cơ quan chức năng đã tăng cườngcông tác tuyên truyền nhằm tạo sự thống nhất cao trong toàn xã hội về cácquan điểm, mục tiêu của công tác XĐGN Các phương tiện thông tin đạichúng như báo, đài truyền thanh huyện, đài phát thanh các xã, thị trấn đãthường xuyên tuyên truyền chủ trương của Đảng, Nhà nước về XĐGN, phổbiến khoa học kỹ thuật, những kinh nghiệm hay, mô hình làm kinh tế giỏi,tuyên dương, giới thiệu, biểu dương những điển hình trong XĐGN kết hợpvới giáo dục tư tưởng, phát huy truyền thống đùm bọc, tương thân, tương ái
Các tổ chức chính trị xã hội các cấp trong các buổi sinh hoạt đã đẩymạnh tuyên truyền về ý nghĩa, tầm quan trọng của XĐGN Bằng nguồn kinhphí từ chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, Ban XĐGN đã phốihợp với Ban Tuyên giáo xây dựng kế hoạch, tài liệu tuyên truyền, phổ biếnchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giảm nghèo, Luật pháp về
Trang 33XĐGN, kinh nghiệm, mô hình giảm nghèo vươn lên làm giàu thành công củacác địa phương tới người dân Phối hợp với đài truyền hình, đài phát thanhhuyện, xã thực hiện các tin bài phát trên sóng truyền hình tỉnh, huyện, xã
Mặt trận Tổ quốc và các thành viên (Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên,Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh ) tuyên truyền, động viên, hỗ trợ các hộ
nghèo thông qua các phong trào thi đua, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, “Lá lành đùm lá rách”, “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”, “Tổ nông dân tương trợ” giới thiệu những mô hình hay, cách làm tốt, gương điển
hình trong XĐGN để các hộ cố gắng tự lực, tự cường vươn lên thoát nghèo
Ngoài ra, các Trung tâm Dạy nghề, Phòng Khuyến nông, Phòng Nôngnghiệp đã phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nôngdân mở nhiều lớp hướng dẫn kinh nghiệm sản xuất, nuôi trồng các loại cây,con mới cho hàng chục nghìn người tham gia Nhờ có thêm kiến thức, hiểubiết về XĐGN nhiều hộ nông dân nghèo đã chuyển biến tích cực về nhậnthức Vì thế chương trình XĐGN đã nhanh chóng thâm nhập vào cuộc sốngcủa nhân dân, với sự tham gia của đông đảo các lực lượng trong xã hội
Qua công tác tuyên truyền đã tạo được sự chuyển biến tích cực về nhậnthức tư tưởng, tác động mạnh mẽ đến dư luận xã hội Chủ trương XĐGN đãnhanh chóng thu hút sự quan tâm của nhiều người, nhiều ngành, nhiều địaphương, mọi thành phần trong dân cư, XĐGN không còn là vấn đề riêng của
người nghèo mà là vấn đề chung của toàn xã hội Các phong trào “Ngày vì người nghèo”,“Những tấm lòng từ thiện” đã thu hút được sự quan tâm giúp
đỡ của các cá nhân, cộng đồng, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị xã hội.Thông qua công tác tuyên truyền trên hệ thống thông tin đại chúng đã giúpđược bản thân người nghèo ý thức được trách nhiệm của mình cùng với cộngđồng có thêm lòng tin vào Đảng, Nhà nước quyết tâm vươn lên thoát nghèođói, tạo được sự đồng thuận cao giữa dân với cấp ủy Đảng, Chính quyền
Bằng sự chỉ đạo đồng bộ và sát sao như vậy, quá trình thực hiệncác chính sách, dự án XĐGN thông qua các hoạt động tuyên truyền bằng
Trang 34cả trực tiếp và gián tiếp tới người dân đã góp phần không nhỏ vào hoànthành mục tiêu xóa đói, giảm nghèo đồng thời là động lực cho sự pháttriển kinh tế xã hội.
1.2.3.2 Phát huy vai trò của chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị- xã hội trong thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo
Nhận thức sâu sắc về công tác XĐGN là một trong những vấn đề bứcthiết được cả hệ thống chính trị quan tâm thực hiện Vì vậy, đòi hỏi phải cómột hệ thống chỉ đạo, điều hành thống nhất từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở, đồngthời phải có những chính sách phù hợp để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả
hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân, bằng mọi khả năng và quyết tâmcao, như vậy chương trình XĐGN mới đạt được mục tiêu đề ra Các cấp, cácngành trong xây dựng nhiệm vụ trong tâm công tác của đơn vị mình lồngghép đưa chỉ tiêu XĐGN vào để thực hiện Đồng thời chỉ đạo cấp ủy, chínhquyền địa phương tổ chức điều tra, khảo sát hộ nghèo để đánh giá mức độ vànguyên nhân dẫn đến nghèo Trên cơ sở đó, lập phương án hỗ trợ thiết thựcvới từng nhóm đối tượng cụ thể
Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ, UBND tỉnh đã tập trung xây dựng và chỉ
đạo thực hiện chương trình giúp đỡ 2 huyện thuộc diện 30a là Trạm tấu và
Mù Cang Chải Tỉnh đã có nghị quyết hỗ trợ các, huyện, xã khó khăn để
tập trung mọi nguồn lực giúp phát huy nội lực đầu tư xây dựng hạ tầng,bằng nguồn hỗ trợ ngân sách đầu tư đường, trường, trạm y tế, trụ sở làmviệc, điện, kiên cố hoá kênh mương Trong 5 năm 2005- 2010, cơ sở hạtầng của các huyện, xã khó khăn đã được tăng cường đáng kể Do đó tất
cả các xã khó khăn đã có các công trình thiết yếu như: Điện, đường, trường,trạm, được xây dựng khang trang
Trang 35Các phòng, ban ngành, đoàn thể chính trị - xã hội, các đơn vị đóng trênđịa bàn phải đẩy mạnh các hoạt động thực hiện Nghị quyết của tỉnh ủy vềphát triển kinh tế - xã hội, XĐGN, tăng cường việc phân công giúp đỡ hộnghèo của các xã theo chuyên môn của đơn vị Đối với Mặt trận Tổ quốc vàcác đoàn thể phải phát huy tính tích cực, sáng tạo của các tổ chức đoàn thể xãhội trong tổ chức các mô hình XĐGN và vận động đoàn viên, hội viên hiểu rõmục đích ý nghĩa của chương trình XĐGN từ đó có ý chí vươn lên chiếnthắng đói nghèo và tham gia tích cực vào các phong trào do Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể tổ chức Chương trình giảm nghèo được vận hành theo cơ chếliên ngành các nội dung dự án và các biện pháp hỗ trợ thực hiện chính sáchđược duyệt Các ngành theo chức năng nhiệm vụ được giao có trách nhiệmcân đối, phân bổ và quản lý nguồn lực; đồng thời phối hợp với các cơ quan,ban, ngành và các tổ chức đoàn thể để thực hiện các mục tiêu của dự án vàbiện pháp hỗ trợ thực hiện các chính sách, dưới sự chỉ đạo của UBND tỉnh vềchương trình giảm nghèo
Trên cơ sở mục tiêu giảm nghèo của tỉnh, các huyện, xã, thị trấn xâydựng kế hoạch giảm nghèo trên địa bàn; có trách nhiệm phối hợp với cácngành lồng ghép các chương trình kinh tế xã hội với chương trình giảmnghèo Tổ chức huy động nguồn lực từ cấp huyện, xã, thôn xóm, các tổ chức
xã hội, cộng đồng dân cư, doanh nghiệp cho chương trình giảm nghèo Chỉđạo các thôn, các hội nắm chắc số đối tượng nghèo, nguyên nhân dẫn đến đóinghèo cho từng năm xây dựng các mô hình, loại hình sản xuất có hiệu quả.Tuyên truyền nhân rộng tạo điều kiện để người nghèo, hộ nghèo áp dụng tăngthu nhập vươn lên thoát nghèo
Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Mặt trận Tổ quốc các cấp trong huyện đãđổi mới nội dung, phương thức tập hợp thu hút các tầng lớp nhân dân thamgia hưởng ứng có hiệu quả tháng cao điểm vì người nghèo (17/10-17/11) hàng
Trang 36năm, làm tốt công tác tuyên truyền vận động, cán bộ, công nhân viên chức laođộng ủng hộ quỹ “Vì người nghèo”.
Hội Liên hiệp Phụ nữ với chương trình tạo điều kiện để phụ nữ pháthuy tiềm năng trí tuệ của mình, tích cực ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vàosản xuất, giúp phụ nữ giải quyết những khó khăn về vốn, về kiến thức để chị
em có điều kiện tạo thêm việc làm tăng thu nhập cho gia đình, góp phần cùngtoàn Đảng toàn dân thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo Hội Phụ nữ
đã xác định đây là chương trình trọng tâm làm đòn bẩy thúc đẩy các chươngtrình khác hoạt động Vì vậy, Hội phụ nữ các cấp đã khai thác mọi nguồn vốnnhằm giúp cho chị em có vốn để mở rộng sản xuất, tăng thu nhập Phong
trào“Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình” vận động những chị em
có điều kiện kinh tế khá giúp đỡ những chị em nghèo, chia sẻ kinh nghiệmphát triển kinh tế gia đình
Hội Nông dân, với phong trào “Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau XĐGN” đã thu hút sự ủng hộ của người dân Để hỗ
trợ phong trào, các cấp Hội đã có nhiều hình thức, biện pháp thiết thực như:
mở hàng trăm lớp tập huấn khoa học kỹ thuật cho hội viên, tín chấp với Ngânhàng Chính sách Xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vayvốn cho hội viên Bên cạnh đó còn tổ chức hàng trăm buổi hội thảo, thămquan học tập các mô hình kinh tế trong và ngoài tỉnh, xây dựng các mô hìnhtrình diễn về cây trồng, vật nuôi, mô hình giúp hộ nghèo làm ăn ở một số xãkhó khăn Hội còn vận động tương trợ giúp nhau trong sản xuất kinh doanh,các hộ sản xuất giỏi giúp đỡ các hộ nghèo, tạo công ăn việc làm cho con emnông dân
Cùng với các ban ngành đoàn thể, Tỉnh Đoàn Yên Bái đã thúc đẩy
mạnh mẽ phong trào thanh niên tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng, tích cực
tham gia phát triển kinh tế xã hội thông qua phong trào“Thanh niên thi đua lập nghiệp, lao động sáng tạo, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xung
Trang 37kích thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội” Dưới sự chỉ đạo của
Tỉnh ủy, Tỉnh Đoàn Thanh niên đã vận động cán bộ đoàn viên, thanh niên ủng
hộ, đóng góp xây dựng đường giao thông nông thôn, tặng quà khám bệnh cấpthuốc miễn phí cho gia đình chính sách, trẻ em nghèo có hoàn cảnh khó khăn.Thông qua các hoạt động tình nguyện vai trò xung kích, sáng tạo của tuổi trẻtham gia nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, chung sức cùng cộng đồng tạomôi trường thuận lợi để thanh niên rèn luyện, cống hiến sức trẻ, góp phầnthực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển của tỉnh đề ra
Hội Cựu chiến binh tham gia tích cực vào các chương trình XĐGN với
các phong trào như: “Cựu chiến binh gương mẫu”; “Nghĩa tình đồng đội”,
xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, lập sổ tiết kiệm tình nghĩa, giúp đỡ thươngbình và gia đình liệt sỹ Các cấp Hội đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vậnđộng các hội viên, phát động thi đua chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sảnxuất nông nghiệp, phát triển dịch vụ, ngành nghề để nâng cao mức thu nhậpcho gia đình hội viên Hội tập trung rà soát, phân loại gia đình hội viên có khókhăn, thành lập các tổ tín chấp, giúp nhau giống, vốn để phát triển sản xuất
1.2.3.3 Lãnh đạo thực hiện các chương trình hướng tới nâng cao năng lực cho người nghèo trong vươn lên xóa đói, giảm nghèo
Cùng với các chương trình khác, việc nâng cao năng lực cho ngườinghèo vươn lên thoát nghèo được các ban, ngành tổ chức có liên quan thực
hiện và thu được nhiều thành tựu Trước hết về vấn đề huy động vốn: Trong
những năm qua dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, việc huy động vốn cho XĐGN
đã được triển khai sâu rộng Nguồn vốn XĐGN của tỉnh được xây dựng, hìnhthành từ các nguồn vốn: Vốn của Ngân hàng Chính sách Xã hội, vốn huyđộng đóng góp của nhân dân, vốn trích từ ngân sách địa phương, vốn hỗ trợcủa Trung ương thông qua các kênh Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiếnbinh, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân; vốn giải quyết việc làm (Vốn vay từquỹ quốc gia giải quyết việc làm)
Trang 38Do chủ yếu sản xuất nông nghiệp, lại chưa biết cách tổ chức cuộc sống,nên quỹ thời gian lao động của hộ nghèo thường dôi dư Một số cấp ủy địaphương đã chủ trương khôi phục nghề truyền thống, mở một cơ sở sản xuấtmây tre đan xuất khẩu, nghề dệt để tạo công ăn việc làm cho nhân dân, đặcbiệt là hộ nghèo Những nơi không có nghề phụ đã tích cực chuyển giao khoahọc công nghệ mới về chăn nuôi gia súc, gia cầm có giá trị cao như ba ba,lươn, cá trắm đen và hướng dẫn đầu tư thêm lao động để thâm canh, tăng vụnhằm tăng sản lượng và tăng giá trị cây trồng, vật nuôi Cách làm này đã giúpngười nghèo nhanh chóng khắc phục được một phần khó khăn.
Song song với các biện pháp trên, Tỉnh ủy cũng quan tâm chỉ đạoUBND và các đoàn thể tăng cường phổ biến kiến thức khoa học và năng lựctiếp cận với kinh tế thị trường cho nhân dân thông qua công tác khuyến nông.Tỉnh ủy đã có nhiều nghị quyết chuyên đề chỉ đạo các Phòng ban chuyên mônđưa khoa học kỹ thuật mới vào nông nghiệp, coi đó là vấn đề then chốt, thayđổi phương thức sản xuất cũ lạc hậu Các chương trình này còn hướng tới tạochính sách ưu đãi, hỗ trợ người nông dân dám mạnh dạn chuyển đổi áp dụngphương thức trồng trọt, chăn nuôi tiên tiến và giống mới có chất lượng cao
1.2.3.4 Mở rộng cơ chế cho phép và vận động người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
Tiếp cận dịch vụ y tế: Cùng với các chương trình đầu tư cơ sở hạ
tấng, giống, vốn chương trình XĐGN tập trung thực hiện công tác chămsóc bảo vệ sức khỏe cho người nghèo Các cấp ngành đã liên kết và thựchiện tốt các hoạt động khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo tại các
cơ sở y tế trên địa bàn Trong 5 năm, các hộ nghèo đã được cấp thẻ bảohiểm y tế giúp các bệnh nhân nghèo được điều trị bệnh hiểm nghèo Tạođiều kiện động viên, giúp đỡ các gia đình đỡ khó khăn
Cùng với khám chữa bệnh cho người nghèo ngành y tế đã không ngừngquan tâm đầu tư nâng cấp các cơ sở y tế trong tỉnh, cũng như bổ sung các trang
Trang 39thiết bị cho các cơ sở y tế, huyện, xã, thị trấn để giúp chăm sóc sức khỏe chonhân dân nói chung và người nghèo nói riêng tại cấp cơ sở.
Tiếp cận dịch vụ giáo dục: Vấn đề giáo dục và đào tạo cho các xã
nghèo và hộ nghèo là một trong những chính sách xã hội trong việc thực hiện
XĐGN Do vậy, chương trình giáo dục và đào tạo cũng được các ngành, các
cấp quan tâm Tỉnh Yên Bái tăng cường đầu tư cơ sở vật chất xây dựng vànâng cấp các trường học, nhất là 2 huyện kinh tế khó khăn
Tư vấn về kiến thức, kỹ thuật sản xuất cho người nghèo: Các phòng,
ban, ngành chức năng đã tham mưu, đề xuất những giải pháp giúp đỡngười nghèo thông qua các dự án, chương trình việc làm, tư vấn kiến thứckhoa học kỹ thuật sản xuất kinh doanh, kiến thức pháp luật Từ năm 2005đến năm 2010, các ngành chức năng đã tổ chức tập huấn, chuyển giaokhoa học kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, quản lý kinh tế, mở các lớpdạy nghề cho nông dân
Về an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế: Công tác chăm sóc, giúp đỡ
các đối tượng yếu thế thường xuyên được quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ họvượt qua khó khăn hoà nhập cộng đồng Giai đoạn 2005-2010, cấp huyện vàcác xã, thị trấn thực hiện trợ cấp khó khăn trong dịp tết Nguyên Đán và giáphạt Trợ cấp thường xuyên tại cộng các hộ thuộc diện nghèo, khó khăn vớimức 80.000đ/người/tháng cho người già cô đơn, trẻ em mồ côi
Trong giai đoạn 2005-2010, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Yên Bái,công tác XĐGN đã huy động các lực lượng, các nguồn lực tham gia và đạt
Trang 40nhiều thành tự đáng ghi nhận Các cấp chính quyền, đoàn thể trong huyện đãthực hiện lồng nghép các chương trình nhằm huy động nguồn lực tập trungcho công tác XĐGN, nhiều chương trình được thực hiện có hiệu quả góp phầnđạt được mục tiêu đã đề ra Công tác xóa đói giảm nghèo và phát triển nôngthôn đã đạt được kết quả Các huyện, xã nghèo, hộ nghèo từng bước vươn lên,
ổn định cuộc sống nhìn chung đời sống nhân dân đã được nâng lên, đổi mới
cơ bản
Tổng hợp chung toàn tỉnh đã có 33.158 hộ thoát nghèo, tỷ lệ hộ nghèogiảm từ 34,71% đầu năm 2006 xuống còn 11,53 % vào cuối năm 2010 (theochuẩn nghèo cũ); vượt chỉ tiêu kế hoạch Nghị quyết số 08/2006/NQ-HĐNDcủa Hội đồng nhân dân tỉnh Yên Bái đề ra “Mỗi năm giảm 4% hộ nghèotrong toàn tỉnh”[47] Trong đó:
- Năm 2007: tỷ lệ hộ nghèo giảm 10,55% (tổ chức rà soát sau 2 năm2006-2007), còn 24,16 %;
- Năm 2008: tỷ lệ hộ nghèo giảm 2,85%, còn 21,31 %;
- Năm 2009: tỷ lệ hộ nghèo giảm 5,57 %, còn 15,74%;
- Năm 2010: tỷ lệ hộ nghèo giảm 4,20 %, còn 11,53 % (theo chuẩn cũ),24,23% (theo chuẩn mới)
*Quá trình lãnh đạo công tác XĐGN của Đảng bộ tỉnh Yên Bái từ năm
2005 đến năm 2010 có những ưu điểm sau:
- Vấn đề XĐGN luôn được đề cập trong Nghị quyết Đại hội Đảng từ
tỉnh đến cơ sở như là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm
- Công tác chỉ đạo từ tỉnh đến cơ sở đồng bộ, hiệu quả, huy động cácnguồn lực tương đối tốt, hoàn thành chỉ tiêu giảm nghèo mà Đại hội Đảng bộtỉnh đã đề ra trong giai đoạn 2006 - 2010 Góp phần nâng cao nhận thức vềmục tiêu, vai trò, ý nghĩa của chương trình giảm nghèo, làm chuyển biến