Phương pháp nghiên cứu khoa học được coi là lý luận mang tính thực tiễn của bài nghiên cứu, và quyết định đến thành công của bài NCKH. Việc áp dụng phương pháp nghiên cứu nghĩa là áp dụng cách thức để tiến hành khám phá đối tượng nghiên cứu.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
****************
TIỂU LUẬN MÔN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC MẶT
VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TRÊN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
*****************
TIỂU LUẬN MÔN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC MẶT
VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS LÊ QUỐC TUẤN
Học viên: LÂM ĐỨC TÀI
Khóa: 2018
Ngành: Quản lý Môi trường và Tài Nguyên
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 09/2018
Trang 3MỤC LỤC
Mục lục i
Danh mục các từ viết tắt iii
Danh sách các bảng iv
Danh sách các hình v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về tài nguyên nước 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Khái quát về tài nguyên nước mặt 5
1.2 Tổng quan ô nhiễm tài nguyên nước trên thế giới và tại Việt Nam 6
1.2.1 Trên thế giới 6
1.2.2 Ở Việt Nam 8
1.2.3 Một số bài học về ô nhiễm tài nguyên nước 11
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước mặt 12
1.4 Đánh giá chung: 13
1.5 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 14
1.5.1 về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 14
1.5.1.1 Về vị trí địa lý 14
1.5.1.2 Về sông rạch và tài nguyên nước 17
1.5.1.3 Về địa hình 18
1.5.1.4 Về tài nguyên đất 19
1.5.2 Yếu tố về kinh tế 20
1.5.2.1 Tốc độ tăng trưởng: 20
1.5.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: 20
1.5.2.3 Giá trị kim ngạch xuất khẩu ngành công nghiệp 21
1.5.3 Yếu tố về xã hội 21
Trang 41.5.4 Những thuận lợi và khó khăn của tỉnh 22
1.5.4.1 Thuận lợi 22
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Nội dung nghiên cứu 25
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 25
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Phương pháp tổng quan tài liệu 26
2.3.2 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 27
2.3.3 Phương pháp chuyên gia 27
2.3.4 Phương pháp điều tra xã hội học 28
Chương 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích và các đơn vị hành chính 15 Bảng 1.2 Các sông chính ở tỉnh Long An 17
Trang 7DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Bản đồ đơn vị hành chính tỉnh Long An 16
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Long An là tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, phía Đông giáp thành phố
Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây giáp tỉnh ĐồngTháp và phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang Địa hình Long An bằng phẳng, xu thế thấpdần từ phía Bắc – Đông Bắc xuống Nam – Tây Nam, có hệ thống sông ngòi, kênh
rạch chằng chịt, trong đó 2 nhánh sông chính Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ Campuchia, qua tỉnh Tây Ninh chảy vào địa phận Long
An.Hồ Dầu Tiếng đưa xuống thêm 18,5 m3/s bổ sung nước tưới cho các huyện ĐứcHuệ, Đức Hòa, Bến Lức và hạn chế quá trình xâm nhập mặn của tuyến Vàm Cỏ
Đông qua cửa sông Soài Rạp Sông Vàm Cỏ Đông nối với Vàm Cỏ Tây qua các kênh ngang và nối với sông Sài Gòn, Đồng Nai bởi các kênh Thầy Cai, An Hạ, Rạch Tra, sông Bến Lức Sông Bảo Định nằm trên địa bàn thị xã Tân An, bắt nguồn
từ Tiền Giang và đổ vào sông Vàm Cỏ Tây, là nguồn cung cấp nước cho nhà máynước Tân An và cũng là nơi tiếp nhận nước thải từ khu vực dân cư sống dọc hai bên
bờ sông Sông Rạch Cát (Sông Cần Giuộc) trong địa phận tỉnh Long An dài 32 km,
lưu lượng nước mùa kiệt nhỏ và chất lượng nước kém do tiếp nhận nguồn nước thải
từ khu vực đô thị -TP Hồ Chí Minh, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và sinh hoạt củadân cư
Nguồn nước mặt của tỉnh Long An không dồi dào, chất lượng nước hạn chế
về nhiều mặt, nhất là nhiễm phèn nên không đáp ứng được yêu cầu ngày càng caocủa sản xuất và đời sống Tài nguyên nước mặt trên 2 sông Vàm Cỏ Đông và VàmCỏ Tây thường xuyên ở trong tình trạng bị nhiễm phèn, nhiễm mặn, ô nhiễm từnguồn nước thải công nghiệp và trong sản xuất nông nghiệp Theo kết quả quan trắc
Trang 9các năm gần đây thì chất lượng môi trường nước mặt trên địa bàn tỉnh Long An đãphát sinh nhiều vấn đề đáng quan tâm, ô nhiễm môi trường do sản xuất côngnghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt của người dân đã và đang xuất hiện
Do đó, việc đánh giá chi tiết về hiện trạng môi trường nước mặt và có nhữnggiải pháp bảo vệ nguồn nước mặt là vấn đề cấp bách Xuất phát từ thực tiễn trên,
nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng ô nhiễm nguồn nước mặt và đề xuất
biện pháp quản lý, sử dụng trên địa bàn tỉnh Long An” được đề xuất lựa chọn
+ Đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ tài nguyên nước mặt tỉnh Long An
3 Đối tượng nghiên cứu
- Hiện trạng ô nhiễm nước mặt là nguồn nước mặt nằm trong sông, kênh,rạch trong khu vực nghiên cứu
Trang 104 Ý nghĩa nghiên cứu
Những kết quả khoa học thu được thông qua thực hiện đề tài thông qua việcxác định và thực hiện các giải pháp sẽ cung cấp những thông tin về hiện trạng ônhiễm tài nguyên nước mặt tại hệ thống kênh, rạch, sông ngòi và đề xuất cácphương pháp khắc phục ô nhiễm, quản lý môi trường nước mặt cần thiết cho các cơquan quản lý nhà nước trong công tác hoạch định chính sách, quản lý, khai thác, sửdụng bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên nước mặt để từ đó giúp nhà quản lý cóquyết định phù hợp hơn cho mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội và bảo vệmôi trên địa bàn tỉnh Long An
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về tài nguyên nước
1.1.1 Khái niệm
Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sửdụng vào những mục đích khác nhau Nước được dùng trong các hoạt động nôngnghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường Hầu hết các hoạt động trênđều cần nước ngọt
Nước bao phủ 71% diện tích của quả đất trong đó có 97% là nước mặn, còn lại
là nước ngọt Nước giữ cho khí hậu tương đối ổn định và pha loãng các yếu tố gây ônhiễm môi trường, nó còn là thành phần cấu tạo chính yếu trong cơ thể sinh vật,chiếm từ 50%-97% trọng lượng của cơ thể, chẳng hạn như ở người nước chiếm 70
% trọng lượng cơ thể và ở Sứa biển nước chiếm tới 97 % Trong 3% lượng nướcngọt có trên quả đất thì có khoảng hơn 3/4 lượng nước mà con người không sử dụngđược vì nó nằm quá sâu trong lòng đất, bị đóng băng, ở dạng hơi trong khí quyển và
ở dạng tuyết trên lục địa chỉ có 0,5 % nước ngọt hiện diện trong sông, suối, ao,
hồ mà con người đã và đang sử dụng Tuy nhiên, nếu ta trừ phần nước bị ô nhiễm rathì chỉ có khoảng 0,003% là nước ngọt sạch mà con người có thể sử dụng được vànếu tính ra trung bình mỗi người được cung cấp 879.000 lít nước ngọt để sử dụng(Miller, 1988)
Theo hiểu biết hiện nay thì nước trên hành tinh của chúng ta phát sinh từ 3nguồn: bên trong lòng đất, từ các thiên thạch ngoài quả đất mang vào và từ tầng trêncủa khí quyển; trong đó thì nguồn gốc từ bên trong lòng đất là chủ yếu Nước cónguồn gốc bên trong lòng đất được hình thành ở lớp vỏ giữa của quả đất do quá
Trang 12trình phân hóa các lớp nham thạch ở nhiệt độ cao tạo ra, sau đó theo các khe nứt củalớp vỏ ngoài nước thoát dần qua lớp vỏ ngoài thì biến thành thể hơi, bốc hơi và cuốicùng ngưng tụ lại thành thể lỏng và rơi xuống mặt đất Trên mặt đất, nước chảy tràn
từ nơi cao đến nơi thấp và tràn ngập các vùng trũng tạo nên các đại dương mênhmông và các sông hồ nguyên thủy Theo sự tính toán thì khối lượng nước ở trạngthái tự do phủ lên trên trái đất khoảng 1,4 tỉ km3, nhưng so với trữ lượng nước ở lớpvỏ giữa của quả đất (khoảng 200 tỉ km3) thì chẳng đáng kể vì nó chỉ chiếm khôngđến 1% Tổng lượng nước tự nhiên trên thế giới theo ước tính có khác nhau theo cáctác giả và dao động từ 1.385.985.000 km3 (Lvovits, Xokolov - 1974) đến1.457.802.450 km3 (F Sargent - 1974)
1.1.2 Khái quát về tài nguyên nước mặt
Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước.Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảyvào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất Lượng giáng thủy này được thu hồi bởicác lưu vực, tổng lượng nước trong hệ thống này tại một thời điểm cũng tùy thuộcvào một số yếu tố khác Các yếu tố này như khả năng chứa của các hồ, vùng đấtngập nước và các hồ chứa nhân tạo, độ thấm của đất bên dưới các thể chứa nướcnày, các đặc điểm của dòng chảy mặt trong lưu vực, thời lượng giáng thủy và tốc độbốc hơi địa phương Tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến tỷ lệ mất nước
Sự bốc hơi nước trong đất, ao, hồ, sông, biển; sự thoát hơi nước ở thực vật vàđộng vật , hơi nước vào trong không khí sau đó bị ngưng tụ lại trở về thể lỏng rơixuống mặt đất hình thành mưa, nước mưa chảy tràn trên mặt đất từ nơi cao đến nơithấp tạo nên các dòng chảy hình thành nên thác, ghềnh, suối, sông và được tích tụlại ở những nơi thấp trên lục địa hình thành hồ hoặc được đưa thẳng ra biển hìnhthành nên lớp nước trên bề mặt của vỏ trái đất
Trong quá trình chảy tràn, nước hòa tan các muối khoáng trong các nhamthạch nơi nó chảy qua, một số vật liệu nhẹ không hòa tan được cuốn theo dòng chảy
và bồi lắng ở nơi khác thấp hơn, sự tích tụ muối khoáng trong nước biển sau một
Trang 13thời gian dài của quá trình lịch sử của quả đất dần dần làm cho nước biển càng trởnên mặn Có hai loại nước mặt là nước ngọt hiện diện trong sông, ao, hồ trên cáclục địa và nước mặn hiện diện trong biển, các đại dương mênh mông, trong các hồnước mặn trên các lục địa.
1.2 Tổng quan ô nhiễm tài nguyên nước trên thế giới và tại Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
Việc kiểm kê, đánh giá các nguồn gây ô nhiễm nước mặt đã thực hiện nhiềunăm qua Theo đó các nguồn tạo ra nước thải, chất thải rắn, khí thải và lưu lượngnước thải, khối lượng chất thải từng nguồn đều được xác định Danh mục từngnguồn này được thống kê, cập nhật hàng năm trong đó nêu rõ vị trí, diện tích,nguyên liệu, công nghệ sản xuất, hệ thống kiểm soát ô nhiễm, lưu lượng và thànhphần nước thải, khí thải, khối lượng và thành phần chất thải rắn Trong từng đơn vịhành chính (tỉnh, thành phố) hoặc lưu vực người ta tổng hợp lưu lượng và tải lượng
ô nhiễm của tất cả các nguồn (theo m3/ngày hoặc tấn/ngày) Kết hợp với số liệuthủy văn, khí hậu, quy hoạch phát triển Từ đó đánh giá mức độ chịu tải của môitrường, mức độ gia tăng phát thải hàng năm và đề ra các biện pháp kiểm soát ônhiễm Phương pháp đánh giá nhanh trong kiểm kê chất thải đã được Tổ chức Y tếThế giới (WHO) xây dựng và ban hành cho nhiều quốc gia sử dụng (Lê Trình,2005)
Nằm tại khu vực chính giữa đất nước Trung Quốc, dòng Sông Huai dài 1978
km được coi như nơi ô nhiễm nhất của nước này do các chất thải công nghiệp, độngvật và nông nghiệp Mức độ mắc bệnh cao bất thường của cộng đồng dân cư sốnggần lưu vực sông đã khiến chính phủ phải xếp nguồn nước của con sông ở mức độchại nhất
Hệ thống các sông gần vùng ngoại ô tỉnh Bulacan ở Philippine là nơi lưuthông hàng hóa cho các khu vực thuộc da, tinh chế kim loại, đúc chì Các chất ônhiễm gây ra các vấn đề về sức khỏe cho cư dân trong vùng và xa hơn nó còn gâyhại đến ngành đánh bắt thủy, hải sản tại vịnh Manille
Trang 14Năm 2000, vụ tai nạn hầm mỏ xảy ra tại Công ty Aurul đã thải ra 50 – 100 tấnXianua và kim loại nặng (Đồng) vào dòng sông gần Baia Mare (thuộc vùng ĐôngBắc – Rumani) Sự nhiễm độc này đã khiến các loài thủy sản ở đây chết hàng loạt,tổn hại đến hệ thực vật và làm bẩn nguồn nước sạch, ảnh hưởng đến cuộc sống của2,5 triệu người.
Hiện tượng khai thác mỏ dầu, vận chuyển ở biển và các chất thải bị nhiễmxăng dầu là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước Ước tính cókhoảng 1 tỷ tấn dầu được chở bằng đường biển mỗi năm Một phần của khối lượngnày, khoảng 0,1 - 0,3% được ném ra biển một cách tương đối hợp pháp: đó là sự rửacác tàu dầu bằng nước biển Các tai nạn đắm tàu chở dầu là tương đối thườngxuyên Ðã có 129 tai nạn tàu dầu từ 1973 - 1975, làm ô nhiễm biển bởi 340.000 tấndầu (Ramade, 1989) Ước tính có khoảng 3,6 triệu tấn dầu thô thải ra biển hàng năm(Baker,1983) Một tấn dầu loang rộng 12 km2 trên mặt biển, do đó biển luôn luôn cómột lớp mỏng dầu trên mặt (Furon,1962) Tốc độ thấm của xăng dầu lớn gấp 7 lầncủa nước, sẽ làm các lớp nước ngầm bị nhiễm bẩn Khoảng 1,6 triệu tấnhydrocarbon do các con sông của các quốc gia kỹ nghệ hóa thải ra vùng bờ biển.Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ
ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị trực tiếp
đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển Đây là thống kê của ViệnNước quốc tế (SIWI) được công bố tại Tuần lễ Nước thế giới (World Water Week)khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển ngày 5/9
Thực tế nêu trên khiến nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người bị ônhiễm nghiêm trọng Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nước đang phát triển là
do không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nước) và các bệnhliên quan đến nước Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) cảnh báo trong 15năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống tại các khu vực khan hiếm nguồn nước và 2/3
cư dân trên hành tinh có thể bị thiếu nước
Hàng năm, 4.000 trẻ em tử vong vì nước bẩn và vệ sinh kém Đây là con sốđược Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc UNICEF công bố Giám đốc Điều hành
Trang 15UNICEF, bà Ann M Veneman cho biết: “Trên thế giới, cứ 15 giây lại có một trẻ
em tử vong bởi các bệnh do nước không sạch gây ra và nước không sạch là thủphạm của hầu hết các bệnh và nạn suy dinh dưỡng Một trẻ em lớn lên trong nhữngđiều kiện như thế sẽ có ít cơ hội để thoát khỏi cảnh đói nghèo” Ước tính có khoảng
17 triệu (52%) trẻ em chưa được sử dụng nước sạch và khoảng 20 triệu (59%) chưa
có nhà tiêu hợp vệ sinh Con số này còn cao hơn ở vùng các dân tộc ít người vàvùng sâu vùng xa
Tại diễn đàn của Trẻ em thế giới về nước tổ chức tại Mehico ngày 21/3,UNICEF cho biết 400 triệu trẻ em trên thế giới đang phải vật lộn với sự sống vìkhông có nước sạch Theo đó, trẻ em là người phải trả giá cao nhất khi không được
sử dụng nước sạch Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ em dưới năm tuổi dễ bị mắctiêu chảy nhất (căn bệnh này gây tử vong cho 4.500 trẻ em mỗi ngày)
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở hầu hết các sông, hồ, kênh, rạch trong nội thành, nội thị, các thông số đặctrưng ô nhiễm hữu cơ đều vượt giới hạn tối đa cho phép đối với nguồn nước loại B.Chất lượng nước ở thượng lưu các con sông còn tương đối tốt, nhưng phần trunglưu và hạ lưu phần lớn đã bị ô nhiễm, có nơi ở mức nghiêm trọng Nguyên nhân là
do nước thải của các hoạt động sản xuất công nghiệp, sinh hoạt không được xử lý
đã và đang thải trực tiếp vào các con sông Nhiều nơi chất lượng nước suy giảmmạnh, nhiều thông số như BOD5, COD, Colitorm, tổng N, tổng P cao hơn quychuẩn Việt Nam nhiều lần (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012)
Hiện nay mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều giải pháp trong việc thực hiệnchính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn
đề rất đáng lo ngại Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăngdân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ.Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ônhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn Các sông, ao hồ, kênh rạch chảy quanội thị đều là nơi tiếp nhận và vận chuyển các nguồn thải (sinh hoạt, công nghiệp,dịch vụ, hoạt động giao thông vận tải, nước mưa …) chưa được xử lý nên chúng bị
Trang 16ô nhiễm, có một số nơi ô nhiễm nặng Nồng độ các chất ô nhiễm đều vượt và vượtrất cao so với tiêu chuẩn cho phép (Nguyễn Văn Phước và Nguyễn Thị Vân Hà,2006).
Hoạt động và sản xuất của con người cùng với mật độ dân số gia tăng nhanhchóng các nguồn nước thải, nước mặt và cả nước ngầm ở nhiều vùng đã bị ô nhiễmđến mức báo động (Lê Quốc Tuấn, 2002) Sông Cầu thời gian qua nhiều đoạn đã bị
ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là các đoạn sông chảy qua các đô thị, khu công nghiệp
và các làng nghề thuộc tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh Sông Ngũ HuyệnKhê là một trong những điển hình ô nhiễm trên lưu vực sông Cầu và tình trạng ônhiễm nặng gần như không thay đổi Lưu vực sông Nhuệ - Đáy nhiều đoạn bị ônhiễm tới mức báo động, vào mùa khô giá trị các thông số BOD5, COD, TSS,… tạicác điểm đo vượt QCVN 08:2008 loại A1 nhiều lần Sông Nhuệ bị ô nhiễm nặngsau khi tiếp nhận nước từ sông Tô Lịch Lưu vực sông Mã riêng thông số độ đục rấtcao, do lượng phù sa lớn và hiện tượng xói mòn từ thượng nguồn
Miền Trung và Tây Nguyên có một số khu vực chất lượng nước giảm do việcđổi dòng phục vụ các công trình thủy lợi (hiện tượng ô nhiễm trên sông Ba vào mùakhô) Nguồn ô nhiễm chính khu vực Đông Nam Bộ là nguồn ô nhiễm nước mặt chủyếu do nước thải công nghiệp và sinh hoạt Sông Đồng Nai khu vực thượng lưusông chất lượng nước tương đối tốt nhưng khu vực hạ lưu (đoạn qua thành phố BiênHòa) nước sông đã bị ô nhiễm
Sông Sài Gòn trong những năm gần đây mức độ ô nhiễm mở rộng hơn về phíathượng lưu Sông Thị Vải các khu vực ô nhiễm trước đây đã từng bước được khắcphục một số điểm ô nhiễm cục bộ Hệ thống sông ở Đồng bằng sông Cửu Longnước thải nông nghiệp lớn nhất nước (70% lượng phân bón được cây và đất hấp thụ,30% đi vào môi trường nước) Vì vậy chất lượng nước sông Tiền và sông Hậu đã códấu hiệu ô nhiễm hữu cơ (mức độ ô nhiễm sông Tiền cao hơn sông Hậu) SôngVàm Cỏ bị ô nhiễm bởi nhiều yếu tố: Hoạt động sản xuất từ nhà máy, khu dân cưtập trung Sông Vàm Cỏ Đông có mức độ ô nhiễm cao hơn sông Vàm Cỏ Tây
Trang 17Theo thống kê và đánh giá của Bộ Y tế và Bộ Tài Nguyên môi trường trungbình mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và điềukiện vệ sinh kém và gần 200.000 trường hợp mắc bệnh ung thư mới phát hiện, màmột trong những nguyên nhân chính là sử dụng nguồn nước ô nhiễm
Nước mặt phần lớn bị ô nhiễm, nhất là vùng hạ lưu các sông, do nước thải của
cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nước thải sinh hoạt không được xử lý đổ trựctiếp vào các sông hồ Chất lượng nước suy giảm mạnh nhiều chỉ tiêu BOD, COD,
NH4 và tổng Nitơ và phốt pho cao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần (Hội bảo vệthiên nhiên và môi trường Việt Nam, 2007)
Trong khu vực nội thành của các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh,Hải Phòng, Huế hệ thống các hồ, ao, kênh rạch và các sông nhỏ là nơi tiếp nhận vàvận chuyển nước thải của các khu công nghiệp, khu dân cư Hiện nay, hệ thống nàyđều ở tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng vượt quá mức tiêu chuẩn cho phép nhiều lần.Các hồ trong nội thành phần lớn ở trạng thái phú dưỡng Chất lượng nước sông, hồtrong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ hiện nay đã bị suy giảm do ảnh hưởng bởicác hoạt động của con người Số liệu thống kê của các Sở Tài nguyên và Môitrường, hiện nay mỗi ngày toàn vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ thải khoảng gần700.000 m3 nước thải
Theo Trần Đức Hạ (2008), dự án “Đánh giá khả năng tự làm sạch và đề xuấtcác phương án cải thiện chất lượng nước hồ Yên Sở nhằm đảm bảo yêu cầu xả nướcthải ra sông Hồng” đã đạt được kết quả khả thi Kết quả khảo sát và phân tích trựctiếp nước hồ tại hiện trường thấy rằng các hồ Yên Sở có khả năng tự làm sạch tươngđối cao Quá trình chuyển hóa chất hữu cơ trong hồ được nghiên cứu theo quy luậtphản ứng bậc 1 với hệ số tốc độ tiêu thụ oxy sinh hóa trong điều kiện thực tế K1
(theo cơ số logarit thập phân) là 0,035 ngày-1 Hàm lượng BOD5 bổ sung do quátrình sinh hóa khác diễn ra trong hồ là 20 mg/L Trong điều kiện thực tế hiện nay,
hồ Yên Sở có khả năng xử lý được 3.665 kg BOD/ngày, giảm thiểu được 8,8% tảilượng hữu cơ theo BOD trong 400.000 m3 nước thải xả ra sông Hồng mỗi ngày
Trang 181.2.3 Một số bài học về ô nhiễm tài nguyên nước
Theo Cao Thị Minh Thảo (2009), đặc điểm ô nhiễm nước do hóa chất sửdụng trong sản xuất với cường độ nhỏ nhưng vẫn gây tác động chậm, không thấy rõ
và mang tính chất mãn tính phổ biến trên diện rộng Ở nhiều nước, kể cả các nướcphát triển hiện cũng chưa khắc phục được nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm do nước
bị ô nhiễm gây nên
Bệnh Minamata phát triển ở vùng vịnh Minamata ở Nhật Bản năm 1953.Đến năm 1968, chính phủ Nhật Bản mới chính thức tuyên bố căn bệnh này do công
ty Chisso gây ra vì đã làm ô nhiễm môi trường Các nhà máy hóa chất của công tynày đã thải ra quá nhiều lượng thủy ngân hữu cơ độc hại làm cho cá bị nhiễm độc.Khi ăn cá, thủy ngân hữu cơ xâm nhâp vào cơ thể con người, chúng sẽ tấn công vào
cơ quan thần kinh trung ương gây nên căn bệnh mà các nhà y học gọi là bệnhMinamata Tổ chức cứu trợ Nhật Bản cho biết đến nay có gần 13.000 người mắcbệnh Minamata, có hơn 2.000 người bị chết Năm 1965, bệnh Minamata còn bùngphát dọc theo con sông Agano thuộc tỉnh Nigata do công ty Showa Denko thải thủyngân xuống lòng sông Ngoài bệnh Minamata, các nhà nghiên cứu về kinh tế - môitrường của Nhật đã không ngần ngại khi đưa ra bản danh sách các căn bệnh, các vụnhiễm độc như bệnh Itai-itai ở tỉnh Toyama, nhiễm độc cadiums, nhiễm độcđồng, do các nhà máy thải chất thải nguy hại ra môi trường trong suốt mấy chụcnăm phát triển công nghiệp (Yến Tuyết, 2008)
Oxit nitơ và amon: Để nuôi sống số dân ngày càng tăng trên trái đất thì việc
sử dụng phân bón để tăng năng suất cây trồng là một điều tất yếu Nhưng thông quaquá trình rửa trôi, thấm lọc, lượng nitrat sẽ ngày càng tính lũy nhiều ở nước bề mặt,nước ngầm và “quả bom nitrat” sẽ nổ bất kỳ lúc nào Nhật Bản hiện nay là mộtquốc gia dẫn đầu trong việc ăn các thức ăn giàu nitơ và số lượng người bị ung thư
dạ dày Nồng độ cao của NO3-, NO2- trong nước uống sẽ gây ra bệnh tật, đặc biệt ởtrẻ em và gọi là bệnh Methemoglobinemia (xanh da) vì nó tạo thành axit nitơ trongnước, tác động với amin để hình thành nitrosamin, một số trong những chất này làtác nhân gây bệnh ung thư (Lê Văn Khoa, 1995)
Trang 19Theo Cao Thị Minh Thảo (2009), ở Canada những dự án Hydro - Québec tolớn và những nhà máy bột giấy khổng lồ dùng thủy ngân (để sản xuất clo tẩy trắnggiấy) đã làm cho người Anh-điêng ăn một thứ cá chứa nhiều kim loại độc hại gâynên các chứng rụng tóc, run rẩy,…đó là dấu hiệu bị tổn thương hệ thần kinh Sự tan
rã hoàn toàn xã hội, sự mất tính người xảy ra tại bộ lạc Ojibwa ở Ontario gây nên dothủy ngân thải ra từ các nhà máy giấy ở phía thượng lưu sông Wabigoon bị ô nhiễmtới 50 năm là nơi đem lại phần lớn nguồn thu nhập của họ, đã khiến họ phải sốngnhờ tiền viện trợ của Chính phủ liên bang
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước mặt.
- Theo M.Meybeck (1996), chất lượng nước mặt của lưu vực sông chịu ảnhhưởng bởi các yếu tố chính gồm:
- Thổ nhưỡng: Quá trình tạo thành dòng chảy của lưu vực sông là yếu tốquan trọng trong việc phong hóa đá Quá trình này đã bào mòn, khuếch tán cácmuối khoáng vào nước sông Chính điều này đã làm cho chất lượng nước của lưuvực sông chịu ảnh hưởng bởi nền thổ nhưỡng của khu vực đó
- Địa hình: Địa hình có vai trò quan trọng trong việc tạo thành dòng chảy vàvận tốc dòng chảy, từ đó ảnh hưởng đến khả năng hòa tan oxy vào nguồn nước, vốn
là yếu tố quyết định để hình thành hệ sinh vật và phân hủy các chất hữu cơ trongnguồn nước, ảnh hưởng đến khả năng làm sạch của nước
- Khí hậu: Các yếu tố khí hậu chính ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nướcmặt lưu vực sông bao gồm: Gió, lượng mưa và nhiệt độ Vận tốc gió và nhiệt độảnh hưởng đến khả thấm khí, hòa tan oxy vào nguồn nước Lượng mưa ảnh hưởngnhiều đến việc rửa trôi các chất trên bề mặt lưu vực vào nguồn nước sông
- Thủy văn: Sự lên xuống của thủy triều ngoài tác dụng tạo dòng chảy, tăngkhả năng phân hủy các chất ô nhiễm trong nguồn nước sông Bên cạnh đó, hệ độngthực vật của sông cũng đóng vai trò quan trọng trong sự tự làm sạch của nguồnnước sông
Trang 20- Thay đổi sinh cảnh: Các hoạt động làm thay đổi sinh cảnh của con ngườinhư xây đập, lấn chiếm lòng sông, phá bỏ hệ sinh thái rừng ngập mặn,…đã làmgiảm vận tốc dòng chảy, làm giảm khả năng tự làm sạch của dòng sông.
- Vấn đề ô nhiễm nguồn nước mặt và các phương pháp để đánh giá mức độ
ô nhiễm, nguồn gây ô nhiễm;
- Đánh giá tác động các yếu tố tự nhiên (thời tiết, biến đổi khí hậu), các yếu
tố con người (khai thác các nguồn tài nguyên, hoạt động sản xuất, giao thông thủy,hoạt động nông nghiệp…) tác động đến nguồn nước mặt;
- Nghiên cứu đưa ra các giải pháp quản lý (quản lý theo lưu vực, quản lýtổng hợp, quản lý dựa vào cộng đồng…) và nghiên cứu xây dựng chiến lược, quyhoạch, kế hoạch trong quản lý nguồn nước mặt
- Đã có nhiều đề xuất nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tác động của cácyếu tố tự nhiên, hoạt động kinh tế xã hội đến nguồn nước;
- Hiện nay, nhiều tổ chức, cá nhân và nhiều nước đã quan tâm đến việcquản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước theo hướng bền vững
- Việc đánh giá thực trạng nguồn nước mặt khu vực Đồng Bằng sông CửuLong nói chung và ở khu vực nghiên cứu (cụ thể là huyện Bến Lức, tỉnh Long An)