Sau khi Đề án 32 được phê duyệt, các hoạt động công tác xã hội đã được các cơ quan và các tổ chức xã hội quan tâm thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau góp một phần hỗ trợ các đối tượ
Trang 1TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
Chương trình bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh công tác xã hội
Khóa 1 (23/7/2021 -15/10/2021) Tại: Lào Cai (Trực tuyến)
BÁO CÁO THU HOẠCH CUỐI KHÓA
Học viên : Nguyễn Thị Bình Đơn vị công tác: Trung tâm Công tác xã hội Tỉnh Lào Cai.
TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
Chương trình bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh công tác xã hội
Khóa 1 (23/7/2021 -15/10/2021) Tại: Lào Cai (Trực tuyến)
BÁO CÁO THU HOẠCH CUỐI KHÓA
Học viên : Nguyễn Thị Bình Đơn vị công tác: Trung tâm Công tác xã hội Tỉnh Lào Cai.
Trang 2TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LAO ĐỘNG - XÃ
HỘI
Chương trình bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh công tác xã hội
Khóa 1 (13/7/2021 -15/10/2021) Tại: Lào Cai (Trực tuyến)
BÁO CÁO THU HOẠCH CUỐI KHÓA
Học viên : Nguyễn Thị Bình Đơn vị công tác: Trung tâm Công
Điểm (số, chữ):
Người chấm bài(họ tên và chữ
ký):
Trang 3A LỜI NÓI ĐẦU
Công tác xã hội là một nghề mới ở Việt Nam, được ra đời căn cứ theo Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 (sau đây gọi tắt là Đề án 32) Sau khi Đề án 32 được phê duyệt, các hoạt động công tác xã hội đã được các cơ quan và các tổ chức xã hội quan tâm thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau góp một phần hỗ trợ các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương giải quyết khó khăn và hòa nhập với cuộc sống của cộng đồng Trong đó các hoạt động công tác xã hội thì công tác hỗ trợ người khuyết tật tâm thần kinh có hoàn cảnh đặc biệt luôn được quan tâm, đặt lên hàng đầu
Công tác xã hội là một ngành, nghề mới tại Việt Nam Do vậy, nhận thức của mọi người về Công tác xã hội vẫn còn rất nhiều hạn chế Thứ nhất, nhiều người đồng nhất và nhầm lẫn công tác xã hội với làm từ thiện, ban ơn, ban phát hoặc nhầm lẫn công tác xã hội với các hoạt động xã hội của các tổ chức, đoàn thể Thứ hai, vai trò, vị thế cũng như tính chất chuyên nghiệp của công tác xã hội ởViệt Nam chưa được khẳng định Do vậy, để phát triển công tác xã hội ở Việt Nam cần có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, có sự liên kết giữa các cơ sở đào tạo và cơ sởthực hành công tác xãhội chuyên nghiệp Bởi vì, công tác xã hội là một hệ thống liên kết các giá trị, lý thuyết và thực hành Công tác xã hội là trung tâm, tổng hợp, kết nối và trực tiếp tham gia vào đảm bảo an sinh xã hội
Giá trị của công tác xã hội dựa trên cơ sở tôn trọng quyền lợi, sự bình đẳng,giá trị của mỗi cá nhân, nhóm và cộng đồng Giá trị được thể hiện trong các nguyên tắc hoạt động cũng như các quy điều đạo đức của công tác xã hội
Trang 5B PHẦN NỘI DUNG
PHẦN 1: KIẾN THỨC, KỸ NĂNG THU NHẬN TỪ KHÓA HỌC.
Sau khi được tham gia lớp học Bồi dưỡng tiêu chuẩn chức danh công tác xã hội viên do Trường đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức lao động– xã hội tổ chức, Các Thầy, cô giáo giảng dậy truyền đạt cho chúng em những kiến thức, kỹ năng cần thiết để trực tiếp thực hiện nhiệm; đáp ứng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp công tác xã hội viên hạng III; Chương trình học rễ hiểu được thiết kế theo các chuyên đề, đi từ kiến thức, kỹ năng chung, đến kiến thức, kỹ năng chuyên nghành
về lĩnh vực công tác xã hội, khối lượng kiến thức phù hợp với thời gian học tập của chúng em Nội dung chương chình đào tạo của khóa học gồm 2 phần với 17 chuyên
đề Đó là những kiến thức về chính trị, về quản lý nhà nước và các kỹ năng chung, định hướng phát triển chung của ngành công tác xã hội, những quan điểm
cơ bản của Đảng và nhà nước về công tác xã hội, các kiến thức kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành, góp phần nâng cao chất lượng công việc, chất lượng ngành công tác xã hội
Với 17 chuyên đề đã được học đã giúp cho chúng em cập nhật được kiến thức mới, trau rồi những kiến thức đã có, phát triển các kỹ năng cơ bản để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao theo vị trí việc làm, Một trong các nội dung giúp em hiểu sâu hơn và có thể áp dụng hiệu quả hơn trong công việc của bản thân
đó là Chuyên đề 5 “ Kỹ năng giao tiếp” chuyên đề 9 “ Công tác xã hội với người
có nhu cầu đặc biệt”, nội dung ”Công tác xã hội với người cao tuổi”
1 Nội dung chuyên đề “Kỹ năng giao tiếp”
Giao tiếp là một hoạt động mang tính xã hội, đồng thời cũng là một trong những những nhu cầu cơ bản của con người Theo nghĩa rộng, giao tiếp là cách thức để con người sống chung và làm việc chung với người khác, hay là cách đối nhân xử thế
Giao tiếp có 7 chức năng cơ bản: Chức năng truyền thông tin, chức năng
nhận thức, chức năng phối hợp hành động, chức năng điều khiển, điều chỉnh hành
vi, chức năng tạo lập mối quan hệ, chức năng cân bằng cảm xúc, chức năng hình
Trang 6thành và phát triển nhân cách
Để đạt hiệu quả trong giao tiếp cần phải nắm được các kỹ năng sau:
- Kỹ năng quan sát
- Kỹ năng chú ý
- Kỹ năng nghe
- Kỹ năng nói
- Kỹ năng phản hồi
Ngoài những kỹ năng giao tiếp trên còn có 2 kỹ năng giao tiếp gián tiếp đó là:
kỹ năng giao tiếp qua điện thoại và kỹ năng giao tiếp qua thư điện tử (e – mail)
2 Nội dung Công tác xã hội với người cao tuổi.
2 1 Một số khái niệm về người cao tuổi và dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi
* Khái niệm người cao tuổi
Người cao tuổi là một khái niệm thường được dùng để chỉ những người đã
có nhiều tuổi trong xã hội
Dưới góc nhìn của công tác xã hội, người cao tuổi là người bước vào thời kỳ
có " Những thay đổi về tâm, sinh lý, lao động-thu nhập, quan hệ xã hội và sẽ gặp phải nhiều vấn đề trong cuộc sống"
Về mặt pháp luật, ở mỗi quốc gia, trong từng thời kỳ khác nhau tùy theo các điều kiện kinh tế xã hội cụ thể mà có sự xác định khái niệm khác nhau về Người cao tuổi
Ở Việt Nam hiện nay, theo quy định trong Luật người cao tuổi ngày
23/11/2009 thì "Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên"
2.2 Đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi
* Đặc điểm sinh lý
a Quá trình lão hóa
Diện mạo thay đổi: Tóc bạc, da mồi, có thêm nhiều nếp nhăn Da trở nên khô và thô hơn Trên cơ thể, đầu và mặt xuất hiện mụn cơm nhiều hơn Ở tuổi
Trang 7già có những nếp nhăn do lớp mỡ ở dưới lớp da mất đi cũng như do da không còn tính chất đàn hồi Các mạch máu mỏng vỡ ra, tạo thành các chất xanh đen nhỏ dưới da
Bộ răng yếu làm cho người cao tuổi ngại dùng các thức ăn cứng, khô, dai
dù thức ăn này giàu vitamin, đạm và chất khoáng Người cao tuổi thường chọn các thức ăn mềm
Các cơ quan cảm giác: Cảm giác - nghe nhìn, nếm và khứu giác với tuổi tác ngày càng cao thường bắt đầu hoạt động kém hiệu quả
Các cơ quan nội tạng: Tim là một cơ bắp có trình độ chuyên môn hoá cao cùng với tuổi tác cũng phải chịu những vấn đề tương tự như các cơ bắp khác của cơ thể Tim phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của hệ tuần hoàn, mà có thể là nguyên nhân phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến lão hoá
Phổi của người già thường làm việc ít hiệu quả khi hít vào và lượng ôxy giảm Khả năng dự phòng của tim, phổi và các cơ quan khác cùng với cũng giảm sút Người già thích nghi với các điều kiện rét chậm hơn Người già dễ dàng bị cảm lạnh, nhiệt độ có thể hạ thấp sẽ rủi ro nghiêm trọng cho sức khoẻ của họ Họ cũng phải chịu đựng những khó khăn tương tự khi trong trường hợp cần thiết phải tiếp cận với nhiệt độ cao
Khả năng tình dục giảm: Do sự thay đổi của nội tiết tố, ham muốn tình dục ở người cao tuổi cũng giảm rõ rệt Ở người già xương và khớp không còn linh hoạt, mềm dẻo, các cơ đều yếu đi dẫn đến mọi cử động đều chậm chạp, vụng về Người già hay bị mệt mỏi, mọi hành vi, cử chỉ yêu đương gặp khó khăn
b Các bệnh thường gặp ở người cao tuổi
Người cao tuổi thường mắc các bệnh về:
Các bệnh tim mạch và huyết áp: Cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, suy tim, loạn nhịp tim
Các bệnh về xương khớp: Thoái hóa khớp, loãng xương, bệnh gút…
Các bệnh về hô hấp: Cảm sốt, viêm họng – mũi, cúm, viêm phế quản, viêm phổi, ung thư phổi …
Các bệnh răng miệng: Khô miệng, sâu răng, bệnh nha chu …
Trang 8 Các bệnh về tiêu hóa và dinh dưỡng: Rối loạn tiêu hóa, suy dinh dưỡng…
Ngoài ra người cao tuổi còn hay mắc các bệnh về ung bướu, bệnh thần kinh
và các bệnh về sức khỏe tâm thần…
2.3 Đặc điểm tâm lý
Trạng thái tâm lý và sức khỏe của người cao tuổi không chỉ phụ thuộc vào nội lực của bản thân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội, đặc biệt là môi trường văn hóa - tình cảm và quan trọng nhất là môi trường gia đình Khi bước sang giai đoạn tuổi già, những thay đổi tâm lý của mỗi người mỗi khác, nhưng tựu trung những thay đổi thường gặp là:
a Hướng về quá khứ
Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc sống hiện tại, người cao tuổi thường thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia hội ái hữu, hội cựu chiến binh Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm sống cũng như hướng về cội nguồn: Viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật…
b Chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực”
Khi về già người cao tuổi phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động
và nghề nghiệp Đó là chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè) sang trạng thái nghỉ ngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái tiêu cực xả hơi Do vậy người cao tuổi sẽ phải tìm cách thích nghi với cuộc sống mới Người ta dễ gặp phải “hội chứng về hưu”
c Những biểu hiện tâm lý của người cao tuổi
Những biểu hiện tâm lý của người cao tuổi có thể được liệt kê như sau:
- Sự cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn:
- Cảm nhận thấy bất lực và tủi thân:
- Nói nhiều hoặc trầm cảm:
- Sợ phải đối mặt với cái chết:
3 Nhu cầu của người cao tuổi:
- Nhu cầu hoạt động, lao động
- Nhu cầu được chăm sóc đầy đủ về sức khoẻ
- Nhu cầu tham gia các hoạt động xã hội
Trang 94 Vai trò của công tác xã hội viên trong trợ giúp người cao tuổi
- Vai trò là người tuyên truyền, giáo dục: Hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho
người cao tuổi không chỉ khi họ gặp phải khó khăn về sức khỏe, bệnh tật mà còn
hỗ trợ từ xa, khi họ còn khỏe mạnh và chưa gặp phải các vấn đề có tác động tiêu cực đến sức khỏe bản thân… thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, tuyên truyền các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi; các kiến thức và kỹ năng để phòng tránh các bệnh liên quan đến người cao tuổi, đặc biệt vào những lúc chuyển mùa hay có sự thay đổi về thời tiết; chế độ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, cách thức tự chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
- Vai trò là người tư vấn: Tư vấn chăm sóc sức khỏe đó là việc nhân viên
CTXH cung cấp các thông tin cho người cao tuổi như: các chế độ, chính sách và quy trình thủ tục thực hiện các chế độ, chính sách liên quan đến chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, trong đó có chính sách bảo hiểm y tế; kiến thức và kỹ năng phòng tránh các bệnh lý của người cao tuổi; chế độ dinh dưỡng hợp lý đối với người cao tuổi nói chung và người cao tuổi có các bệnh lý nói riêng như: tiểu đường, suy thận, huyết áp cao…;
- Vai trò là người kết nối: Kết nối người cao tuổi với các hệ thống xã hội
và với những hoạt động trợ giúp thích hợp trong dịch vụ y tế Kết nối người cao tuổi với người thân khi họ không có được sự quan tâm, chăm sóc từ phía gia đình, khi nhận được sự quan tâm của gia đình, người cao tuổi sẽ cảm thấy mình được yêu thương, chăm sóc, được tôn trọng, từ đó có động lực và cố gắng hơn trong cuộc sống
Tiếp theo là kết nối người cao tuổi với cán bộ, nhân viên y tế trong việc chăm sóc sức khỏe Bằng các kiến thức và kỹ năng của mình, nhân viên CTXH sẽ can thiệp, tác động để người cao tuổi và cán bộ, nhân viên y tế hiểu và gần gũi nhau hơn Nhân viên CTXH giúp cán bộ, nhân viên y tế hiểu rõ được hoàn cảnh, điều kiện sống, những tâm tư, nguyện vọng, đặc điểm tâm lý của người cao tuổi Đồng thời, giúp người cao tuổi hiểu được giá cả các loại thuốc, cách sử dụng thuốc,
Trang 10thời gian uống thuốc theo chỉ dẫn của y bác sỹ; giá cả và quy trình sử dụng các loại dịch vụ y tế; kế hoạch, liệu pháp điều trị của y bác sỹ đối với căn bệnh mà người cao tuổi đang gặp phải…Từ đó, thúc đẩy quá trình khám chữa bệnh được thực hiện tốt hơn
Cuối cùng là kết nối người cao tuổi với các cơ quan, tổ chức đoàn thể, cộng đồng Thông qua việc kết nối này, nhân viên CTXH sẽ giúp người cao tuổi và gia đình người cao tuổi hiểu được các chế độ, chính sách, những quy định, thủ tục liên quan đến chăm sóc sức khỏe ở các cơ quan, tổ chức để từ đó họ có thể tìm đến các
cơ quan, tổ chức khi cần thiết Hơn nữa, việc kết nối này còn giúp cho các cơ quan,
tổ chức, đoàn thể trong đó có Hội Người cao tuổi, cộng đồng để có sự quan tâm, động viên, chia sẻ về vật chất và tinh thần với người cao tuổi và gia đình người cao tuổi khi ốm đau, bệnh tật Qua đó, tăng tình đoàn kết, gắn bó, trách nhiệm chia sẻ trong tổ chức và cộng đồng, đặc biệt khi các thành viên gặp khó khăn, hoạn nạn Góp phần tăng cường và củng cố truyền thống “tương thân, tương ái”, “lá lành đùm
lá rách”, “kính già, trọng lão” tốt đẹp được di dưỡng từ bao đời nay của dân tộc ta
- Vai trò là người huy động, tìm kiếm nguồn lực: Nhân viên CTXH sẽ
tham mưu, phối hợp với chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể, trạm y
tế xã, các xóm kêu gọi các tổ chức, cá nhân trong và ngoài địa bàn đóng góp, ủng
hộ về tài chính, cơ sở vật chất cho các hoạt động chăm sóc sức khỏe như: đóng góp, ủng hộ bằng tiền để xây mới hoặc sửa chữa trạm y tế, mua giường bệnh nhân, bàn ghế làm việc, tủ thuốc hoặc đóng góp, ủng hộ bằng hiện vật như: giường bệnh nhân, bàn ghế làm việc, tủ thuốc, tủ tài liệu…
Bên cạnh đó, vai trò tìm kiếm nguồn lực của nhân viên CTXH còn được thể hiện trong việc trợ giúp cho người cao tuổi tiếp cận hoặc có được các nguồn lực cần thiết để chữa bệnh Đó là việc, nhân viên CTXH kêu gọi các tổ chức, cá nhân trợ giúp về tài chính, cơ sở vật chất cho các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi như: khám cấp thuốc miễn phí, mổ mắt miễn phí cho người cao tuổi… hoặc cho cá nhân người cao tuổi khi họ ốm đau, bệnh tật nhưng không có đủ khả năng về tài chính để giải quyết khó khăn về sức khỏe, bệnh tật gặp phải
Trang 11- Vai trò là người chăm sóc, trợ giúp: Với vai trò là người chăm sóc, nhân
viên CTXH sẽ trực tiếp chăm sóc, động viên về mặt tinh thần cho người cao tuổi để
họ vượt qua những mặc cảm, bi quan, tự ti do bệnh tật gây ra, đặc biệt là những bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo hoặc mắc các căn bệnh phải điều trị dài ngày
PHẦN 2: THỰC TẾ CÔNG VIỆC HIỆN NAY CỦA BẢN THÂN
1 Lịch sử hình thành và phát triển của đơn vị công tác.
Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Lào Cai nằm trên địa bàn Phường Bình Minh
- Thành Phố Lào Cai, Tỉnh Lào Cai
Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Lào Cai được thành lập theo Quyết định số 273/QĐ-UBND ngày 06/12/1993 của UBND tỉnh Lào Cai với tên Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Lào Cai
Trung tâm được thành lập với nhiệm vụ an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh góp phần hoàn thành nhiệm vụ của ngành Lao động - TBXH tỉnh cũng như sự phát triển của tỉnh Lào Cai
Ngay sau khi tỉnh Lào Cai được tái lập tháng 10/1991, trong lúc bộn bề công việc cho công tác quy hoạch xây dựng tỉnh lỵ mới Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã đặc biệt quan tâm đến công tác an sinh xã hội Ngày 6 tháng 12 năm 1993 UBND tỉnh ra Quyết định số 273/QĐ.UB thành lập Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Lào Cai Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh thường trú tại địa chỉ số 084 đường Nhạc Sơn,
tổ 20 phường Duyên Hải, TP Lào Cai Trung tâm được UBND tỉnh giao 8.223m2 xây dựng trụsở làm việc và nhà ở cho đối tượng, gồm: 03 nhà ở cấp IV và 01 nhà xây 2 tầng làm trụ sở làm việc và các công trình phụ trợ;
Về tổ chức bộ máy và biên chế Trung tâm tại thời điểm thành lập Trung tâm biên chế gồm 10 cán bộ: Ban giám đốc 01 đ/c và 03 bộ phận (bộ phận ytế, bộ phận hành chính, bộ phận quản lý đối tượng)
Sau 16 năm hoạt động ngày 24 tháng 8 năm 2009 UBND tỉnh ra Quyết định
số 2610/QĐ.UBND việc kiện toàn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Lào Cai theo Nghị định 68 của Chính phủ Tổ chức bộ máy và biên chế gồm 30 cán bộ, ban giám đốc gồm 03 đ/c và 03 phòng chuyên môn, 100% cán bộ có trình độ chuyên