1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

22 7 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 39,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Giao dịch dân sự được xác lập với người thứ ba phải thông qua một giao dịch dân sự có đền bù như mua bán, vay, thuê khoán…Trường hợp giao dịch dân sự với người thứ ba đối với tài sản l

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 2

B NỘI DUNG 3

I Tìm hiểu chung về người thứ ba ngay tình và bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu 3

1 Khái niệm người thứ ba ngay tình 3

2 Khái niệm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu 5

2.1 Giao dịch dân sự 5

2.2 Giao dịch dân sự vô hiệu 7

2.3 Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu 9

3 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình 9

II Biểu hiện của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu 10

III Một số điểm mới và bất cập trong quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự vô hiệu 16

1 Một số điểm mới của chế định người thứ ba ngay tình trong Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự năm 2005 17

2 Một số bất cập trong quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về bảo vệ người thứ ba ngay tình 18

3 Đề xuất giải pháp 20

C KẾT LUẬN 21

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Trên thực tế, có thể thấy giao dịch dân sự diễn ra rất phổ biến nhưng khôngphải giao dịch dân sự nào cũng có hiệu lực, được thực hiện, nó còn phụ thuộcvào rất nhiều yếu tố như chủ thể, khách thể, … Trường hợp tài sản là đối tượngcủa hợp đồng vô hiệu đã chuyển giao cho một người thứ ba ngay tình cũngkhông phải ít Đây là trường hợp đặc biệt bởi lẽ tài sản là đối tượng của hợpđồng không còn nằm trong sự quản lý của một bên chủ thể Chính vì thế, việcgiải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu mà cụ thể là hoàn trả tài sảnkhông phải là điều đơn giản Khi đó, việc bảo vệ quyền lợi của người thứ bangay tình được đặt ra Quyền của người thứ ba ngay tình đã được quy địnhxuyên suốt trong Bộ luật Dân sự từ năm 1995 đến năm 2015 Tuy nhiên, đến Bộluật Dân sự năm 2015, chúng ta mới có quy định tiến bộ vượt bậc về quyền củangười thứ ba ngay tình trên cơ sở tôn trọng và bảo vệ lợi ích hợp phát của ngườithứ ba ngay tình Vậy quyền lợi của người thứ ba khi tham gia giao dịch dân sự

sẽ được bảo vệ như thế nào? Giao dịch dân sự ban đầu vô hiệu thì các giao dịchsau có bị vô hiệu hay không? Người thứ ba ngay tình có được giữ lại những gìmình có được hay phải trả lại cho chủ sở hữu ban đầu và khi quyền lợi củangười thứ ba được ưu tiên bảo vệ thì quyền lợi của chủ sở hữu ban đầu được bảođảm như thế nào?

Để trả lời cho các câu hỏi trên, em xin lựa chọn tìm hiểu và nghiên cứu đề

tài “Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015”

Trang 3

B NỘI DUNG

I Tìm hiểu chung về người thứ ba ngay tình và bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

1 Khái niệm người thứ ba ngay tình

Có quan điểm cho rằng: “Trong quan hệ dân sự, ngoài các chủ thể hoặcngười đại diện, người được uỷ quyền tham gia giao dịch, một số trường hợp cóngười khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đó là người thứ ba trong quan hệdân sự.” [1]

Đến nay, vẫn chưa có một khái niệm nào cụ thể nào cho “người thứ ba ngaytình” Ngay cả trong Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng không đưa định nghĩa về

“người thứ ba ngay tình” mà chỉ đưa ra định nghĩa “chiếm hữu ngay tình” Theo

Điều 180 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm có căn cứ tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu”

[2] Khái niệm này vẫn chưa được rõ ràng, bởi lẽ, chúng ta khó có thể biết đượcthế nào là “người chiếm hữu có căn cứ tin rằng mình có quyền đối với tài sản”.Trong Bộ luật Dân sự năm 2015 vẫn chưa có giái thích hay liệt kê nào về điềunày

Từ đó, ta có thể xác định được 4 yếu tố để một người trở thành “người thứ

Trang 4

Ví dụ: A là người bị bệnh tâm thần và đã bị tòa án tuyên là người mất năng

lực hành vi dân sự B bằng mọi cách dụ dỗ A và A tặng B (chiếc xe đạp trị giá 5triệu) Sau đó B bán lại đồng hồ này cho C với giá 7 triệu Thực chất giao dịchdân sự giữa A và B bị vô hiệu do vi phạm về chủ thể (Điều 125 Bộ luật Dân sựnăm 2015) C là người thứ ba ngay tình, có được tài sản là chiếc xe đạp mà tàisản đó là đối tượng của một giao dịch dân sự trước đó bị vô hiệu

- Người thứ ba khi xác lập giao dịch phải "ngay tình", tức là họ không biết

hoặc không thể biết rằng mình tham gia vào giao dịch dân sự với người không

có quyền định đoạt tài sản, hoặc đối tượng của giao dịch liên quan đến giao dịchtrước đó

Khi xem xét người tham gia giao dịch có ngay tình hay không, trước hếtphải xem xét ý chí của họ và ý chí này thể hiện ra bên ngoài khách quan bằngmột hành vi cụ thể Nếu ở một điều kiện thông thường thì họ có thể biết được tàisản đưa vào giao dịch được xác lập bởi một giao dịch dân sự vô hiệu trước đóhay không? Trong trường hợp họ biết hoặc pháp luật quy định là họ buộc phảibiết thì họ không phải là người thứ ba ngay tình Nếu họ không biết và pháp luậtkhông quy định họ buộc phải biết và khi tham gia giao dịch họ chiếm giữ tài sảnkhông có biểu hiện của người tiêu thụ tài sản bất minh thì họ mới là người thứ

ba ngay tình

Ví dụ: B lợi dụng thời cơ trộm xe máy của A rồi bán lại cho C với giá 9 triệu

đồng, C đồng ý mua lại nó mà không có bất cứ giấy tờ nào liên quan Rõ ràngtrong trường hợp này C không phải người thứ ba ngay tình vì C buộc phải biếtgiao dịch này không hợp pháp vì xe máy là loại tài sản phải đăng kí mà tronggiao dịch này lại không có bất cứ loại giấy tờ gì liên quan đến chiếc xe

- Tài sản giao dịch phải được phép lưu thông Nếu là vật cấm lưu thông (ma

túy, động vật quý hiếm…) thì người thứ ba buộc phải biết mình xác lập giaodịch dân sự với đối tượng này là bất hợp pháp Trong trường hợp này, nếu ngườithứ ba tham gia giao dịch thì không được coi là "ngay tình" và không được pháp

Trang 5

luật bảo vệ Còn đối với loại tài sản mà pháp luật quy định hạn chế lưu thông(ngoại tệ, vũ khí) khi muốn tham gia vào các giao dịch dân sự thì cần phải được

sự chấp nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Nếu không có sự chấp nhận

mà người thứ ba vẫn cố tình trao đổi thì khi xảy ra những vấn đề liên quan hoàntoàn không được pháp luật bảo vệ quyền lợi

Ví dụ: Anh C mua một gói ma túy của anh B Dù cho anh C không biết gói

ma túy đó do anh B trộm cắp mà có nên giao dịch của anh C và anh B là bất hợppháp và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự do hành vi vi phạm pháp luật

- Giao dịch dân sự được xác lập với người thứ ba phải thông qua một giao dịch dân sự có đền bù như mua bán, vay, thuê khoán…Trường hợp giao dịch

dân sự với người thứ ba đối với tài sản là động sản mà thông qua một giao dịchkhông có đền bù (tặng, cho…) thì người thứ ba mặc dù ngay tình nhưng cũngkhông được pháp luật bảo vệ quyền lợi và phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu hayngười chiếm hữu hợp pháp

Ví dụ: Anh A trộm được một cái laptop của anh B Sau đó, anh A đem tặng

cho anh C nhân ngày sinh nhật của anh C Nhưng C không biết A có được tàisản đó do trộm cắp mà có Nên khi B phát hiện C đang dùng tài sản của mình thìbáo với cơ quan cảnh sát điều tra Do đó, C phải trả lại chiếc laptop cho anh A Ngoài bốn yếu tố trên, trong giao dân sự còn buộc “người thứ ba ngay tình”phải là người có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Nếutrong trường hợp mà họ không có đủ năng lực hành vi dân sự thì họ phải cóngười giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp

2 Khái niệm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân

sự vô hiệu

2.1 Giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự là một trong những phương thức hữu hiệu cho cá nhân,pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ

Trang 6

dân sự nhằm thoả mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng và trong sản xuất,

kinh doanh Theo Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015 “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” [2]

Từ đó, ta thấy giao dịch dân sự có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, nó chính là hành vi pháp lý thể hiện ý chí của một hoặc các bên

chủ thể

Thứ hai, nó phải được thể hiện ra bên ngoài dưới hình thức nhất định.

Thứ ba, nó phải có sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí.

Thứ tư, nó làm phát sinh hậu quả, thay đổi và chấm dứt quyền và nghĩa vụ

“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.” [2]

Trang 7

Trong đó, có ba điều kiện bắt buộc mà một giao dịch dân sự muốn có hiệulực phải có, đó là về chủ thể, nội dung và mục đích Đối với điều kiện về hìnhthức của giao dịch , điều kiện này chỉ đặt ra khi pháp luật có quy định.

Từ quy định trên có thể hiểu điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự lànhững điều kiện do pháp luật quy định mà một giao dịch dân sự muốn phát sinhhiệu lực pháp lý phải thoả mãn các điều kiện đó Tuy nhiên trên thực tế, để xácđịnh một giao dịch có phát sinh hiệu lực pháp lý hay không còn phải căn cứ vàocác quy định của pháp luật có liên quan và các ngành luật điều chỉnh giao dịch

đó

2.2 Giao dịch dân sự vô hiệu

Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch không có hiệu lực pháp luật và khônglàm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự cho các chủ thể trong giao dịch Theo

Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự này thì vô hiệu, trừ trường hợp luật này quy định khác” [2] Trường hợp các bên đã thực hiện hoặc

thực hiện được một phần của giao dịch thì vẫn không được công nhận về mặtpháp lý và mọi cam kết không có giá trị bắt buộc đối với các bên kể từ thời điểmcác bên giao kết giao dịch dân sự Như vậy, việc pháp luật quy định về giao dịchdân sự vô hiệu là rất cần thiết nhằm đảm bảo sự ổn định trong giao lưu dân sựđồng thời giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham giagiao dịch dân sự

Qua đó, có thể thấy một số đặc điểm chung của giao dịch dân sự vô hiệu:

Thứ nhất, giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch luôn vi phạm một trong

những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Các điều kiện này đó là:

- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của phápluật, không trái đạo đức xã hội;

Trang 8

- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;

- Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trongtrường hợp pháp luật có quy định

Thứ hai, khi giao dịch dân sự vô hiệu các bên sẽ phải gánh chịu những hậu

quả pháp lý nhất định

Thứ ba, việc quy định giao dịch dân sự vô hiệu thể hiện ý chí của Nhà nước

trong việc kiểm soát các giao dịch dân sự nhất định nếu thấy cần thiết vì lợi íchcủa Nhà nước và lợi ích công cộng

Ngoài ra Bộ luật Dân sự năm 2015 còn quy định những nguyên nhân làmcho giao dịch dân sự vô hiệu, cụ thể như:

+ Vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái với đạo đức xã hội (Điều 123

Bộ luật Dân Sự năm 2015)

+ Vô hiệu do giả tạo (Điều 124 Bộ luật Dân Sự năm 2015)

+ Vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lựchành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 125 Bộ luật Dân sự năm 2015)

+ Vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 126 Bộ luật Dân sự năm 2015)

+ Vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (Điều 127 Bộ luật Dân sự năm2015)

+ Vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ hành vi của mình(Điều 128 Bộ luật Dân sự năm 2015)

+ Vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 129 Bộ luật Dân

sự năm 2015)

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp giao dịch dân sự không thỏa mãn mộttrong những điều kiện có hiệu lực thì bị vô hiệu Trong trường hợp giao dịch dân

Trang 9

sự vi phạm điều kiện có hiệu lực chỉ bị vô hiệu khi có tuyên bố của Tòa án dựatrên yêu cầu của chủ thể trong giao dịch hoặc người đại diện của người xác lậpgiao dịch.

2.3 Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu cónghĩa là bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ trong mối quan hệ với chủ sởhữu ban đầu và người xác lập giao dịch với họ khi có một giao dịch dân sự vôhiệu trước đó làm ảnh hưởng đến quyền lợi của họ Rõ ràng, khi giao dịch dân

sự vô hiệu thì quyền lợi của người thứ ba ngay tình cần được bảo vệ

3 Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình

Để đảm bảo công bằng, hợp lý đối với người thiện chí, ngay tình và đảm bảo

sự ổn định trong các quan hệ dân sự thì các Bộ luật Dân sự trên thế giới đều ghinhận việc bảo vệ người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự và Việt Namcũng không phải ngoại lệ Qua thời gian, những điều khoản để bảo vệ quyền lợicho người thứ ba ngay tình ngày càng chi tiết, rõ ràng, mềm dẻo và linh hoạthơn

Thứ nhất, pháp luật quy định bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình

khi giao dịch dân sự vô hiệu trước hết là nhằm bảo vệ lợi ích cho chính các chủthể tham gia giao dịch một cách ngay tình Họ không thể biết rằng giao dịchmình tham gia có thể bị vô hiệu Trong mối quan hệ này, người thứ ba được coi

là ngay tình khi tham gia giao dịch vì họ tin tưởng người xác lập giao dịch vớimình là chủ sở hữu Vì vậy, họ hoàn toàn ngay thẳng, trung thực Do đó, phápluật cần phải đặt ra những quy định để bảo vệ họ là điều tất yếu

Thứ hai, bảo vệ ổn định trật tự xã hội nói chung và ổn định giao dịch dân sự

nói riêng, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Chính vì vậy, quy định của Bộ luậtDân sự không chỉ bảo vệ lợi ích của người thứ ba ngay tình mà còn bảo vệ lợi

Trang 10

ích chung của nhà nước, đảm bảo ổn định trật tự xã hội, từ đó thúc đẩy xã hộiphát triển Nếu không có cơ chế bảo vệ quyền lợi chính đáng của người thứ bangay tình thì chắc chắn các chủ thể sẽ mang tâm lý hoang mang, lo sợ và hạnchế tham gia các giao dịch dân sự Qua đó, sẽ tạo ra rào cản cho sự thúc đẩy cácgiao lưu dân sự và kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ ba, hạn chế tranh chấp phát sinh và kéo dài giữa chủ sở hữu ban đầu và

người thứ ba ngay tình Có thể nói, tranh chấp giữa chủ sở hữu ban đầu và ngườithứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu là điều khó tránh khỏi Vì vậy,việc ban hành quy định điều chỉnh vấn đề này là cần thiết để hạn chế thấp nhấttranh chấp có thể xảy ra Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho Toà án có cơ sởpháp lý rõ ràng khi giải quyết tranh chấp Từ đó, tranh chấp được giải quyết mộtcách nhanh chóng mà vẫn đảm bảo được công bằng cho các chủ thể

Tóm lại, việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân

sự vô hiệu nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể tham gia giaodịch Pháp luật ưu tiên bảo vệ quyền lợi và lợi ích chủ sở hữu nhưng những quyđịnh về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình tạo một cơ chế điều hoà lợiích giữa chủ sở hữu và người thứ ba ngay tình Việc cân đối quyền lợi giữa chủ

sở hữu và người thứ ba ngay tình có mục đích bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữuhợp pháp trên tài sản, quyền lợi chính đáng của các bên tham gia giao dịch đồngthời xem xét đến việc đảm bảo tính ổn định của quan hệ dân sự, tránh những xáotrộn không cần thiết, khuyến khích các chủ thể tự bảo vệ quyền lợi của mình,góp phần xây dựng ý thức pháp luật của các bên trong quan hệ dân sự

II Biểu hiện của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

Trong nhiều trường hợp, giao dịch dân sự vô hiệu không chỉ gây hậu quảtrực tiếp đến chủ thể trong giao dịch mà còn gây ảnh hưởng tới chủ thể thứ ba.Chủ thể thứ ba không phải là chủ thể trong giao dịch nhưng có quyền, lợi ích

Trang 11

liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu Vấn đề bảo vệ quyền lợi của người thứ

ba ngay tình được quy định tại Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:

“Điều 133 Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân

sự vô hiệu

1 Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật này.

2 Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký

đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.

Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước

có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức

có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.

3 Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại” [3]

Như vậy, quyền và lợi ích của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự

vô hiệu sẽ được bảo vệ trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao

Ngày đăng: 06/01/2022, 10:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. TS. Ngô Quốc Chiến – ThS. Nguyễn Thị Quỳnh Yến, Trường Đại học Ngoại Thương, Người thứ ba trong Bộ luật Dân sự 2015, tạp chí KTĐN số 86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người thứ ba trong Bộ luật Dân sự 2015
8. Phạm Kinh Oanh, Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu: https://luathoangphi.vn/bao-ve-quyen-loi-cua-nguoi-thu-ba-ngay-tinh-khi-giao-dich-dan-su-vo-hieu/ Link
1. Nguyễn Mạnh Hùng (2011), Thuật ngữ pháp lý, NAB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Khác
2. Bộ luật Dân sự (Hiện hành), NXB Chính trị Quốc gia sự thật, 2021 Khác
4. PGS. TS. Vũ Thị Hồng Vân, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, GT. Luật Dân sự Việt Nam tập 1, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, 2016 Khác
5. Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ Luât Dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, 2016 Khác
7. Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Vũ Hường, Trường Đại học Luật Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w