Nhờ có lý luận hình thái kinh tế - xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, C.Mác đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên trong, nội tại của sự phát triển xã hội, bản chất của từng chế đ
Trang 1-*** -TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VỚI CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hà Giang
Mã SV: 2011110063 Lớp hành chính: Anh 5, Kinh tế đối ngoại, K59 Lớp tín chỉ: TRI114(1+2.2/2021).2
GV hướng dẫn: Ths Nguyễn Thị Tùng Lâm
Trang 2HÀ NỘI, NĂM 2021
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN NỘI DUNG 4
1 Phần thứ nhất: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 4
1.1 Khái niệm các mối liên hệ 4
1.2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 4
1.3 Các tính chất của mối liên hệ 5
1.4 Phân loại các mối liên hệ 5
1.5 Ý nghĩa phương pháp luận 6
1.5.1 Quan điểm toàn diện 6
1.5.2 Quan điểm lịch sử cụ thể 7
2 Phần thứ hai: Vận dụng nguyên lý phổ biến để phân tích mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế 8
2.1 Độc lập tự chủ 8
2.2 Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội 8
2.3 Hội nhập kinh tế thế giới 9
2.3.1 Hội nhập kinh tế thế giới là một yêu cầu tất yếu khách quan 9
2.3.2 Mục đích của hội nhập kinh tế quốc tế 9
2.3.3 Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế 9
2.3.4 Các nguyên tắc chỉ đạo trong hội nhập kinh tế quốc tế 10
KẾT LUẬN 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
- Lý luận hình thái kinh tế xã hội có vai trò quan trọng sự phát triển của loài người Đó là lý luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử do C Mác xây dựng lên, có vị trí đặc biệt trong triết học Mác - Lênin Lý luận đã được khoa học thừa nhận và là phương pháp luận cơ bản trong việc nghiên cứu lĩnh vực xã hội Nhờ có lý luận hình thái kinh tế - xã hội, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, C.Mác đã chỉ rõ nguồn gốc, động lực bên trong, nội tại của sự phát triển xã hội, bản chất của từng chế độ xã hội, nghiên cứu về cấu trúc cơ bản của xã hội, cho phép phân tích đời sống hết sức phức tạp của xã hội để chỉ ra các mối quan hệ biện chứng giữa các lĩnh vực cơ bản của nó; chỉ ra quy luật vận động và phát triển của nó như một qua trình lịch sử - tự nhiên Lý luận đó giúp chúng ta nghiên cứu một cách đúng đắn và khoa học sự vận hành của xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định cũng như tiến trình vận động lịch sử nói chung của xã hội loài người
- Về thực tiễn, tại Đại hội Đảng cộng sản toàn quốc lần thứ XI, Đảng đã khẳng định việc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Mục tiêu này sẽ không thể thực hiện trọn vẹn nếu không có cơ sở lí luận chặt chẽ và sử dụng triết học Mác làm tiền đề Vì vậy, em đã quyết định thực hiện tiểu luận với đề
tài “LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VỚI CON ĐƯỜNG
ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA” Trong quá trình thực
hiện, em xin gửi lời cảm ơn tới cô Nguyễn Thị Tùng Lâm, giảng viên môn Triết học Mác – Leenin đã giúp em hoàn thành đề tài này
Mục đích nghiên cứu
- Hiểu được các khái niệm về mối liên hệ phổ biến trong triết học Mác – Lênin
- Ứng dụng của quan niệm mối liên hệ phổ biến trong việc phân tích các hình thái kinh tế xã hội, xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa vững mạnh phát triển
Trang 5PHẦN NỘI DUNG
1 Phần thứ nhất:
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Phép biện chứng duy vật được tạo thành từ hệ thống những phạm trù, những nguyên lý, những quy luật được khái quát từ hiện thực, phù hợp với hiện thực, phản ánh đúng hiện thực Trong hệ thống đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là những nguyên lý khái quát nhất làm sáng tỏ những quy luật của sự liên hệ và sự phát triểncủa tự nhiên, xã hội và
tư duy Ở đây ta chỉ nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng và kinh tế độc lập, tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Nghiên cứu nguyên lý này, trước hết cần làm rõ khái niệm về mối liên hệ
1.1 Khái niệm các mối liên hệ
Thế giới được tạo thành từ những sự vật, hiện tượng và những quá trình khác nhau Mỗi sự vật cũng được cấu thành từ các mặt, các yếu tố khác nhau Vậy giữa chúng có mối quan hệ gì (tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau) hay tồn tại độc lập, tách rời nhau? Nếu giữa chúng có sự tác động qua lại thì cái gì quy định sự tác động đó?
Trả lời cho câu hỏi thứ nhất, quan điểm duy vật biện chứng cho rằng: các sự vật, hiện tượng, các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt nhau, vừa
có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau Mỗi sự vật cũng là một chỉnh thể thống nhất Các mặt, các yếu tố cấu thành sự vật đó cũng có mối liên hệ như vậy
Trả lời cho câu hỏi thứ hai, quan điểm duy vật biện chứng cho rằng tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng cấu thành thế giới đó Nhờ sự thống nhất đó, các sự vật, hiện tượng không thể tồn tai độc lập, mà luôn tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau Khái quát lại, triết học duy vật biện chứng định nghĩa: Mối liên hệ là một phạm trù triết học để chỉ sự tác động qua lại, sự quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng cấu thành thế giới hay giữa các yếu tố, các
bộ phận cấu thành 1 sự vật, một hiện tượng trong thế giới đó
1.2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Bàn về sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, lịch sử triết học cho rằng các sự vật, hiện tượng của thế giới tồn tại trong mối liên hệ qua lại với nhau, quy định lẫn nhau, thâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau Đó là nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lý nói trên đã khái quát toàn cảnh thế giới trong những mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật, hiện tượng cấu thành thế giới Tính vô hạn của thế
Trang 6giới cũng như tính vô lượng các sự vật, hiện tượng trong đó chỉ có thể giải thích được trong mối liên hệ phổ biến, được quy định bằng các mối liên hệ có hình thức, vai trò khác nhau
1.3 Các tính chất của mối liên hệ
Từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, “mối liên hệ” có ba tính chất cơ bản: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú
- Tính khách quan: Mối liên hệ có tính khách quan là vì các mối liên hệ là vốn
có của mọi sự vật, hiện tượng, nó tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thực của con người
- Tính phổ biến: Biểu hiện ở chỗ: mọi sự vật, hiện tượng ở bất kì không gian nào, thời gian nào cũng liên hệ với những yếu tố, những mặt khác trong sự vật, hiện tượng đó Tính phổ biến của mối liên hệ còn biểu hiện trong thế giới tinh thần - thế giới vô hình so với thế giới vật chất – hữu hình, như các hình thức của tư duy (khái niệm, phán đoán, suy lý) hay những phạm trù kha học – hình thức của nhận thức cùng liên hệ chặt chẽ với nhau và liên hệ với các vật chất – nguyên mẫu hiện thực khách quan, mà các hình thức này chỉ
là sự phản ánh, tái tạo lại chúng
1.4 Phân loại các mối liên hệ
Từ tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ, có thể phân chia các mối liên hệ thành từng cặp như sau:
- Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài
- Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu
- Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp
- Mối liên hệ tất yếu và mối liên hệ ngẫu nhiên
- Mối liên hệ chung của toàn bộ thế giới và mối liên hệ bao quát một hoặc một
số lĩnh vực riêng biệt của thế giới đó
- Mối liên hệ giữa các giai đoạn phát triển của sự vật
Các loại liên hệ khác nhau có vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, vận động
và phát triển của các sự vật, hiện tượng Sự phân chia các mối liên hệ theo từng cặp như trên chỉ mang tính tương đối Mỗi loại trong từng cặp có thể chuyển hóa lẫn nhau Cần chú ý khi nghiên cứu các mối liên hệ, phép biện chứng duy vật nghiên cứu các mối liên hệ chung mang tnhs phổ biến, chi phối sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng; đồng thời sự nghiên cứu toàn diện trong chứng mực nhất định các mối liên hệ khác để phục vụ cho chủ đề nghiên cứu, ở đây ta chú ý một cặp liên hệ chủ yếu là mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài
Trang 7- Mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, tác động lẫn nhau giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một sự vật; nó giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật
- Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng khác nhau, nói chung nó không có ý nghĩa quyết định đối với sự vận động phát triển của
sự vật, mà thường phải thông qua mối liên hệ bên trong để phát huy tác dụng đối với sự vận động và phát triển của sự vật
1.5 Ý nghĩa phương pháp luận
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến cung cấp cho ta phương pháp luận chỉ đạo hoạt động nhận thức và thực tiễn là phải có quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể
1.5.1 Quan điểm toàn diện
Để nhận thức được đúng về sự vật (về sự tồn tại, vận động và phát triển của nó) cần nghiên cứu toàn diện các mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các mặt cấu thành sự vật đó và giữa sự vật đó với các sự vật khác Đồng thời, ta cần xác định đúng đắn từng mối liên hệ (bên trong, bên ngoài; chủ yếu, thứ yếu; tất nhiên, ngẫu nhiên; trực tiếp, gián tiếp;… ); phân biệt rõ vai trò của từng mối liên hệ trong từng cặp liên hệ; sự chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng Hơn nữa, quan điểm toàn diện còn đòi hỏi chúng ta cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Trên cơ sở đó, ta xác định đúng phương pháp tác động hiệu quả, phù hợp với mục đích, yêu cầu của con người
Mặt khác, cần chú ý một điểm rất quan trọng, là: tri thức, nhận thức của con người là có hạn Tri thức, nhận thức về sự vật luôn có tính tương đối, không đầy
đủ, luôn luôn phải bồi đắp Tránh tuyệt đối hóa những tri thức, nhận thức đã có
về sự vật, hiện tượng, coi đó là chân lý tuyệt đối, bất biến không thể bổ sung, không thể phát triển Như thế là cứng nhắc và sai lầm Bên cạnh đó, quan điểm toàn diện cũng yêu cầu tránh xem xét dàn trải tất cả các mối liên hệ nào là mối liên hệ cơ bản, mối liên hệ nào là quan trong nhất và chi phối để đi sâu nghiên cứu và đề ra các giải pháp hiệu quả, phù hợp
Vận dụng quan điểm toàn diện để phân tích đường lối mới của Đảng ta được đề
ra tại Đại hội VI ta thấy, thực tiễn nước ta yêu cầu Đảng ta phải đề ra đường lối đổi mới toàn diện (chính trị, kinh tế, xã hội), trước hết là đổi mới tư duy, từ tư duy lý luận tới tư duy chính trị về chủ nghĩa xã hội, trong đó coi đổi mới tư duy kinh tế, đổi mới kinh tế là trọng tâm Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định:
“Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và chính sách đối nội, đối ngoại,… Song Đảng ta đã đúng khi tập trung trước hết vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề vật chất cần
Trang 8thiết về vật chất và tinh thần đề giữ vững, ổn định chính trị, xây dựng và củng
cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác nhau của đời sống xã hội”1
1.5.2 Quan điểm lịch sử cụ thể
Sự ra đời, vận động, phát triển và diệt vong của mỗi sự vật, hiện tượng đều gắn với một không gian, thời gian cụ thể; gắn với mối liên hệ với các sự vât khác Vì vậy, khi xem xét, giải quyết một vấn đề nào đó do thực tiễn đặt ra, cần có quan điểm lịch sử - cụ thể Điều đó có nghĩa là: phải xem xét đúng mức hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, bối cảnh khách quan của sự ra đời và phát triển của nó Ví dụ, việc xem xét, đánh giá mô hình hợp tác xã nông nghiệp ở miền Bắc trong những năm 1960 – 1970, ta phải xem xét hoàn cảnh lịch sử của nước ta những năm đó (vừa hoàn thành khôi phục kinh tế sau chiến tranh chống Pháp, nước ta bị chia làm 2 miền, phải đông thời thực hiện hai nhiệm
vụ chiến lược, đặc biệt từ năm 1965 khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc,…) và điều kện cụ thể lúc đó (nông nghiệp sản xuất nhỏ, chúng ta thiếu lý luận và kinh nghiệm trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp, lại bị ảnh hưởng rất lớn về quan niệm chủ nghĩa xã hội và tập thể hóa của Liên Xô, Trung Quốc, ); Từ
đó, ta thấy được mặt tích cực và tiêu cực, đông thời hiểu rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan; bên trong và bên ngoài của việc duy trì quá lâu mô hình hợp tác xã đã lạc hậu khi hoàn cảnh đất nước đã thay đổi
Trang 92 Phần thứ hai:
Vận dụng nguyên lý phổ biến để phân tích mối quan hệ giữa
độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế
Độc lập dân tộc là khát vọng của dân tộc ta qua suốt chiều dài mấy ngàn năm lịch sử chống sự xâm lược của nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc và của
đế quốc Thực dân
Trong chiến tranh giải phóng dân tộc, nội hàm của độc lập dân tộc là đánh đổ ách thống trị của ngoại bang, giành chính quyền về tay nhân dân, giành chủ quyền quốc gia về lãnh thổ, hay nói cách khacsm nội hàm độc lập của dân tộc là về chính trị
Sau năm 1954, miền Bắc được giải phóng và sau năm 1975 giải phóng miền Nam, cả nước sạch bóng quân thù cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Nội hàm độc lập bao hàm tất cả các mặt của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa
2.1 Độc lập tự chủ
Độc lập tự chủ là nói đến địa vị làm chủ của nhân dân mà đại diện là Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam do Đảng lãnh đạo đối với các mặt của đời sống xã hội Đồng thời nói đến năng lực làm chủ quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước về mọi mặt, không phụ thuộc vào nước khác và các thế lực bên ngoài
2.2 Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tất yếu, khách quan, phản ánh đúng đắn đặc điểm của nước ra được Đảng ta xác định trong Cương lĩnh, đường lối, chính sách qua các thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc và trong hòa bình, bảo vệ và xây dựng đất nước
Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là ngọc cờ của dân tộc trong các thời kỳ cách mạng Tất cả mọi hoạt động của cả hệ thống chính trị đều quán triệt mục tiêu này trong bảo vệ, xây dựng đất nước và trong quan hệ đối ngoại
Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội không phải là tự khép kín, tự cô lập, không dám mạnh dạn mở rộng quan hệ đối ngoại vì lo sợ mất độc lập, tự chủ, phải phụ thuộc vào nước khác, vào các thế lực bên ngoài, sợ mất chủ nghĩa xã hội
- Độc lập tự chủ và kinh tế trong mối liên hệ với hội nhập kinh tế thế giới:
Xử lý mối liên hệ này, một mặt chúng ta phải phát huy nội lực của đất bước, làm cho \kinh tế ươc sta phát triển lớn mạnh và bền vững, đủ sức chủ động
Trang 10hội nhập, tránh bị lệ thuộc vào kinh tế thế giói Bên cạnh đó, Đảng, nhà nước
ta phải luôn nắm vưng tình hình thế giới, nhất là môi trường chính trị, môi trường kinh tế và sự vận động của chính trị, kinh tế thế giói, bình tĩnh, tỉnh toán , nhạy bén lựa chọn đúng linh vực hợp tác mà đất nước mình đang cần, thực hiện có hiệu quả chính sách kinh tế đối ngoại Mặt khác, phải biết tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách do môi trường quốc tế đem lại (toàn cầu hóa, quốc tế hóa) Ở đây, yếu tốc bên trọng (nội lực) có tính quyết định Yếu tố bên ngoài rất quan trọng giúp cho nội lực thêm mạnh, góp phần thực hiện mực tiêu phát triển trong từng thời kỳ và các mục tiêu chiến lược trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
2.3 Hội nhập kinh tế thế giới:
2.
3 1 Hội nhập kinh tế thế giới là một yêu cầu tất yếu khách quan:
Nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa Đã là kinh tế thị trường thì nó là nền kinh tế mở, tức là có nhiều mối quan hệ với thị trường thế giới Vì vậy, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, gia nhập thị trường thế giới là một tất yếu kinh tế khách quan Không có nước nào đóng cửa mà phát triển được
2.
3.2 Mục đích của hội nhập kinh tế quốc tế:
Một trong nhứng bài học kinh nghiệm quý báu, một nguyên nhân quan trọng tạo nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp Trong đó, sức mạnh dân tộc
là quyết định sức mạnh thời đại là rất quan trọng
Trong hội nhập kinh tế quốc tế, “sức mạnh thời đại” ở đây cần được huy động là nguồn lực về kinh tế, tài chính, công nghệ, khoa học kỹ thuật, trình
độ tổ chức quản lý, đào tạo chuyên gia… của nước ngoài, góp phần tăng thêm khối lượng của cải, tiềm lực kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất, góp phần thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phục vụ mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, thực hiện từng bước mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh
2.
3.3 Các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế :
Có nhiều hình thức: hợp tác sản xuất (nhận gia công , xây dựng xí nghiệp liên doanh, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu kỹ thuật cao, hợp tác khoa học công nghệ (bao gồm đưa lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài); hợp tác tín dụng quốc tế; đầu tư quốc tế, ngoại thương…) trong đó, đầu tư quốc tế và ngoại thương là hình thức cơ bản nhất Dưới đây chỉ đề cấp đến hình thức đầu tư quốc tế:
Đầu tư quốc tế: có tác động hai mặt đối với các nước nhận đầu tư:
- Mặt tích cực: làm thêm nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ
quản lý tiên tiến, tạo thêm việc làm, đào tạo tay nghề, khai thác tài nguyên,