Bản chất của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sảnxuất; nhấn mạnh những c
Trang 1Nhóm sinh viên thực hiện: 05 Lớp tín chỉ: KTE306(2.2/2021).7 Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Quang Minh Danh sách thành viên nhóm:
Trần Thị Thùy Dương (Nhóm trưởng) 1917710031
Hà Nội – 6/2021
TÊN ĐỀ TÀI: TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 4 (CÁCH MẠNG 4.0) ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ QUỐC TẾ TRÊN THẾ GIỚI
BÁO CÁO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
Hà Nội – 6/2021
Trang 2MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU 3
B NỘI DUNG 5
I Khái quát về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 5
1 Khái niệm CMCN 4.0 5
2 Đặc điểm của CMCN 4.0 6
2.1 Kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể 6
2.2 Quy mô và tốc độ phát triển - Chưa có tiền lệ trong lịch sử nhân loại 7
2.3 Tác động mạnh mẽ và toàn diện đến thế giới đương đại 7
3 Sự phát triển của Internet, các mạng xã hội, smartphone hiện nay 11
4 Chi tiêu nghiên cứu KHCN của thế giới 13
5 Số lượng các bằng đăng ký các dối tượng sở hữu trí tuệ trên thế giới 14
II Tác động của cuộc CMCN 4.0 đối với thương mại dịch cụ quốc tế 15
1 Thúc đẩy gia tăng quy mô XKDV 15
2 Làm thay đổi hương thức cung ứng – tiêu dùng DV 17
3 Việc cung ứng DV chuyển từ sử dụng nhiều sức lao động truyền thống sang việc sử dụng lao động tri thức với công nghệ hiện đại 19
4 Dịch bệnh Covid-19 đã thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng thay đổi phương thức cung ứng và tiêu dùng dịch vụ 23
5 Tác động đến một số lĩnh vực dịch vụ cụ thể 25
5.1 Đối với du lịch quốc tế 25
5.2 Đối với dịch vụ vân tải quốc tế 31
5.3 Đối với dịch vụ thông tin – viễn thông – dịch vụ máy tính 34
5.4 Đối với dịch vụ chuyển quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ 37
5.5 Đối với dịch vụ giáo dục 39
III Tác động của dịch bệnh Covid – 19 đối với thương mại dịch vụ quốc tế 42 1 Tác động tiêu cực: 42
1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh ngạch xuất khẩu dịch vụ: 42
1.2 Đối với dịch vụ du lịch quốc tế: 43
1.3 Đối với dịch vụ vận tải hàng không: 44
1.4 Đối với các dịch vụ khác: 44
2 Tác động tích cực: 45
2.1 Dịch vụ phân phối: 45
2.2 Dịch vụ viễn thông, công nghê thông tin và truyền thông 45
C KẾT LUẬN 47
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 3DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1 Biểu đồ phân bổ của người dùng Internet trên thế giới 11
Bảng 3.2 Biểu đồ kỹ thuật số trên thế giới 12
Bảng 4.1 Biểu đồ chi tiêu cho nghiên cứu KHCN của thế giới 13
Bảng 5.1 Biểu đồ số lượng bằng sở hữu trí tuệ trên thế giới 15
Bảng 1.1 Biểu đồ kim ngạch và tỷ trọng XKDV so với tổng kim ngạch XK thế giới 16 Bảng 5.1.1 Thống kê lưu lượng người dùng Internet 2020 27
Bảng 5.1.2 Ước tính số lượng người dùng mạng xã hội trên thế giới 27
Bảng 5.1.3 Doanh thu và tỷ trọng doanh thu DLQT trong tổng XKDV thế giới 28
Bảng 5.2.1 Kim ngạch và tỷ trọng XKDV vụ vận tải quốc tế 32
Bảng 5.3.1 Kim ngạch và tỷ trọng XKDV thông tin- viễn thông- DV máy tính 37
Bảng 5.4.1 Kim ngạch và tỷ trọng XKDV chuyển quyền sử dụng các dịch vụ SHTT 38
Bảng 1.1.1 Tỷ trọng thương mại dịch vụ giai đoạn cuối năm 2019 - 2020 (theo quý) 43
Trang 4A LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển vượt bậc của hệ thống thông tin toàn cầu tốc độ cao, điệntoán đám mây công suất và dung lượng lớn, nguồn cảm biến có kích thước nhỏnhưng giá cả lại hấp dẫn hơn, cuộc Cách mạng công nghiệp 3.0 khi đạt tới đỉnh điểm
sẽ tạo ra sự kết nối vô hình nhưng vô cùng mạnh mẽ giữa không gian số và thế giớithực Internet kết nối hàng tỷ người trên thế giới với nhau, mạng lưới này ngày càngrộng, đòi hỏi sự đột phá trong lĩnh vực này phải mạnh mẽ hơn nữa để thế giới trở nênthông minh và được tối ưu hoá hết mức có thể Trong điều kiện đó, cuộc Cách mạngcông nghiệp 4.0 ra đời dần đổi mới nền tảng số của mọi lĩnh vực Đối với thươngmại dịch vụ quốc tế trên thế giới, đây cũng là giai đoạn bước ngoặt với nhiều tácđộng mạnh mẽ đáng chú ý
Xuất phát từ những ảnh hưởng rộng rãi đó mà chúng em lựa chọn đề tài “Tác
động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (cuộc cách mạng 4.0) đối với thương mại dịch vụ quốc tế trên thế giới” để nghiên cứu và phân tích chuyên sâu.
Chủ đề sẽ đi sâu tìm hiểu về tác động sự liên kết giữa cuộc Cách mạng côngnghiệp lần thứ 4 với thương mại dịch vụ quốc tế trên toàn thế giới Đồng thời giảiquyết những vấn đề còn tồn tại trong lĩnh vực này
Trong quá trình nghiên cứu do lượng kiến thức còn hạn chế có thể dẫn tới nhiềusai sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy để bài tập được hoàn thiệnhơn
Trang 5Thuật ngữ "Cách mạng công nghiệp lần thứ tư" đã được áp dụng cho sự pháttriển công nghệ quan trọng một vài lần trong 75 năm qua, và là để thảo luận về họcthuật Khái niệm Công nghiệp 4.0 hay nhà máy thông minh lần đầu tiên được đưa ratại Hội chợ công nghiệp Hannover tại Cộng hòa Liên bang Đức vào năm 2011 Côngnghiệp 4.0 nhằm thông minh hóa quá trình sản xuất và quản lý trong ngành côngnghiệp chế tạo Sự ra đời của Công nghiệp 4.0 tại Đức đã thúc đẩy các nước tiên tiếnkhác như Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ thúc đẩy phát triển các chương trình tương tựnhằm duy trì lợi thế cạnh tranh của mình.
Năm 2013, một từ khóa mới là "Công nghiệp 4.0" (Industrie 4.0) bắt đầu nổi lênxuất phát từ một báo cáo của chính phủ Đức đề cập đến cụm từ này nhằm nói tớichiến lược công nghệ cao, điện toán hóa ngành sản xuất mà không cần sự tham giacủa con người
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) lần thứ 46 đã chính thức khai mạc tại
thành phố Davos-Klosters của Thụy Sĩ, với chủ đề “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4”, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã đưa ra một định nghĩa mới, mở rộng
hơn khái niệm Công nghiệp 4.0 của Đức Nhân loại đang đứng trước một cuộc cáchmạng công nghiệp mới, có thể thay đổi hoàn toàn cách chúng ta sống, làm việc vàquan hệ với nhau Quy mô, phạm vi và sự phức tạp của lần chuyển đổi này khônggiống như bất kỳ điều gì mà loài người đã từng trải qua
Trang 6Cụ thể, đây là “một cụm thuật ngữ cho các công nghệ và khái niệm của tổ chức trong chuỗi giá trị” đi cùng với các hệ thống vật lý trong không gian ảo, Internet kết
nối vạn vật (IoT) và Internet của các dịch vụ (IoS)
Hiện nay, Công nghiệp 4.0 đã vượt ra khỏi khuôn khổ dự án của Đức với sựtham gia của nhiều nước và trở thành một phần quan trọng của cuộc cách mạng côngnghiệp lần thứ tư
Bản chất của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là dựa trên nền tảng công nghệ số
và tích hợp tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sảnxuất; nhấn mạnh những công nghệ đang và sẽ có tác động lớn nhất là công nghệ in3D, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, người máy, Cuộc cách mạng công nghiệp thứ 4 hay Công nghiệp 4.0, là xu hướng hiện tạicủa tự động hóa và trao đổi dữ liệu trong công nghệ sản xuất Nó bao gồm các hệthống mạng vật lý, mạng Internet kết nối vạn vật và điện toán đám mây
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 không chỉ là về các máy móc, hệ thốngthông minh và được kết nối, mà còn có phạm vi rộng lớn hơn nhiều Đồng thời là cáclàn sóng của những đột phá xa hơn trong các lĩnh vực khác nhau từ mã hóa chuỗi gencho tới công nghệ nano, từ các năng lượng tái tạo tới tính toán lượng tử
Công nghiệp 4.0 tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo ra các "nhà máy thông minh" hay “nhà máy số” Trong các nhà máy thông minh này, các hệ thống vật lý
không gian ảo sẽ giám sát các quá trình vật lý, tạo ra một bản sao ảo của thế giới vật
lý Với IoT, các hệ thống vật lý không gian ảo này tương tác với nhau và với conngười theo thời gian thực, và thông qua IoS thì người dùng sẽ được tham gia vàochuỗi giá trị thông qua việc sử dụng các dịch vụ này
2 Đặc điểm của CMCN 4.0
2.1 Kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể
Cuộc cách mạng công nghệ đang diễn ra, còn được nhiều chuyên gia gọi là
“Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, đã bắt đầu từ những năm 2000, đặc trưngbởi sự hợp nhất, không có ranh giới giữa các lĩnh vực công nghệ, vật lý, kỹ thuật số vàsinh học Đây là xu hướng kết hợp giữa các hệ thống ảo và thực thể, vạn vật kết nốiInternet (IoT) và các hệ thống kết nối Internet (IoS)
Trang 7Cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư này đang làm thay đổi cách thức sản xuất,chế tạo Trong các “nhà máy thông minh”, các máy móc được kết nối Internet và liênkết với nhau qua một hệ thống có thể tự hình dung toàn bộ quy trình sản xuất rồi đưa
ra quyết định sẽ thay thế dần các dây chuyền sản xuất trước đây Nhờ khả năng kết nốicủa hàng tỷ người trên trên thế giới thông qua các thiết bị di động và khả năng tiếpcận được với cơ sở dữ liệu lớn, những tính năng xử lý thông tin sẽ được nhân lên bởinhững đột phá công nghệ trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, công nghệ ngườimáy, Internet kết nối vạn vật, xe tự lái, công nghệ in 3 chiều, công nghệ nano, côngnghệ sinh học, khoa học vật liệu, lưu trữ năng lượng và tính toán lượng tử
2.2 Quy mô và tốc độ phát triển - Chưa có tiền lệ trong lịch sử nhân loại
Tốc độ phát triển của những đột phá trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư này
là không có tiền lệ trong lịch sử Nếu như các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây
diễn ra với tốc độ theo cấp số cộng (hay tuyến tính) thì tốc độ phát triển của cách mạng công nghiệp lần thứ tư này là theo cấp số nhân Thời gian từ khi các ý tưởng về
công nghệ và đổi mới sáng tạo được phôi thai, hiện thực hóa các ý tưởng đó trong cácphòng thí nghiệm và thương mại hóa ở quy mô lớn các sản phẩm và quy trình mớiđược tạo ra trên phạm vi toàn cầu được rút ngắn đáng kể.Những đột phá công nghệdiễn ra trong nhiều lĩnh vực như kể trên với tốc độ rất nhanh và tương tác thúc đẩynhau đang tạo ra một thế giới được số hóa, tự động hóa và ngày càng trở nên hiệu quả
và thông minh hơn
2.3 Tác động mạnh mẽ và toàn diện đến thế giới đương đại
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có những tác động to lớn về kinh tế, xã hội và môi trường ở tất cả các cấp – toàn cầu, khu vực và trong từng quốc gia Các tác động này mang tính rất tích cực trong dài hạn, song cũng tạo ra nhiều thách thức điều chỉnh trong ngắn đến trung hạn.
Về mặt kinh tế, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có tác động đến tiêu dùng, sản xuất và giá cả Từ góc độ tiêu dùng và giá cả, mọi người dân đều được
hưởng lợi nhờ tiếp cận được với nhiều sản phẩm và dịch vụ mới có chất lượng với chiphí thấp hơn
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng tác động tích cực đến lạm phát toàn cầu Nhờ những đột phá về công nghệ trong các lĩnh vực năng lượng (cả sản xuất
Trang 8cũng như sử dụng), vật liệu, Internet vạn vật, người máy, ứng dụng công nghệ in 3D(hay còn được gọi là công nghệ chế tạo đắp dần, có ưu việt là giúp tiết kiệm nguyênvật liệu và chi phí lưu kho hơn nhiều so với công nghệ chế tạo cắt gọt truyền thống
v.v… đã giúp giảm mạnh áp lực chi phí đẩy đến lạm phát toàn cầu nhờ chuyển đổi
sang một thế giới hiệu quả, thông minh và sử dụng nguồn lực tiết kiệm hơn
Từ góc độ sản xuất, trong dài hạn, cuộc cách mạng công nghiệp lần này sẽ tác động hết sức tích cực Kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn tăng trưởng chủ yếu
dựa vào động lực không có trần giới hạn là công nghệ và đổi mới sáng tạo, thay chotăng trưởng chủ yếu dựa vào các yếu tố đầu vào luôn có trần giới hạn
Tuy nhiên cuộc cách mạng công nghệ này đang tạo ra những thách thức liên
quan đến những chi phí điều chỉnh trong ngắn đến trung hạn do tác động không đồng đều đến các ngành khác nhau: có những ngành sẽ tăng trưởng mạnh mẽ và có những ngành sẽ phải thu hẹp đáng kể Trong từng ngành, kể cả các ngành tăng trưởng, tác động cũng có sự khác biệt giữa các doanh nghiệp, với sự xuất hiện và tăng trưởng nhanh của nhiều doanh nghiệp tạo ra những công nghệ mới và sự thu hẹp, kể cả đào thải của các doanh nghiệp lạc nhịp về công nghệ.
Chính vì vậy mà Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang vẽ lại bản đồ kinh
tế trên thế giới, với sự suy giảm quyền lực của các quốc gia dựa chủ yếu vào khai thác
tài nguyên và sự gia tăng sức mạnh của các quốc gia dựa chủ yếu vào công nghệ vàđổi mới sáng tạo:
Nhiều quốc gia phát triển song chủ yếu dựa vào tài nguyên như Úc, Canada,
Na Uy v.v… đang phải trải qua một quá trình tái cơ cấu nền kinh tế nhiều thách thức
A rập Xê út gần đây đã chính thức tuyên bố về kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế vàchuyển đổi mô hình tăng trưởng để giảm mạnh sự phụ thuộc vào dầu mỏ Trừ Ấn Độ,các nước còn lại trong nhóm BRICS đang gặp nhiều thách thức do có nền kinh tế dựanhiều vào tài nguyên khoáng sản
Nước Mỹ - đầu tàu thế giới về công nghệ và dẫn dắt cuộc cách mạng côngnghiệp lần thứ tư đang khôi phục vị thế hàng đầu của mình trên bản đồ kinh tế thếgiới.Các nước Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) cũng tham gia mạnh mẽvào quá trình này, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo Trung Quốc cũng lànước có thể sẽ được hưởng lợi nhiều do sau nhiều năm xây dựng và củng cố khả năng
áp dụng và hấp thụ công nghệ thông qua tăng trưởng xuất khẩu (kể cả bắt chước và
Trang 9sao chép) đã bắt đầu bước vào giai đoạn tạo ra công nghệ với sự xuất hiện mạnh mẽcủa một số tập đoàn phát triển công nghệ hàng đầu thế giới Điều này giúp TrungQuốc giảm nhẹ được tác động của quá trình điều chỉnh đang diễn ra sau giai đoạn tăngtrưởng nóng của thập niên trước.
Tại châu Âu, một số nước như Đức, Na Uy có thể tham gia và tận dụng đượcnhiều cơ hội từ cuộc cách mạng công nghiệp mới Tuy nhiên, nhiều nền kinh tế châu
Âu khác tỏ ra hụt hơi trong cuộc đua này cho dù có hệ thống nguồn nhân lực tốt, được
lý giải một phần là do tinh thần và môi trường khởi nghiệp để thúc đẩy phát triển côngnghệ mới không bằng so với Mỹ và các nước Đông Bắc Á
Bản đồ sức mạnh của các doanh nghiệp cũng đang được vẽ lại: các tập đoàn lớn
vang bóng một thời và thống lĩnh thị trường trong một giai đoạn dài đang bị các doanhnghiệp trẻ khởi nghiệp trong giai đoạn gần đây trong lĩnh vực công nghệ vượtmặt.Một số ví dụ điển hình là:
Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, các công ty như Google, Facebook v.v…đang tăng trưởng nhanh, trong khi các công ty tiếng tăm khác như IBM, Microsoft,Cisco, Intel, hay một loạt các tập đoàn điện tử lớn của Nhật Bản đang phải trải quamột quá trình tái cơ cấu đầy khó khăn Sự sụp đổ của các “ông lớn” như Nokia, haytrước đó là Kodak cho thấy nguy cơ “sai một ly đi một dặm” mà các công ty phải đốimặt trong cuộc cạnh tranh đã khốc liệt lại càng khốc liệt hơn trong thời đại của cuộccách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra với tốc độ của “lũ quét”
Trong lĩnh vực chế tạo, các công ty ô tô truyền thống đang chịu sức ép cạnhtranh quyết liệt từ các công ty mới nổi lên nhờ cách tiếp cận mới như Tesla đang đẩymạnh sản xuất ô tô điện và tự lái, cũng như Google và Uber
Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, quá trình tái cơ cấu đang diễn ra trên diệnrộng ảnh hưởng đến việc làm của hàng triệu nhân viên trong 10 năm tới do ứng dụngngân hàng trực tuyến di động, và sự cạnh tranh quyết liệt từ các doanh nghiệp khởinghiệp từ Silicon Valley cung cấp các dịch vụ tài chính rẻ hơn nhiều cho khách hàngnhờ ứng dụng điện toán đám mây Ngành bảo hiểm cũng đang chịu sức ép tái cơ cấudưới tác động của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, và tương lai sụt giảm nhu cầu bảohiểm xe cộ khi xe tự lái trở nên phổ biến trên thị trường
Cuộc cạnh tranh toàn cầu lại càng thêm khốc liệt với sự nhập cuộc của nhiềucông ty đa quốc gia siêu nhỏ, đang trở thành một xu hướng rõ nét nhờ hạ tầng thông
Trang 10tin Internet cho hiện thực và thương mại hóa một ý tưởng mới trên toàn cầu một cáchnhanh chóng do chi phí giao dịch giảm mạnh, giúp giảm đáng kể chi phí và quy mônhập cuộc
Tác động đến môi trường là tích cực trong ngắn hạn và hết sức tích cực trong
trung và dài hạn nhờ các công nghệ tiết kiệm năng lượng, nguyên vật liệu và thânthiện với môi trường Các công nghệ giám sát môi trường cũng đang phát triển nhanh,đồng thời còn được hỗ trợ bởi Internet kết nối vạn vật, giúp thu thập và xử lý thông tinliên tục 24/7 theo thời gian thực, ví dụ thông qua các phương tiện như máy bay khôngngười lái được kết nối với Internet được trang bị các camera và các bộ phận cảm ứng
có khả năng thu thập các thông tin số liệu cần thiết cho việc giám sát
Tác động đến xã hội thông qua kênh việc làm trong trung hạn là điều đáng quan
ngại nhất hiện nay Trong những thập niên gần đây, bất bình đẳng về thu nhập đã có
xu hướng tăng nhanh, nổi bật là 1% số người giàu nhất nắm tài sản tương đương với99% số người còn lại Nhưng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư lại càng làmkhuếch đại thêm xu hướng này do lợi suất của ý tưởng tăng mạnh: nhờ có ý tưởng liênquan đến công nghệ và đổi mới sáng tạo nên đã xuất hiện nhiều tỷ phú đô la chỉ ở độtuổi trên 20 dưới 30, điều rất khác biệt so với giai đoạn trước đây Lợi suất của kỹnăng, đặc biệt là các kỹ năng thúc đẩy hay bổ trợ cho quá trình số hóa, tự động hóa(bằng người máy hay bằng phần mềm – tức là trí tuệ nhân tạo có khả năng tự học)cũng tăng mạnh.Trong khi đó, các kỹ năng truyền thống đã từng có vai trò quan trọngtrong giai đoạn trước, song đang bị người máy thay thế nên có lợi suất giảm mạnh.Nhóm lao động chịu tác động mạnh nhất là lao động giản đơn, ít kỹ năng do rất dễ bịthay thế bởi người máy và do vậy có giá đang giảm nhanh Đây là một trong nhữngnguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng bất bình đẳng trên toàn cầu, làm doãng chênhlệch về thu nhập và tài sản giữa một bên là lao động ít kỹ năng hay có kỹ năng dễ bịngười máy thay thế chiếm tuyệt đại bộ phận người lao động, và bên kia là nhữngngười có ý tưởng hay kỹ năng bổ trợ cho quá trình tự động hóa và số hóa đang diễn ravới tốc độ nhanh
Như vậy, ở những nước tư bản phát triển nhất đang diễn ra một mâu thuẫn mangtính nền tảng của kinh tế thị trường: dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệplần thứ tư, cung gia tăng mạnh mẽ trong khi cầu không theo kịp do nhiều người laođộng bị thay thế bởi quá trình tự động hóa nên không có thu nhập Phổ thu nhập ở
Trang 11nhiều nước phát triển mang tính lưỡng cực với sự phân hóa rất rõ nét, tạo nên mộtkhoảng trống lớn ở giữa Đây cũng là mâu thuẫn đã được Các Mác chỉ ra giữa sự pháttriển lực lượng sản xuất ở mức cao và phương thức phân phối của chủ nghĩa tư bản.Điều này dẫn đến việc một số nhà kinh tế nổi tiếng của thế giới như Dani Rodrik kêugọi chủ nghĩa tư bản phải thực hiện thay đổi căn bản lần thứ hai, với việc đưa vào môhình “Nhà nước sáng tạo”, sau lần thay đổi thứ nhất với sự ra đời của Nhà nước phúclợi dưới tác động của cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Một số chuyên gia khác
đề nghị người máy thông qua chủ phải đóng thuế thu nhập và đóng bảo hiểm xã hội đểdùng tiền đó đào tạo lại và hỗ trợ cho những công nhân bị thay thế
Những ý tưởng về sàn an sinh xã hội – mọi người đều được cấp một khoản tiềnnhất định không phụ thuộc vào việc có đi làm hay không, những manh nha củaphương thức phân phối cộng sản chủ nghĩa “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”
- đang được xem xét ở một số nước tư bản phát triển Ví dụ, gần đây một số quốc gianhư Phần Lan, Hà Lan, Thuỵ Sỹ và gần đây nhất là Canada đã quyết định thử nghiệmviệc “cho tiền” người dân hàng tháng bất kể họ có thất nghiệp hay không
Những kế hoạch này có cơ sở hợp lý nếu xét về mức độ phát triển của lực lượngsản xuất hiện nay ở một số nước có trình độ phát triển cao, đồng thời cũng phần nàogiúp giải quyết những mâu thuẫn cố hữu của hệ thống phân phối của nền kinh tế thịtrường có khả năng phá hủy cân đối cung cầu khi cách mạng công nghệ có khả năngtạo ra nhiều của cải vật chất nhờ tự động hóa thay thế nhiều lao động ít kỹ năng
Trang 123 Sự phát triển của Internet, các mạng xã hội, smartphone hiện nay
Cách mạng công nghiệp 4.0 là sự hội tụ của nhiều công nghệ mới trong đó cốt lõi
là công nghệ thông tin - Internet (Là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể truy cập
công cộng gồm các mạng máy tính liên kết với nhau)
Theo biểu đồ , có 53,4 % người Châu Á sử dụng Internet, có 14,3 % người châu
Âu sử dụng Internet và chỉ có khoảng 0,6 % người Châu Úc sử dụng Internet Cuộccách mạng 4.0 đang phát triển theo cấp số nhân, bằng chứng là các ông lớn thiết bị diđộng hay các mạng xã hội mất một thời gian rất ngắn để đạt được con số 50 triệungười sử dụng
Hiện có 5,22 tỉ người trên thế giới sử dụng smartphone, tương đương 66,6% tổngdân số thế giới Từ tháng 1/2020, lượng người dùng smartphone trên thế giới đã tăng1,8% (tương đương 93 triệu), trong khi tổng thiết bị kết nối di động (một người có thể
sở hữu nhiều thiết bị) tăng 0,9% lên mức 8,02 tỷ thiết bị
Bảng 3.2 Biểu đồ kỹ thuật số trên thế giới
Bảng 3.1 Biểu đồ phân bổ của người dùng Internet trên thế giới
Châu Á 55%
Châu Âu 15%
Châu Phi 9%
Ca-ri-bê 10%
Bắc Mỹ 7%
Trung Đông 4%
Châu Úc
Châu Âu Châu Phi Ca-ri-bê Bắc Mỹ Trung Đông Châu Úc
Trang 13Vào tháng 1.2021, số người sử dụng internet trên toàn thế giới đạt 4,66 tỷ người,tăng 316 triệu người (7,3%) so với cùng kỳ năm ngoái Tỷ lệ sử dụng Internet hiện tại
là 59,5% và có khoảng 4,2 tỷ người sử dụng các dịch vụ mạng xã hội trên toàn cầu,tăng hơn 13% (490 triệu) chỉ trong 12 tháng, tương đương 53% dân số toàn cầu Năm
2020, trung bình có 1,3 triệu người mới sử dụng mạng xã hội mỗi ngày
Trên thực tế những con số trên có thể lớn hơn do dịch Covid-19 khiến nhu cầu sửdụng Internet tăng nhanh Nhu cầu sử dụng công cụ hội họp trực tuyến như Zoom vàSlack cũng tăng trưởng chưa từng có Các công cụ chuyên về công việc văn phòngtruyền thống hơn như Microsoft 365 cũng ghi nhận nhu cầu tăng cao Điểm chung lànhững công cụ này đều dựa trên nền tảng đám mây
Khi mọi người bị buộc phải ở trong nhà, nhu cầu về các dịch vụ bán lẻ và dịch
vụ giải trí trực tuyến cũng tăng lên rất nhiều Nghiên cứu đặc biệt về Covid-19 của
GlobalWebIndex khảo sát người dùng Internet tại 17 quốc gia cho thấy gần một nửa
số người dùng đã dành thời gian nhiều hơn trên các phương tiện truyền thông xã hội,trong khi đó khoảng một nửa số người dùng này cho biết họ đã sử dụng mạng xã hộinhiều hơn so với trước thời gian giãn cách xã hội.Giới quan sát cho biết, phân khúcbán lẻ hàng tiêu dùng sẽ tiếp tục mở rộng việc sử dụng các dịch vụ đám mây, đẩynhanh xu hướng dịch chuyển lên môi trường Internet vốn đã xảy ra từ trước khi đạidịch Covid-19 bùng phát Covid-19 gây tác động mạnh và ảnh hưởng nghiêm trọngtới kinh tế - xã hội ở tất cả các quốc gia cũng như nền kinh tế toàn cầu Tuy vậy, vẫn
có một vài thay đổi tích cực trong xu hướng kinh doanh liên quan tới công nghệ Dựkiến trong tương lai, những xu hướng mới nổi này sẽ định hình lại cách thức kinhdoanh và đóng một vai trò quan trọng giúp các doanh nghiệp mở rộng hoạt động trongthế giới cạnh tranh hậu Covid-19
4 Chi tiêu nghiên cứu KHCN của thế giới
Khoa học công nghệ phát triển với sự ra đời của hàng loạt công nghệ mới, hiệnđại như: vật liệu mới, công nghệ nano, công nghệ sinh học, điện tử viễn thông… đãgóp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào khoa học công nghệ làmtăng các yếu tố của sản xuất - kinh doanh, theo đó làm tăng thu nhập và dẫn đến sự giatăng chi tiêu cho tiêu dùng dân cư và tăng đầu tư cho cả nền kinh tế khoa học côngnghệ phát triển làm tăng khả năng tiếp cận của con người với tiêu dùng hàng hóa, dịch
Trang 14vụ qua các phương tiện thông tin và dịch vụ vận chuyển Do vậy, trong thời đại ngàynay, phần đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế của nhiều nước từ khoa họccông nghệ rất cao Tỷ trọng và vị trí GDP của công nghiệp và dịch vụ tăng dần, nôngnghiệp giảm dần Để đạt được những thành tựu trên thì mỗi quốc gia trên thế giớicũng phải bỏ ra một số tiền không nhỏ cho nghiên cứu khoa học công nghệ
Bảng 4.3 Biểu đồ chi tiêu cho nghiên cứu KHCN của thế giới
Nhìn chung, %GDP mà thế giới bỏ ra cho việc nghiên cứu khoa học công nghệ
từ năm 2010-2018 có xu hướng tăng lên, duy chỉ giảm nhẹ ở hai năm 2011 và 2013
Có thể nói khoa học công nghệ đóng một vai trò không nhỏ trong việc phát triển kinh
tế cũng như là thương mại dịch vụ trên thế giới, chính vì vậy các quốc gia có nhữngmục tiêu để phát triển khoa học công nghệ cho đất nước họ, tiêu biểu là:
Chính phủ Nhật Bản đã đặt mục tiêu tăng chi cho khoa học và công nghệ lên
900 tỷ yên trong 3 năm tới Đến năm 2020, Chính phủ Nhật Bản đặt mục tiêu tăngGDP lên 600 nghìn tỷ yên, và tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển lên 4,4 nghìn
tỷ yên so với 3,5 nghìn tỷ yên năm 2017
Chính phủ Hoa Kỳ luôn ủng hộ và nhận được những lợi ích to lớn từ nhữngtiến bộ của khoa học - công nghệ và đổi mới từ cả khu vực công và tư Hoa Kỳ có hệthống đánh giá đồng đẳng được sử dụng bởi Viện Y tế Quốc gia (NIH), Quỹ khoa họcQuốc gia (NSF) và các tổ chức khác với những tiêu chuẩn cao trong công nhận và cấpkinh phí cho các chương trình nghiên cứu chất lượng cao Nhiều quốc gia, vùng lãnhthổ nhận hỗ trợ từ Hoa Kỳ trong phát triển khoa học công nghệ như Brazil trong lĩnh
Trang 15vực nông nghiệp; Đài Loan, Hàn Quốc trong lĩnh vực công nghệ và Ấn Độ trong kỹthuật phần mềm đều có ảnh hưởng lớn trên thế giới.
Rất ít quốc gia có đóng góp nhiều cho khoa học và công nghệ như Đức, từ vật
lý, hóa học đến xe hơi và sản phẩm tiêu dùng Năm 2014, Chính phủ Đức đã chi 2,9%GDP vào nghiên cứu và phát triển, tăng từ 2,73% năm 2009 Dự kiến con số này sẽđạt 3% GDP vào năm 2020 Trong giai đoạn hiện nay, khoảng 3 tỷ EURO đang đượcchi cho nghiên cứu và phát triển của Đức
Các chính sách của Trung Quốc ngày càng ủng hộ công nghiệp hóa công nghệcao Hiện nay, Trung Quốc có 54 địa điểm quan trọng cho nghiên cứu và phát triểncông nghệ cao Các công ty hoạt động trong các khu vực này tạo ra hoặc áp dụng côngnghệ trong các lĩnh vực công nghệ cao, dành ít nhất 3% tổng doanh thu cho nghiêncứu và phát triển
5 Số lượng các bằng đăng ký các đối tượng sở hữu trí tuệ trên thế giới
Trong môi trường kinh doanh toàn cầu ngày càng phát triển, các doanh nghiệpcần phải tìm cách làm cho sản phẩm của mình trở nên đặc biệt và thu hút khách hàng.Sáng tạo và tri thức đang trở thành nhân tố chủ yếu của sức mạnh cạnh tranh giữa cáccông ty do đó nhu cầu tìm ra cách quản lý và sử dụng tri thức của họ một cách hữuhiệu Trong bối cảnh đó, các công cụ được pháp luật bảo vệ về quyền sở hữu trí tuệcho phép công ty tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm của họ và đối với đối thủ cạnhtranh, có được mức độc quyền đối với sản phẩm hoặc cải tiến Từ đó, giảm được cácrủi ro và bất trắc liên quan tới việc giới thiệu sản phẩm ra thị trường Trong bối cảnhkinh tế hiện nay, các chi phí giao dịch thấp trong thương mại dịch vụ quốc tế là nhờviệc cải tiến tiếp cận với thông tin và công nghệ truyền thông hiện đại Đối với cáccông ty, đặc biệt là các công ty vừa và nhỏ, việc sở hữu bằng sở hữu trí tuệ đối với sảnphẩm hoặc dịch vụ của họ là một điều vô cùng cần thiết Việc hiểu rõ quyền sở hữu trítuệ sẽ thúc đẩy môi trường để cho thương mại dịch vụ quốc tế phát triển một cách bềnvững
Tùy theo bản chất của tài sản vô hình, luật pháp có những công cụ pháp lý khácnhau như: bằng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, mô hình tiện ích, Sauđây là một số biểu đồ về số lượng bằng sở hữu trí tuệ qua các năm từ 2010 tới 2019 từ
số liệu thu thập được từ WIPO (Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới)
Trang 162010 2015 2016 2017 2018 2019 0
Bảng 5.4 Biểu đồ số lượng bằng sở hữu trí tuệ trên thế giới
II Tác động của cuộc CMCN 4.0 đối với thương mại dịch cụ quốc tế
1 Thúc đẩy gia tăng quy mô XKDV
Cuộc cách mạng côn nghiệp lần thứ tư này xảy ra đã và đang làm thay đổi đáng
kể bối cảnh toàn cầu và có tác động to lớn đến lĩnh vực kinh tế - xã hội bao gồm cảngành thương mại dịch vụ quốc tế Nhờ có sự tiên tiến của máy móc, công nghệ thôngtin cũng như sự đột phá của trí tuệ nhân tạo, sức ảnh hưởng của mạng Internet, ngànhdịch vụ thương mại (TMDV) đang ngày càng phát triển mạnh mẽ cùng với sự mởrộng quy mô xuất khẩu dịch vụ (XKDV)
Trang 173962 4994 5079
5515 6006 609712884
Tỷ trọng XKDV (%)
Nguồn: trademap.org
Bảng 1.5 Biểu đồ kim ngạch và tỷ trọng XKDV so với tổng kim ngạch XK thế giới
Theo dữ liệu về XKDV thế giới giai đoạn 2005 – 2019 của Trademap, quy môXKDV của thế giới năm 2019 đạt 6097 nghìn tỷ USD, tăng gấp khoảng 2,4 lần so vớinăm 2005 Tốc độ tăng trưởng trong khoảng 10 năm từ 2005 – 2019 của ngành duy trì
ở mức ổn định, không xuất hiện tình trạng bị chậm lại nào đáng kể Qua thống kê trênthì nhìn chung TMDV thế giới vẫn còn giữ tỷ trọng nhỏ hơn rất nhiều so với thươngmại hàng hóa (TMHH) nhưng những số liệu này đang có dấu hiệu tăng lên theo từngnăm Điều này thể hiện cơ cấu thương mại quốc tế đang dần chuyển hướng sang giatăng tỷ trọng TMDV và giảm bớt tỷ trọng TMHH
Đóng góp vào việc mở rộng và phát triển thị trường dịch vụ trong những nămgần đây là sự hỗ trợ đắc lực từ Marketing Công nghệ 4.0 tân tiến, hiện đại ngày nay
đã giúp cho việc thu thập, lưu trữ và phân tích dữ liệu dễ dàng hơm rất nhiều Bộ phậnmarketing của các doanh nghiệp có thể ứng dụng những tiện ích này để phân tích, tìm
ra xu hướng, nhu cầu, mong muốn, của khách hàng, từ đó có thể đáp ứng đúng và kịpthời cho họ Ngày nay con người có thể thấy những công nghệ hiện đại, trí tuệ nhântạo này ở mọi nơi trong đời sống của chúng ta: Google, Office 360, hay những trang
Trang 18mạng xã hội như Facebook, Youtube, Instagram,… cũng là những dịch vụ cho phépngười dùng truy cập, lưu trữ thông tin Và cũng thông qua những kênh thông tin này
mà các doanh nghiệp nắm bắt được xu hướng người tiêu dùng và thực hiện tiếp thị tựđộng hóa để tối ưu nguồn lực cũng như chi phí cho doanh nghiệp
Nói đến công nghiệp 4.0 thì không thể không kể đến sức mạnh to lớn của mạngInternet, nhờ có nó mà gần đây việc hợp tác, liên minh doanh nghiệp không còn bịgiới hạn nội địa nữa mà còn có thể phát triển ra mạng lưới toàn cầu Kéo theo đó là sựphát triển nhanh chóng của xu hướng FDI vào ngành dịch vụ Khi thị trường nội địađạt đến thời kỳ bão hòa, các công ty, doanh nghiệp sẽ tìm đến những kết nối dịch vụvới các đối tác nước ngoài Và nhờ vào việc sử dụng mạng Internet cùng với trí tuệnhân tạo (AI) vào công tác quản lý và điều hành thì càng giúp xử lý những công việc
đó không những dễ dàng mà lại đạt hiệu quả cao
Ngoài ra, những tiến bộ về khoa học công nghệ đã mang đến nhưng thay đổiquan trọng trong phương thức tiêu dùng và cung cấp dịch vụ ngày nay Các sản phẩmdịch vụ đang có xu hướng thương mại hóa hơn, mang tính hệ thống toàn cầu hơn đãdần thay thế những phương thức truyền thống Hơn nữa, cách mạng 4.0 đã làm giatăng sức tiêu thụ dịch vụ trên các trang web thông minh Chỉ cần kết nối với mạngInternet, con người có thể thuận tiện sử dụng dịch vụ ở mọi lúc, mọi nơi
Như vậy, các doanh nghiệp đã và đang ứng dụng những tiến bộ vượt trội của cuộccách mạng công nghệ 4.0 vào hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó đạt được hiệu quảcao trong công việc, dẫn đến việc tăng doanh thu và lời nhuận Những điều này, nhìnchung, đã thúc đẩy mở rộng, phát triển quy mô XKDV
2 Làm thay đổi hương thức cung ứng – tiêu dùng DV: gia tăng phương thức cung ứng DV xuyên biên, giảm phương thức cung ứng đòi hỏi có sự tương tác trực tiếp giữa người sản xuất và tiêu dùng.
Đại dịch Covid – 19 vẫn đang càn quét và chưa có dấu hiệu dừng lại, gây tácđộng mạnh và ảnh hưởng nghiêm trọng tới kinh tế - xã hội ở tất cả các quốc gia cũngnhư nền kinh tế toàn cầu Trong bối cảnh đó, đã có một vài thay đổi tích cực trong xuhướng thay đổi phương thức cung ứng và tiêu dùng dịch vụ Dự kiến trong tương lai,những xu hướng mới nổi này sẽ định hình lại cách thức kinh doanh và đóng một vaitrò quan trọng giúp các doanh nghiệp mở rộng hoạt động trong thế giới cạnh tranh hậuCovid – 19
Trang 19Thứ nhất, về phương thức cung ứng dịch vụ qua biên giới, là sự cung cấp dịch
vụ từ lãnh thổ của một thành viên đến lãnh thổ của bất kỳ một thành viên nào khác.Đặc điểm của loại hình cung cấp dịch vụ này là chỉ có bản thân dịch vụ là đi qua biêngiới, còn người cung cấp dịch vụ không có mặt tại nước nhận dịch vụ Trong thờiđiểm dịch bệnh Covid – 19 bùng phát, phương thức này trở nên phổ biến hơn và quenthuộc hơn Hơn nữa, nhờ có khả năng thanh toán dịch vụ không dùng tiền mặt haythanh toán điện tử (ở Việt Nam hiện nay phổ biến với các loại ví điện tử như Momo,Airpay, …) giúp việc cung ứng xuyên biên trở nên hết sức dễ dàng và tiện lợi Ví dụnhư việc cung cấp dịch vụ giáo dục trực tuyến (E-learning), học viên có thể ngồi tạinhà để học, giáo viên nước ngoài cũng không cần di chuyển đến tận nơi người học đểgiảng dạy, việc cung ứng dịch vụ được thông qua internet, điện thoại… Hoặc đối vớiviệc cung cấp dịch vụ pháp lý, luật sư có thể tư vấn cho khách hàng nước ngoài củamình qua điện thoại, gmail…mà không cần gặp gỡ trực tiếp
Thứ hai, về phương thức cung ứng đòi hỏi có sự tương tác trực tiếp giữa người
sản xuất và tiêu dùng Dễ dàng nhận thấy, trong thời điểm hiện nay, sự tương tác trựctiếp giữa người sản xuất và tiêu dùng là một điều cần phải hạn chế Tình hình dịchbệnh Covid – 19 bùng phát hết sức phức tạp và đem lại nhiều mối nguy, do đó, cầnhạn chế hết mức những sự tiếp xúc không cần thiết để không gây ra những hậu quảnghiêm trọng hơn Chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn cục bộ, lưu thông hàng hoá,dịch vụ và lao động toàn cầu không còn như trước khiến cho mọi hoạt động kinh tế,thương mại và đầu tư không thể thông suốt và hiệu quả, do vậy kinh tế và thương mạiquốc tế không thể hoạt động bình thường chứ chưa nói đến có thể tăng trưởng ViệtNam được cho là một trong số ít quốc gia sẽ tiếp tục tăng trưởng trong năm 2021, mặc
dù những quốc gia khác trên thế giới được dự báo rơi vào suy thoái Tuy nhiên, cónhững dao động đáng kể trong các dự báo hiện tại, nhấn mạnh những yếu tố khôngchắc chắn đáng kể vẫn có khả năng xảy ra trong tháng 8/2021 Bên cạnh đó nguy cơ
sa vào trì trệ hoặc thậm chí cả suy thoái không chỉ như hiện nay mà còn có thể giatăng
Chính vì vậy, trên toàn thế giới, sau “cú sốc choáng váng” ban đầu, các nước
đã áp dụng một loại giải pháp “phi y tế” đề ngăn chặn sự lây lan dịch giữa các nước,các vùng, khu vực, đơn vị, gia đình, người với người trong thời gian không ngắn (nhưđóng của biên giới, thực hiện cách ly xã hội, giãn cách xã hội, dừng các hình thức giao
Trang 20thông công cộng, các hoạt động kinh tế, xã hội công cộng, tập trung đông người…).Theo như một số thống kê, trên thế giới đã có hơn 2,3 tỷ người bị phong tỏa, cách ly.Các giải pháp “phi y tế này” đã có tác dụng quan trọng để ngăn chặn lây lan, kiểmsoát dịch, từng bước khống chế và dập dịch Tuy nhiên, mặt khác chính các giải phápnày đã có những tác động “tiêu cực” rất mạnh đối với hoạt động bình thường và sựphát triển các mặt của đời sống kinh tế, xã hội trên toàn cầu cũng như trong từngnước Dẫu biết việc giảm phương thức cung ứng có sự tương tác trực tiếp sẽ gây ranhiều hệ lụy về kinh tế, sản xuất, nhưng vì sức khỏe cộng đồng, vì một Việt Namkhẳng định vị thế trong việc kiểm soát dịch bệnh, bảo về đời sống của nhân dân, việclàm này là cần thiết
Đại dịch Covid – 19 đã làm suy giảm tiêu dùng của người dân và xã hội, ảnhhưởng nhiều nhất đến lĩnh vực du lịch và dịch vụ Vì thế những nền kinh tế dựa vào
du lịch và dịch vụ làm trụ cột và động lực tăng trưởng đang bị ảnh hưởng nặng nề nhất
và tiêu cực nhất bởi đại dịch này Do đó, chúng ta – những người công dân trẻ, hãyluôn giữ ý thức chống dịch ở mức cao nhất, thực hiện đúng theo các công văn, chỉ thịcủa Chính phủ, giúp đất nước ta vượt qua khó khăn, phục hồi sản xuất
3 Việc cung ứng DV chuyển từ sử dụng nhiều sức lao động truyền thống sang việc sử dụng lao động tri thức với công nghệ hiện đại.
Hiện nay, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đang phát triển vớitốc độ cấp số nhân, phạm vi và tính phức tạp vô cùng lớn, đòi hỏi các quốc gia phảichủ động hơn nữa trước bối cảnh biến đổi mạnh mẽ của kỷ nguyên công nghiệp thôngminh và công nghệ hiện đại Trong cuộc cách mạng này, mọi lĩnh vực của đời sốngkinh tế - xã hội đều bị tác động, đặc biệt những tác động đối với lĩnh vực lao động vàviệc làm là rất lớn CMCN 4.0 đã tạo ra nhiều đột phá về công nghệ mới trong cáclĩnh vực như sản xuất trí thông minh nhân tạo, chế tạo rô-bốt, phát triển mạng internet,công nghệ in 3D, công nghệ nano, công nghệ sinh học, khoa học về vật liệu, lưu trữnăng lượng và tin học Theo đó, các công nghệ mới ra đời sẽ là sự liên kết các lĩnhvực lý - sinh; cơ - điện tử - sinh… hình thành các ngành nghề mới, đặc biệt là nhữngngành nghề có sự liên quan đến tương tác giữa con người với máy móc
Các Robot đang được sử dụng nhiều hơn ở tất cả các lĩnh vực từ nông nghiệpchính xác cho đến chăm sóc người bệnh Sự phát triển nhanh của công nghệ robot làmcho sự hợp tác giữa người và máy móc sớm trở thành hiện thực Hơn nữa, tự động hóa
Trang 21đi đôi với trí tuệ nhân tạo sẽ phát triển mạnh hơn, thậm chí với những kỹ năng trướcđây chỉ có con người sở hữu, nay máy móc có thể thay thế một phần hoặc toàn bộ.
Sự phát triển của công nghệ tự động sẽ giúp giải phóng sức lao động cho conngười, tăng năng suất lao động nhưng cũng đẩy hàng triệu người phải đối diện vớinguy cơ mất việc làm Nhiều ngành, nghề sản xuất, kinh doanh truyền thống cũng sẽbiến mất nhanh chóng Ví dụ: Vào năm 1998, hãng máy ảnh Kodak tuyển dụng170.000 người lao động, chiếm 85% thị trường giấy ảnh trên thế giới nhưng gần đâylĩnh vực kinh doanh này đã không còn hoạt động
Với Việt Nam, để nói có thể đạt được trình độ của CMCN 4.0 thì nước ta cũngđang trong quá trình phấn đấu và phát triển mạnh mẽ, do đó, cũng đã có những tácđộng lớn đến lực lượng lao động sản xuất ở nước ta Việc cắt giảm nhân lực do đã có
sự trợ giúp của máy móc đang diễn ra ngày một nhiều, những lực lượng lao độngkhông đáp ứng được yêu cầu sẽ được thay thế bằng máy móc làm việc chính xác,không biết mệt mỏi, đạt hiệu quả kinh tế và lợi nhuận cao hơn Việc áp dụng côngnghệ số và quá trình robot hóa sẽ dẫn tới tình trạng mất việc làm nghiêm trọng đối vớingười lao động Những việc làm có nguy cơ bị loại bỏ hoặc cắt giảm mạnh bao gồm:Công việc lặp đi, lặp lại; các giao dịch mà nhân viên không cần bằng cấp, chỉ dựa trênquy trình chuẩn như các giao dịch tài chính… Hơn nữa, trong cuộc CMCN 4.0, trình
độ sản xuất đã đạt trình độ cao, do đó đòi hỏi trình độ lao động cũng được nâng lên,các doanh nghiệp sẽ ưa thích các lực lượng lao động trẻ, trí thức, ham học hỏi, dễthích nghi để có thể phối hợp với công nghệ hiện đại
Theo dự báo của Tổ chức Lao động Quốc tế (2019), trong 10 năm tới Việt Nam
sẽ phải đối mặt với sự thay thế lao động khi ứng dụng công nghệ số, dẫn đến sự thayđổi về mô hình sản xuất, văn hóa kinh doanh, mô hình tổ chức… Có tới 70% số việclàm ở mức rủi ro cao (có xác suất bị thay thế trên 70%), 18% có rủi ro trung bình (cóxác suất bị thay thế từ 30-70%) và 12% có rủi ro thấp (có xác suất bị thay thế dưới30%) Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải xử lý, thích ứng với sự thay đổi này
Có thể thấy, nguy cơ lao động ngành Nông, lâm và thủy sản; Công nghiệp chếbiến, chế tạo bị thay thế là rất lớn Đây là những ngành, nghề đang tạo ra rất nhiềucông ăn việc làm và góp phần cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, trong đó, ngànhNông, lâm và thủy sản với 83,3% số việc làm có rủi ro cao; công nghiệp chế bến, chế
Trang 22tạo với 74,4% số việc làm có rủi ro cao; bán buôn, bán lẻ có 84,1% số việc làm có rủi
ro cao
Trong lĩnh vực nông nghiệp truyền thống, nguy cơ bị thay thế bởi máy móc vàthiết bị tự động cũng khá cao như trồng trọt (khoảng 13,7 triệu việc làm); chăn nuôi(gần 3,2 triệu việc làm); làm vườn (1 triệu việc làm); đánh bắt và nuôi trồng thủy sản(0,84 triệu việc làm)… Một số ngành khác cũng sẽ bị ảnh hưởng tác động của cuộccách mạng này như chăm sóc sức khỏe, y tế giáo dục, bán lẻ, giao thông vận tải Điềunày sẽ gây ra những hệ lụy khó lường đối với nền kinh tế và các vấn đề an sinh xã hộikhác
Mặt khác, việc áp dụng công nghệ số đã và đang giúp tạo công ăn, việc làmcho một số lĩnh vực ngành, nghề mới ở Việt Nam như lái xe công nghệ (Grab, Be),dịch vụ nhà cho thuê (Airbnb), kinh doanh trực tuyến , qua đó, góp phần tích cực vàoviệc nâng cao chất lượng và cải thiện đời sống của một nhóm người lao động
Trong bối cảnh CMCN 4.0 phát triển mạnh mẽ, yêu cầu đặt ra đối với các quốcgia hiện nay là phải có tầm nhìn chiến lược và hành động quyết liệt để nắm bắt cơ hội
và giải quyết thách thức Khi xem xét tác động của cuộc CMCN 4.0, các quốc gia cầnlưu ý đến tác động nhiều mặt, không chỉ về kinh tế, công nghệ sản xuất, mô hình quản
lý mà còn cả các tác động về xã hội Cuộc CMCN 4.0 sẽ giúp các quốc gia có hcơ hộiphát triển thịnh vượng hơn, kết nối và hội nhập nhanh chóng, đồng thời cũng phải đốidiện với những thách thức về thất nghiệp, việc làm, bất bình đẳng, sự gia tăng tính dễ
bị tổn thương cho các nhóm đối tượng trong xã hội
Tính đến tháng 12 năm 2020, cả nước có 32,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên bịảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãnviệc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập,… Trong đó, 69,2% người bị giảmthu nhập, 39,9% phải giảm giờ làm/nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên và khoảng 14,0%buộc phải tạm nghỉ hoặc tạm ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh Lực lượng laođộng Việt Nam đang tăng lên nhanh chóng Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn,nghề nghiệp của người lao động Việt Nam ngày càng được cải thiện Số lao động cótri thức, nắm vững khoa học - công nghệ tiên tiến tăng lên Lao động trong các khucông nghiệp, các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoàicũng đã được cải thiện về kỹ năng, tay nghề lao động, tác phong công nghiệp, phươngpháp làm việc tiên tiến Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự phát triển, người lao động
Trang 23còn nhiều hạn chế, bất cập như chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, cơ cấu vàtrình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật,cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao độngcòn nhiều hạn chế; đa phần lao động từ nông dân, chưa được đào tạo cơ bản và có hệthống Bên cạch đó, trình độ văn hóa và tay nghề của người lao động dù đã được cảithiện, song vẫn còn thấp, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp thu khoa học -
kỹ thuật, đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm
CMCN 4.0 đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế xã hội, nhất làviệc làm, đời sống của người lao động Việt Nam Trong thời gian tới, Nhà nước cần
có chủ trương, chính sách mang tính tổng thể, mạnh mẽ và tạo đột phá hơn nữa để cóthể nắm bắt được cơ hội, vượt qua thách thức, chủ động tham gia có hiệu quả vàocuộc cách mạng này Chính vì vậy, việc xây dựng chính sách, chương trình đào tạo,đào tạo lại, nâng cao trình độ, kỹ năng tay nghề, chuyển đổi nghề nghiệp cho nhómlao động dễ bị tổn thương là một yêu cầu thiết yếu Do đó, nước ta phải có thêm nhiềuchiến lược, giải pháp, chính sách hợp lí hơn
Thứ nhất, giữ ý thức chống dịch ở mức cao nhất, thực hiện đúng theo các công
văn, chỉ thị của Chính phủ, giúp đất nước ta vượt qua khó khăn, phục hồi sản xuất
Thứ hai, hoàn thiện và đẩy mạnh việc thực thi chính sách hướng tới chiến lược
đổi mới giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đó chú trọngnâng cao chất lượng đào tạo nghề, nâng cao trình độ công nghệ thông tin và tiếng Anh
ở các bậc học theo hướng hội nhập quốc tế, phát triển đội ngũ lao động có trình độcao, ngày càng làm chủ được khoa học - công nghệ, có kỹ năng lao động, tác phonglàm việc công nghiệp, ý thức kỷ luật lao động theo xu hướng công nghiệp hiện đại
Thứ ba, xây dựng phương án, đề xuất các chính sách mới phù hợp với việc thay
đổi trong cơ cấu lao động, giảm thiểu tác động, ảnh hưởng của cuộc CMCN 4.0 đếncác ngành, lĩnh vực có khả năng lao động bị thay thế cao, phù hợp với điều kiện, bốicảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay của Việt Nam
Thứ bốn, từng bước hoàn thiện và thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, chính sách tiền lương bảo đảm đời sống chongười lao động Chú trọng chăm lo xây dựng đời sống văn hóa - tinh thần, nhất là
Trang 24quan tâm tới các dịch vụ văn hóa, thể thao, chăm sóc sức khỏe cho người lao độngnhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động
Thứ năm, học tập kinh nghiệm ứng phó của các nước khác, đặc biệt là các nước
đi trước trong CMCN 4.0, có thể giúp Việt Nam tránh được những vấn đề mà cácnước đó gặp phải trong việc quản lý, ban hành chính sách đáp ứng các yêu cầu đặt rađối với cuộc CMCN 4.0
Đại dịch Covid-19 khiến thị trường lao động Việt Nam gặp nhiều sóng gió vớihàng triệu người lao động bị ảnh hưởng tiêu cực do mất việc làm, phải nghỉ giãnviệc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập,… Lần đầu tiên trong 10 năm qua,nền kinh tế Việt Nam chứng kiến sự sụt giảm nghiêm trọng về số người tham gia thịtrường lao động và số người có việc làm Thu nhập bình quân của người lao độngcũng theo đó bị thâm hụt Các chỉ tiêu về tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ thiếu việc làm và tỷ lệlao động có việc làm phi chính thức đều tăng cao trái ngược hẳn với xu thế giảm trongcác năm gần đây Tuy nhiên, với quyết tâm của Chính phủ và sự đồng lòng gắng sứccủa nhân dân, tình hình lao động việc làm trong những tháng cuối năm 2020 đã đượccải thiện đáng kể Kết quả này góp phần vừa thực hiện mục tiêu phòng chống dịch vừađảm bảo tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước
4 Dịch bệnh Covid-19 đã thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng thay đổi phương thức cung ứng và tiêu dùng dịch vụ.
Đại dịch Covid – 19 đã ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng đến tất cả các quốc giatrên thế giới, hiện nay đang tiếp tục diễn biến rất phức tạp Nền kinh tế toàn cầu rơivào suy thoái nghiêm trọng Kinh tế Việt Nam có độ mở lớn, hội nhập quốc tế sâurộng, đã và đang chịu nhiều tác động của đại dịch Covid – 19 Tất cả các lĩnh vực kinh
tế - xã hội bị ảnh hưởng nghiêm trọng, gây gián đoạn chuỗi cung ứng và lưu chuyểnthương mại, làm đình trệ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, Hiện nay,cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, tối ưu hóa sản xuất và chiphí, xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu nhằm phân tán và giảmthiểu rủi ro đang hiện diện mạnh mẽ, nhiều cơ hội và thách thức đan xen đặt ra choViệt Nam Vì vậy, việc thay đổi phương thức cung ứng và tiêu dùng dịch vụ trong vàsau đại dịch Covid – 19 là rất cần thiết
Đầu tiên, phương thức cung ứng dịch vụ được hướng tới phát triển và chú
trọng, được nhiều doanh nghiệp áp dụng đó chính là phương thức cung ứng dịch vụ
Trang 25qua biên giới, đây là sự cung cấp dịch vụ từ lãnh thổ của một thành viên đến lãnh thổcủa bất kỳ một thành viên nào khác Đặc điểm của loại hình cung cấp dịch vụ này làchỉ có bản thân dịch vụ là đi qua biên giới, còn người cung cấp dịch vụ không có mặttại nước nhận dịch vụ Trong thời đại CMCN 4.0, phương thức này đã trở nên rất phổbiến, nhưng đặc biệt trong thời kì bùng phát dịch bệnh thế này, phương thức này trởnên vô cùng quan trọng và đã gỡ rối, giải quyết rất nhiều khó khăn vì đây là một lối điđúng đắn, có tiềm năng phát triển rất lớn do sự phát triển của khoa học công nghệ vàthực tiễn hiện nay trên thế giới Rất nhiều dịch vụ hiện nay như: tư vấn khám chữabệnh online (hiện nay việc này trở nên rất phổ biến đối với những căn bệnh nhẹ, hoặcnhững bệnh nhân đang trong giai đoạn phục hồi cần sự theo dõi của bác sĩ,…) họconline cũng là một trong những hình thức phổ biến nhất (học sinh và giáo viên có thểtrao đổi qua màn hình, không cần gặp trực tiếp, các tiết học vẫn đảm bảo chất lượng
và an toàn cho sức khỏe của mọi người),… Qua những dẫn chứng trên có thể thấyđược đại dịch Covid – 19 cũng đã thúc đẩy mạnh mẽ phương thức dịch vụ qua biêngiới, điều hợp lí đối với hoàn cảnh của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung
Thứ hai, về phương thức cung ứng tiêu dùng ở nước ngoài, là hình thức cung
ứng trong đó dịch vụ được cung ứng bên trong lãnh thổ của một nước cho người tiêudùng nước ngoài (người tiêu dùng dịch vụ của một nước tiêu dùng dịch vụ ở một nướckhác) Trong tình hình dịch bệnh và diễn biến khó lường của đại dịch Covid – 19,nước ta cũng và nhiều nước cũng đã kiểm soát chặt chẽ việc xuất - nhập cảnh trong vàngoài nước, trong thời gian giãn cách xã hội còn cấm hết những chuyến bay trên cảnước Do đó, dịch vụ du lịch quốc tế đã bị ảnh hưởng rất nhiều và thiệt hại không nhỏ,các du học sinh nước ngoài cũng phải chấp nhận xa quê hương, dịch vụ chữa bệnh ởnước ngoài hay sửa chữa máy bay, tàu biển,… cũng bị ảnh hưởng lớn
Bên cạnh đó, các phương thức cung ứng khác như hiện diện thương mại hayhiện diện của thể nhân cũng bị ảnh hưởng mạnh mẽ Tất cả là do việc hạn chế tiếp xúctrực tiếp giữa người và người, do đó những dịch vụ như cửa hàng tiện lợi, chuỗi siêuthị, cửa hàng như KFC, McDonald,… đã phải đóng cửa nhiều cơ sở, các ông lớn nhưLouis Vuitton, Channel, Gucci,… thiệt hại hàng tỉ USD Việc xuất khẩu lao động, đilàm chuyên gia nước ngoài cũng trở nên đình trệ
So với các nước trong khu vực, Việt Nam đã thực hiện tốt việc ngăn chặn đạidịch và mở cửa lại nền kinh tế Hiện nay, đất nước đang dần chuyển giao từ giai đoạn