1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG. VẬN DỤNG LÝ LUẬN HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

19 86 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 202,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCMỞ ĐẦU11. Lý do chọn đề tài12. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu23. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu24. Phương pháp nghiên cứu25. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài2Nội dung4Chương 1: Cơ sở lý luận của C.Mác và hàng hóa sức lao động41.1. Sự chuyển hóa sức lao động thành hàng hóa41.1.1. Công thức chung của tư bản và mâu thuẫn của công thức chung đặt ra41.1.2. Sức lao động và điều kiện sức lao động thành hàng hóa51.2. Hàng hóa sức lao động và giá cả của hàng hóa sức lao động71.2.1. Hàng hóa sức lao động71.2.2. Giá cả hàng hóa sức lao động – Tiền công CNTB7Chương 2: Vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động trong xây dựng thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay92.1. Đặc điểm thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay92.1.1. Khái niệm thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay:92.1.2. Đặc điểm thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay:92.2. Thực trạng chung hiện nay ở Việt Nam102.3. Một số nhân tố ảnh hưởng đến thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam122.4. Giải pháp phát triển kinh tế thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam14KẾT LUẬN16DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHỎA17 MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiTrong suốt mấy chục năm tồn tại của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở nước ta, thị trường lao động không được thừa nhận là một bộ phận cấu thành của thị trường, các yếu tố sản xuất tạo ra do nhận thức sai lệch về hàng hoá sức lao động, việc làm và thất nghiệp. Trong đó, quan điểm về sức lao động là hàng hóa, bán, trao đổi là điều cấm kỵ. Các quyết định liên quan đến nguồn lao động, đặc biệt là các quyết định về phân bổ lao động và luân chuyển công việc, được đưa ra chủ yếu nhằm giải quyết các vấn đề công bằng xã hội hơn là tập trung vào hiệu quả kinh tế. Sự thay đổi kinh tế ở Việt Nam trong những năm gần đây đã làm thay đổi về chất trong phân phối và sử dụng lao động. Thị trường lao động được thừa nhận hợp pháp và có những hoạt động ban đầu. Thật vậy, lực lượng lao động dần dần được xem như một loại hàng hóa, được người sử dụng lao động thừa nhận quyền tự do tìm kiếm việc làm của người lao động và quyền thuê người lao động để tự kinh doanh. Tuy nhiên, đặc điểm chính của nền kinh tế nước ta hiện nay là quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường đang dần xóa bỏ những giới hạn cũ về nhận thức và thực tiễn. Một trong những khó khăn lớn về nhận thức mà chúng tôi gặp phải là vấn đề về bản chất công việc và thị trường lao động. Từng quen với quan niệm coi lao động là một giá trị tinh thần và xã hội cao nhất, một giá trị tự thân, ngoài giá trị trao đổi, nhiều người không khỏi ngạc nhiên khi thay đổi quan niệm về công việc, bởi lẽ hiện nay lao động không thể đứng ngoài quan hệ thị trường, do những phẩm chất đặc biệt của nó, lao động vẫn một hàng hóa được mua và bán theo giá trị thị trường của nó, trong mối quan hệ với các hàng hóa khác và ngay cả với chính nó.Vì vậy, việc không ngừng nhận thức và vận dụng hợp lý lý luận về công tác thương mại trên thị trường lao động là một vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nước ta hiện nay.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu:Làm rõ nội dung lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác và sự vận dụng của loại thị trường này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Nhiệm vụ nghiên cứu:Đề tài nhằm nghiên cứu những quan điểm lý luận về hàng hóa sức lao động và đưa ra những giải xây dựng nên kinh tế thị trường hóa sức lao đông. Cũng như đưa ra những đặc điểm về nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta..3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu:Lấy quá trình hình thành làm cơ sở lý luận của C.Mác và đối tượng nghiên cứu chính là nền kinh tế Việt Nam Phạm vi nghiên cứu:Trên toàn lãnh thôt đất nước Việt Nam4. Phương pháp nghiên cứuĐể thực hiện đề tài này, chúng tôi đã kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp phân tích. Phương pháp tổng hợp tài liệu. Phương pháp kết luận.5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tàiĐóng góp và làm sảng tỏ và góp phần làm sáng tỏ về những lý luận mà C.Mác đã đưa ra về việc phát triển thị trường lao động của nước ta. Giúp ta có thể đưa ra những biện pháp cơ bản cũng như nhận thức vận dụng các biện pháp lý luận cơ bản. Nội dungChương 1: Cơ sở lý luận của C.Mác và hàng hóa sức lao động1.1. Sự chuyển hóa sức lao động thành hàng hóa1.1.1. Công thức chung của tư bản và mâu thuẫn của công thức chung đặt ra Công thức chung của tư bản:Tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông hàng hoá, đồng thời là hình thái xuất hiện đầu tiên của tư bản. Tiền trong lưu thông hàng hóa giản đơn vận động theo công thức: H T H. Tiền trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vận động theo công thức: T H T’. So sánh hai công thức:Điểm giống nhau của hai công thức lưu thông nói trên là đều cấu thành bởi hai yếu tố hàng và tiền; đều chứa đựng hai hành vi đối lập nhau là mua và bán; đều biểu hiện quan hệ kinh tế giữa người mua và người bán. Điểm khác nhau giữa hai công thức đó là: Lưu thông hàng hóa giản đơn bắt đầu bằng hành vi bán (H T) và kết thúc bằng hành vi mua (T H); điểm xuất phát và điểm kết thúc đều là hàng hóa, tiền chỉ đóng vai trò trung gian, mục đích là giá trị sử dụng. Ngược lại, lưu thông của tư bản bắt đầu bằng hành vi mua (T H) và kết thúc bằng hành vi bán (H T’); tiền vừa là điểm xuất phát, vừa là điểm kết thúc, còn hàng hóa đóng vai trò trung gian...Mục đích của lưu thông tư bản là giá trị, và giá trị lớn hơn. Tư bản vận động theo công thức THT’, trong đó T’ = T + ∆T; ∆T là số tiền trội hơn được gọi là giá trị thặng dư và ký hiệu bằng m. Còn số tiền ứng ra ban đầu với mục đích thu được giá trị thặng dư trở thành tư bản. Như vậy, tiền chỉ biến thành tư bản khi được dùng để mang lại giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Công thức: T – H – T’ với T’ = T + m Được gọi là công thức chung của tư bản. Mọi tư bản đều vận động như vậy nhằm mục đích mang lại giá trị thặng dư. Như vậy, tư bản là tiền tự lớn lên hay giá trị sinh ra giá trị thặng dư Mâu thuẩn của công thức chung của tư bản:Số tiền trội hơn (∆T) hay giá trị thặng dư (m) sinh ra từ đâu? Thoạt nhìn, hình như giá trị thặng dư sinh ra trong lưu thông. Vậy có phải do bản chất của sự lưu thông đã làm cho tiền tăng thêm và do đó hình thành giá trị thặng dư hay không? Nếu mua bán ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị: từ tiền thành hàng hoặc từ hàng thành tiền. Còn tổng số giá trị trong tay mỗi người tham gia trao đổi trước sau vẫn không thay đổi. Trong trường hợp trao đổi không ngang giá, hàng hóa có thể bán cao hơn hoặc thấp hơn giá trị. Nhưng, trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất đều vừa là người bán, vừa là người mua. Cái lợi mà họ thu được khi bán sẽ bù lại cái thiệt khi mua hoặc ngược lại. Trong trường hợp có những kẻ chuyên mua rẻ, bán đắt thì tổng giá trị toàn xã hội cũng không hề tăng lên, bởi vì số giá trị mà những người này thu được chẳng qua chỉ là sự ăn chặn, đánh cắp số giá trị của người khác mà thôi. Như vậy lưu thông và bản thân tiền tệ trong lưu thông không hề tạo ra giá trị. Nhưng nếu người có tiền không tiếp xúc gì với lưu thông, tức là đứng ngoài lưu thông thì cũng không thể làm cho tiền của mình lớn lên được. Vậy là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông . Đó là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản. C.Mác là người đầu tiên phân tích và giải quyết mâu thuẫn đó bằng lý luận về hàng hóa sức lao động.1.1.2. Sức lao động và điều kiện sức lao động thành hàng hóa Sức lao động:Để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản, cần phải tìm ra trên thị trường một loại hàng hóa mà việc sử dụng có thể tạo ra giá trị lớn hơn giá trị của chính nó. Một loại hàng hóa như vậy là một loại hàng hóa của sức lao động. Sức lao động là toàn bộ những năng lực (thể lực và trí lực) sẵn có của một người và được người được họ sử dụng vào sản xuất. Sức lao động là cái có trước, còn lao động chính là quá trình sử dụng sức lao động.Theo C.Mác: “sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thể một con người,trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích” Điều kiện sức lao động trở thành hàng hóa:Trong mọi xã hội, sức lao động là yếu tố của sản xuất, nhưng sức lao động chỉ trở thành hàng hóa khi có hai điều kiện sau đây: Đầu tiên, người lao động phải được tự do về thân thể , có quyền sở hữu sức lao động của mình và chỉ được bán nó trong một khoảng thời gian nhất định. Thứ hai, Người lao động không có tư liệu sản xuất cần thiết để tự tổ chức sản xuất. Vì vậy, nếu họ muốn sống, họ chỉ có thể bán sức lao động của mình cho người khác sử dụng. Việc sức lao động trở thành hàng hoá đã đánh dấu một bước ngoặt cách mạng về phương thức liên kết người lao động với tư liệu sản xuất, một bước tiến lịch sử của chế độ nô lệ và chế độ phong kiến. Sự bình đẳng về hình thức giữa người sở hữu sức lao động với người sở hữu tư bản che đậy bản chất của chủ nghĩa tư bản chế độ được xây dựng trên sự đối kháng lợi ích kinh tế giữa tư bản và lao động.1.2. Hàng hóa sức lao động và giá cả của hàng hóa sức lao động1.2.1. Hàng hóa sức lao động Giá trị của hàng hóa sức lao động: Giá trị của sức lao động cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết được xác định bằng số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất nó. Giá trị của sức lao động được quyết định bởi giá trị của tất cả các tư liệu sinh hoạt cần thiết. Để sản xuất và tái sản xuất sức lao động, để duy trì sức, đời sống của người lao động và gia đình của họ. Giá trị của hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử tùy theo hoàn cảnh lịch sử của mỗi quốc gia, thời đại, phụ thuộc vào trình độ văn minh đạt được cùng với sự hình thành giai cấp công nhân và cả về điều kiện địa lý và khí hậu. Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động: Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động là biểu hiện trong quá trình tiêu hao (tiêu hao) sức lao động, tức là trong quá trình làm việc để sản xuất một hàng hóa hoặc một dịch vụ nhất định. Trong quá trình lao động, sức lao động tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân. Giá trị tăng thêm so với giá trị sức lao động là giá trị thặng dư.

Trang 1

TÊN ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG VẬN DỤNG LÝ LUẬN HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT

NAM HIỆN NAY

BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Học phần: Kinh tế Chính trị Mác - LêNin

Mã phách:

Hà Nội – 2021

Trang 2

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 2

Nội dung 4

Chương 1: Cơ sở lý luận của C.Mác và hàng hóa sức lao động 4

1.1 Sự chuyển hóa sức lao động thành hàng hóa 4

1.1.1 Công thức chung của tư bản và mâu thuẫn của công thức chung đặt ra4 1.1.2 Sức lao động và điều kiện sức lao động thành hàng hóa 5

1.2 Hàng hóa sức lao động và giá cả của hàng hóa sức lao động 7

1.2.1 Hàng hóa sức lao động 7

1.2.2 Giá cả hàng hóa sức lao động – Tiền công CNTB 7

Chương 2: Vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động trong xây dựng thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay 9

2.1 Đặc điểm thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay 9

2.1.1 Khái niệm thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay: 9

2.1.2 Đặc điểm thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay: 9

2.2 Thực trạng chung hiện nay ở Việt Nam 10

2.3 Một số nhân tố ảnh hưởng đến thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam 12

2.4 Giải pháp phát triển kinh tế thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam 14

KẾT LUẬN 16

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHỎA 17

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong suốt mấy chục năm tồn tại của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở nước ta, thị trường lao động không được thừa nhận là một bộ phận cấu thành của thị trường, các yếu tố sản xuất tạo ra do nhận thức sai lệch về hàng hoá sức lao động, việc làm và thất nghiệp Trong đó, quan điểm về sức lao động là hàng hóa, bán, trao đổi là điều cấm kỵ Các quyết định liên quan đến nguồn lao động, đặc biệt là các quyết định về phân bổ lao động và luân chuyển công việc, được đưa ra chủ yếu nhằm giải quyết các vấn đề công bằng xã hội hơn là tập trung vào hiệu quả kinh tế Sự thay đổi kinh tế ở Việt Nam trong những năm gần đây đã làm thay đổi về chất trong phân phối và sử dụng lao động Thị trường lao động được thừa nhận hợp pháp và có những hoạt động ban đầu Thật vậy, lực lượng lao động dần dần được xem như một loại hàng hóa, được người sử dụng lao động thừa nhận quyền tự do tìm kiếm việc làm của người lao động và quyền thuê người lao động để tự kinh doanh Tuy nhiên, đặc điểm chính của nền kinh tế nước ta hiện nay là quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường Nền kinh tế thị trường đang dần xóa bỏ những giới hạn cũ về nhận thức và thực tiễn Một trong những khó khăn lớn về nhận thức mà chúng tôi gặp phải là vấn đề về bản chất công việc và thị trường lao động Từng quen với quan niệm coi lao động là một giá trị tinh thần và xã hội cao nhất, một giá trị tự thân, ngoài giá trị trao đổi, nhiều người không khỏi ngạc nhiên khi thay đổi quan niệm về công việc, bởi lẽ hiện nay lao động không thể đứng ngoài quan hệ thị trường,

do những phẩm chất đặc biệt của nó, lao động vẫn một hàng hóa được mua và bán theo giá trị thị trường của nó, trong mối quan hệ với các hàng hóa khác và ngay cả với chính nó.Vì vậy, việc không ngừng nhận thức và vận dụng hợp lý

Trang 4

lý luận về công tác thương mại trên thị trường lao động là một vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nước ta hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu:

Làm rõ nội dung lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác và sự vận dụng của loại thị trường này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

Đề tài nhằm nghiên cứu những quan điểm lý luận về hàng hóa sức lao động

và đưa ra những giải xây dựng nên kinh tế thị trường hóa sức lao đông Cũng như đưa ra những đặc điểm về nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Lấy quá trình hình thành làm cơ sở lý luận của C.Mác và đối tượng nghiên cứu chính là nền kinh tế Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

Trên toàn lãnh thôt đất nước Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp tổng hợp tài liệu

- Phương pháp kết luận

5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Đóng góp và làm sảng tỏ và góp phần làm sáng tỏ về những lý luận mà

C.Mác đã đưa ra về việc phát triển thị trường lao động của nước ta Giúp ta có

Trang 5

thể đưa ra những biện pháp cơ bản cũng như nhận thức vận dụng các biện pháp lý luận cơ bản

Trang 6

Nội dung Chương 1: Cơ sở lý luận của C.Mác và hàng hóa sức lao động

1.1 Sự chuyển hóa sức lao động thành hàng hóa

1.1.1 Công thức chung của tư bản và mâu thuẫn của công thức chung đặt ra

Tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông hàng hoá, đồng thời là hình thái xuất hiện đầu tiên của tư bản

Tiền trong lưu thông hàng hóa giản đơn vận động theo công thức: H - T

- H Tiền trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vận động theo công thức: T - H

- T’

- So sánh hai công thức:

Điểm giống nhau của hai công thức lưu thông nói trên là đều cấu thành bởi hai yếu tố hàng và tiền; đều chứa đựng hai hành vi đối lập nhau là mua và bán; đều biểu hiện quan hệ kinh tế giữa người mua và người bán

Điểm khác nhau giữa hai công thức đó là: Lưu thông hàng hóa giản đơn bắt đầu bằng hành vi bán (H - T) và kết thúc bằng hành vi mua (T - H); điểm xuất phát và điểm kết thúc đều là hàng hóa, tiền chỉ đóng vai trò trung gian, mục đích là giá trị sử dụng Ngược lại, lưu thông của tư bản bắt đầu bằng hành vi mua (T - H) và kết thúc bằng hành vi bán (H - T’); tiền vừa là điểm xuất phát, vừa là điểm kết thúc, còn hàng hóa đóng vai trò trung

gian Mục đích của lưu thông tư bản là giá trị, và giá trị lớn hơn Tư bản vận động theo công thức T-H-T’, trong đó T’ = T + ∆T; ∆T là số tiền trội hơn được gọi là giá trị thặng dư và ký hiệu bằng m Còn số tiền ứng ra ban đầu với mục đích thu được giá trị thặng dư trở thành tư bản Như vậy, tiền chỉ biến thành tư bản khi được dùng để mang lại giá trị thặng dư cho nhà tư bản Công thức:

T – H – T’ với T’ = T + m

Trang 7

Được gọi là công thức chung của tư bản Mọi tư bản đều vận động như vậy nhằm mục đích mang lại giá trị thặng dư

Như vậy, tư bản là tiền tự lớn lên hay giá trị sinh ra giá trị thặng dư

Số tiền trội hơn (∆T) hay giá trị thặng dư (m) sinh ra từ đâu?

Thoạt nhìn, hình như giá trị thặng dư sinh ra trong lưu thông Vậy có phải do bản chất của sự lưu thông đã làm cho tiền tăng thêm và do đó hình thành giá trị thặng dư hay không?

Nếu mua - bán ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị: từ tiền thành hàng hoặc từ hàng thành tiền Còn tổng số giá trị trong tay mỗi người tham gia trao đổi trước sau vẫn không thay đổi Trong trường hợp trao đổi không ngang giá, hàng hóa có thể bán cao hơn hoặc thấp hơn giá trị Nhưng, trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất đều vừa là người bán, vừa là người mua Cái lợi mà họ thu được khi bán sẽ bù lại cái thiệt khi mua hoặc ngược lại Trong trường hợp có những kẻ chuyên mua rẻ, bán đắt thì tổng giá trị toàn xã hội cũng không hề tăng lên, bởi vì số giá trị mà những người này thu được chẳng qua chỉ là sự ăn chặn, đánh cắp số giá trị của người khác mà thôi

Như vậy lưu thông và bản thân tiền tệ trong lưu thông không hề tạo ra giá trị Nhưng nếu người có tiền không tiếp xúc gì với lưu thông, tức là đứng ngoài lưu thông thì cũng không thể làm cho tiền của mình lớn lên được "Vậy

là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông" Đó là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản C.Mác là người đầu tiên phân tích và giải quyết mâu thuẫn đó bằng lý luận về hàng hóa sức lao động

1.1.2 Sức lao động và điều kiện sức lao động thành hàng hóa

Trang 8

- Sức lao động:

Để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản, cần phải tìm ra trên thị trường một loại hàng hóa mà việc sử dụng có thể tạo ra giá trị lớn hơn giá trị của chính nó Một loại hàng hóa như vậy là một loại hàng hóa của sức lao động

Sức lao động là toàn bộ những năng lực (thể lực và trí lực) sẵn có của một người và được người được họ sử dụng vào sản xuất

Sức lao động là cái có trước, còn lao động chính là quá trình sử dụng sức lao động

Theo C.Mác: “sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong thân thể một con người,trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”

- Điều kiện sức lao động trở thành hàng hóa:

Trong mọi xã hội, sức lao động là yếu tố của sản xuất, nhưng sức lao động chỉ trở thành hàng hóa khi có hai điều kiện sau đây:

Đầu tiên, người lao động phải được tự do về thân thể , có quyền sở hữu sức lao động của mình và chỉ được bán nó trong một khoảng thời gian nhất định

Thứ hai, Người lao động không có tư liệu sản xuất cần thiết để tự tổ chức sản xuất Vì vậy, nếu họ muốn sống, họ chỉ có thể bán sức lao động của mình cho người khác sử dụng

Việc sức lao động trở thành hàng hoá đã đánh dấu một bước ngoặt cách mạng về phương thức liên kết người lao động với tư liệu sản xuất, một bước tiến lịch sử của chế độ nô lệ và chế độ phong kiến Sự bình đẳng về hình thức giữa người sở hữu sức lao động với người sở hữu tư bản che đậy bản chất của chủ nghĩa tư bản - chế độ được xây dựng trên sự đối kháng lợi ích kinh tế giữa tư bản và lao động

Trang 9

1.2 Hàng hóa sức lao động và giá cả của hàng hóa sức lao động

1.2.1 Hàng hóa sức lao động

- Giá trị của hàng hóa sức lao động:

- Giá trị của sức lao động cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết được xác định bằng số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất nó Giá trị của sức lao động được quyết định bởi giá trị của tất cả các tư liệu sinh hoạt cần thiết Để sản xuất và tái sản xuất sức lao động, để duy trì sức, đời sống của người lao động và gia đình của họ

- Giá trị của hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử tùy theo hoàn cảnh lịch sử của mỗi quốc gia, thời đại, phụ thuộc vào trình độ văn minh đạt được cùng với sự hình thành giai cấp công nhân và cả về điều kiện địa lý và khí hậu

- Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động:

- Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động là biểu hiện trong quá trình tiêu hao (tiêu hao) sức lao động, tức là trong quá trình làm việc để sản xuất một hàng hóa hoặc một dịch vụ nhất định

- Trong quá trình lao động, sức lao động tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân Giá trị tăng thêm so với giá trị sức lao động là giá trị thặng dư

1.2.2 Giá cả hàng hóa sức lao động – Tiền công CNTB

- Bản chất kinh tế của tiền công:

- Các hình thức của tiền công:

Tiền công thời gian là hình thức tiền công được tính trên cơ sở thời gian làm việc dài hay ngắn của người lao động (giờ, ngày, tuần, tháng)

Tiền công liên quan đến sản phẩm là hình thức tiền công được tính dựa trên số lượng sản phẩm được sản xuất ra hoặc số lượng công việc được thực hiện trong một khoảng thời gian

Trang 10

Mỗi sản phẩm được trả theo một đơn giá nhất định, cái gọi là đơn giá tiền công Để tìm đơn giá tiền công, người ta lấy tiền công bình quân ngày của một công nhân chia cho số sản phẩm một công nhân sản xuất ra trong một ngày làm việc bình thường

Ví dụ: Một nhân viên một ngày làm việc 8 tiếng kiếm được 240.000 đồng, tức là cứ mỗi h trôi qua thì sẽ kiếm được 30.000 đồng Nhưng nếu nhà thư bản bắt nhân viện làm việc 10 tiếng kiếm được 200.000 đồng, thì mỗi giờ trôi qua nhận được 20.000 đồng Ta có thể thấy sự chen

- Các xu hướng của tiền công trong CNTB:

Tiền công tính theo sản phẩm một mặt giúp nhà tư bản quản lý, theo dõi quá trình lao động của công nhân dễ dàng hơn Mặt khác, khuyến khích người lao động tích cực, khẩn trương chế tạo nhiều sản phẩm để có tiền lương cao hơn

Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tư liệu tiêu dùng và dịch vụ mà người công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình

Tiền công danh nghĩa là giá cả hàng hóa sức lao động; nó có thể tăng lên hay giảm xuống tuỳ theo sự biến động trong quan hệ cung - cầu về hàng hóa sức lao động trên thị trường Trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa vẫn giữ nguyên, nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên hay giảm xuống thì tiền công thực tế giảm xuống hay tăng lên

Trang 11

Chương 2: Vận dụng lý luận hàng hóa sức lao động trong xây dựng thị

trường lao động ở Việt Nam hiện nay 2.1 Đặc điểm thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Khái niệm thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay:

Thị trường lao động là nơi diễn ra các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động) và người mua sức lao động (người sử dụng lao động) dưới hình thức thỏa thuận về giá cả (tiền lương, tiền công) và các điều kiện lao động khác trên cơ sở hợp đồng lao động bằng văn bản, miệng hoặc hợp đồng lao động khác hoặc các hình thức hợp đồng, thỏa thuận khác

2.1.2 Đặc điểm thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay:

Đầu tiên là tài sản tư nhân Để nền kinh tế TT hoạt động, hầu hết tài sản

là hàng hoá và dịch vụ phải thuộc sở hữu tư nhân Chủ nhà có thể ký kết các hợp đồng ràng buộc về mặt pháp lý để mua, bán hoặc cho thuê tài sản của họ Tài sản của họ cho họ quyền tạo ra lợi nhuận

Thứ hai là quyền tự do lựa chọn Chủ sở hữu được tự do lựa chọn những gì để sản xuất, bán và mua Hàng hóa và dịch vụ trên thị trường cạnh tranh Họ chỉ có hai hạn chế: thứ nhất, giá mà họ sẵn sàng mua hoặc bán ; thứ hai, số vốn của họ

Thứ ba, động cơ vụ lợi Mọi người đều bán sản phẩm của mình cho người trả giá cao nhất và thương lượng giá thấp nhất để mua sản phẩm đó Mặc dù điều này có lợi cho bản thân nhưng về lâu dài sẽ không có lợi cho nền kinh tế.Hệ thống đấu giá này đặt giá cho hàng hóa và dịch vụ phản ánh giá trị thị trường của hàng hóa và dịch vụ và cung cấp bức tranh chính xác về cung

và cầu tại mọi thời điểm

Thứ tư là cạnh tranh Áp lực cạnh tranh sẽ khiến giá tiếp tục giảm Cạnh tranh cũng đảm bảo rằng xã hội cung cấp hàng hóa và dịch vụ một cách

Trang 12

hiệu quả nhất Ngay sau khi nhu cầu đối với một hàng hóa cụ thể tăng lên, giá

sẽ tăng theo quyền của hành động Các đối thủ cạnh tranh thấy rằng họ có thể tăng lợi nhuận của mình bằng cách sản xuất nhiều nguồn cung hơn Điều này làm giảm giá để chỉ còn lại những đối thủ cạnh tranh tốt nhất Áp lực cạnh tranh Điều này cũng áp dụng cho người lao động và người tiêu dùng Người lao động cạnh tranh để có công việc được trả lương cao nhất

Thứ năm là thị trường và hệ thống giá cả Nền kinh tế thị trường dựa trên một thị trường hiệu quả để bán hàng hoá và dịch vụ Đó là nơi mà tất cả người mua và người bán đều có quyền truy cập bình đẳng vào cùng một thông tin Sự thay đổi giá cả là sự phản ánh thuần tuý của quy luật cung và cầu Có năm yếu tố quyết định nhu cầu: giá của sản phẩm, thu nhập của người mua, giá của hàng hóa liên quan, thị hiếu của người tiêu dùng và kỳ vọng

Thứ sáu là vai trò của chính phủ Vai trò của chính phủ là đảm bảo thị trường mở cửa và hoạt động

Nền kinh tế thị trường hiện đại và hoàn chỉnh có tất cả các loại thị trường, bao gồm các yếu tố sản xuất, thị trường hàng hóa, dịch vụ và liên kết cung - cầu hoàn hảo để giảm sự phụ thuộc vào xuất nhập khẩu, trừ những mặt hàng đặc sản không có năng lực sản xuất quốc gia có thể được đáp ứng

để không bị ảnh hưởng bởi thị trường nước ngoài

2.2 Thực trạng chung hiện nay ở Việt Nam

Dân số lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý I / 2021 là 51,0 triệu

người, giảm 1,1 triệu người so với quý trước và giảm 180,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước So với quý trước, sự sụt giảm lực lượng lao động là

xu hướng thường có thể quan sát thấy trong nhiều năm, kể cả những năm trước đại dịch, do tâm lý “Tháng Giêng là tháng ăn chơi” của nhiều nhân viên sau kỳ nghỉ Tết Dương lịch Sự xuất hiện của đại dịch Covid19 ngay trước Tết Nguyên đán đã làm thay đổi xu hướng tăng thông thường so với cùng kỳ

Ngày đăng: 06/01/2022, 09:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w