Cho ta nhận thấy được quá trình xã hội loài người vận động thay thế nhau, phát triển thay thế nhau từ thấp đến cao thực chất chính là việc giải quyết các mâu thuẫn trong lòng nó, sự vận
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ BÀI: VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VÀO THỰC TIỄN ĐỔI MỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
Hà Nội, ngày 4 tháng 12 năm 2021
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 3
I LÝ LUẬN 3
1 Khái niệm hình thái Kinh tế - Xã hội 3
2 hội 3 Kết cấu hình thái Kinh tế - Xã 2.1 Lực lượng sản xuất 3
2.2 Quan hệ sản xuất 4
2.3 Kiến trúc thượng tầng 4
3 Sự phát triển hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên 5
3.1 Sự vận động và phát triển của xã hội tuân theo các quy luật khách quan của chính bản thân cấu trúc hình thái kinh tế - xã hội 5
3.2 Quy luật chung của lịch sử nhân loại là phát triển đi lên từ thấp đến cao qua năm hình thái kinh tế - xã hội 6
3.3 Quy luật phát triển đi lên của các hình thái kinh tế - xã hội bao hàm cả sự “bỏ qua” 6
II VẬN DỤNG 7
1.Sự phát triển đi lên và tình hình của nước ta hiện nay 7
2 Yếu tố con người và yếu tố khoa học – kỹ thuật 8
2.1 Yếu tố con người 8
2.2 Yếu tố khoa học – kỹ thuật 9
3 Những đổi mới cần thiết ở người lao động 9
KẾT LUẬN 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
LỜI MỞ ĐẦU Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về xã hội
của triết học Mác-Lênin, là một trong ba bộ phận hợp thành nên triết học Mác Nó là
Trang 3kết quả của sự vận dụng các phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử nhân loại Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một trong những phát hiện vĩ đại nhất của chủ nghĩa Mác bởi việc vận dụng triệt để chủ nghĩa duy vật để xem xét lĩnh vực những hiện tượng xã hội
đã loại bỏ được hạn chế của những lý luận lịch sử trước kia đồng thời tìm ra được quy luật cơ bản nhất, phổ biến nhất chi phối sự vận động và phát triển của xã hội loài người Cho ta nhận thấy được quá trình xã hội loài người vận động thay thế nhau, phát triển thay thế nhau từ thấp đến cao thực chất chính là việc giải quyết các mâu thuẫn trong lòng nó, sự vận động nội tại của những quy luật khách quan trong lòng hình thái kinh tế-xã hội và sự phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội đó là một quá trình lịch
sử tự nhiên
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội do Mác – Ăngghen phát hiện ra vào
những năm 40 của thế kỷ 19, được V.I.Lênin kế thừa, phát triển, và là một nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử, vạch ra những quy luật cơ bản nhất, phổ biến nhất của sự vận động phát triển xã hội, là phương pháp khoa học để nhận thức, cải tạo xã hội Qua thời gian, thế giới đã có những chuyển biến, thay đổi to lớn nhưng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vẫn giữ nguyên được những giá trị khoa học và thời đại của nó
Ngày nay chúng ta đang sống trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với
sự kết hợp của công nghệ số và sinh học đã tạo ra khả năng sản xuất hoàn toàn mới và
có tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của thế giới Với việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo học thuyết hình thái kinh tế - xã hội vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 chúng ta cần có những hướng đi, chính sách đúng đắn để xây dựng, phát triển đất nước và cụ thể hơn chính là việc cần phải đổi mới, đào tạo người lao động có
kỹ năng và phong cách làm việc năng động, sáng tạo bởi người lao động là giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 chính là cơ hội to lớn để Việt Nam thu hẹp khoảng cách phát triển với các nước tiên tiến và thực hiện được mục tiêu sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Tuy nhiên, bên cạnh những
cơ hội vẫn sẽ có những thách thức không hề nhỏ đối với người lao động Để hóa giải
Trang 4thách thức, tận dụng tốt cơ hội, việc đổi mới người lao động là vô cùng cần thiết và quan trọng
Từ những lý do trên em đã chọn đề tài: “Vận dụng học thuyết hình thái kinh
tế - xã hội vào thực tiễn đổi mới người lao động ở Việt Nam hiện nay”
Trong suốt thời gian vừa qua, tuy tình hình dịch bệnh COVID 19 vẫn và đang diễn ra rất phức tạp, cô và trò trường Đại học Kinh tế Quốc dân phải gặp nhau qua màn ảnh nhỏ, nhưng với cách giảng dạy và truyền đạt khoa học của cô Nghiêm Châu Giang - giảng viên bộ môn Triết Học Mác - Lênin đã giúp em có những cái nhìn, hiểu biết hơn về bộ môn để từ đó tiếp tục học tập, nắm vững kiến thức và nghiên cứu những lĩnh vực liên quan Tuy vậy, là một sinh viên năm nhất, em chưa có nhiều cơ hội trải nghiệm thực tế nên bài tiểu luận có thể vẫn còn những thiếu sót Em rất mong sẽ nhận được những góp ý tận tình từ cô để bài tiểu luận của em hoàn thiện hơn nữa và rút kinh nghiệm cho những lần tiếp theo Em xin chân thành cảm ơn cô!
Trang 5PHẦN NỘI DUNG
I LÝ LUẬN
I.1 Khái niệm hình thái Kinh tế - Xã hội
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử,
dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, được xây dựng trên một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy
I.2 Kết cấu hình thái Kinh tế - Xã hội
I.2.1 Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần tạo thành sức
mạnh thực tiễn cải biến giới tự nhiên theo nhu cầu sinh tồn, phát triển của con người
Lực lượng sản xuất bao gồm các nhân tố thuộc về người lao động (như năng
lực, kỹ năng, tri thức… của người lao động) cùng với các tư liệu sản xuất nhất định
(như đối tượng lao động, công cụ lao động…) Trong đó nhân tố “người lao động” giữ vai trò quyết định Bởi vì, xét đến cùng thì các tư liệu sản xuất chỉ là sản phẩm mà con người tạo ra, đồng thời giá trị và hiệu quả thực tế của tư liệu sản xuất chỉ được phát huy triệt để khi người lao động có kỹ năng, tri thức và trình độ cao Bên cạnh đó, trong quá trình sản xuất công cụ lao động bị hao phí thì người lao động tạo ra giá trị lớn hơn giá trị ban đầu của nó, người lao động là nguồn gốc của mọi sáng tạo trong sản xuất vật chất, sự phát triển sản xuất Mặt khác, trong tư liệu sản xuất nhân tố công cụ lao động là nhân tố phản ánh rõ nhất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nó là cầu nối giữa người lao động và đối tượng lao động, giữ vai trò quyết định trực tiếp đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm Công cụ lao động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất, là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi kinh
tế xã hội trong lịch sử hay được coi là thước đo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất- kỹ thuật của hình thái kinh tế - xã hội
và là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau Ngoài ra, khi lực lượng sản xuất thay đổi nó dẫn đến quan hệ sản xuất thay đổi và kéo theo đó là
Trang 6phương thức sản xuất thay đổi mà mỗi phương thức sản xuất được đặc trưng bởi một hình thái kinh tế - xã hội nên ta có thể nói lực lượng sản xuất xét đến cùng là yếu tố quyết định đến sự vận động và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội
I.2.2 Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với
người trong quá trình sản xuất vật chất Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức – quản lý quá trình sản xuất và quan hệ về phân phối sản phẩm lao động xã hội Những quan hệ sản xuất này tồn tại trong mối quan hệ thống nhất, chi phối và tác động lẫn nhau trong đó quan hệ sản xuất về tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định
Quan hệ sản xuất là quan hệ khách quan, cơ bản, chi phối và quyết định trực
tiếp tất cả các quan hệ xã hội khác hay có thể hiểu quan hệ sản xuất giống như cái khung, cái sườn của cơ thể xã hội Đồng thời, là tiêu chuẩn khách quan, quan trọng nhất để phân biệt các xã hội khác nhau trong lịch sử
Quan hệ sản xuất trong hình thái kinh tế - xã hội vừa tồn tại với tư cách là hình
thức kinh tế của sự phát triển lực lượng sản xuất, vừa tồn tại với tư cách là cái hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội (cơ sở hạ tầng) mà dựng trên nó chính là một hệ thống kiến trúc thượng tầng
I.2.3 Kiến trúc thượng tầng
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng xã hội với các
thiết chế chính trị - xã hội tương ứng cùng những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định
Cấu trúc của kiến trúc thượng tầng (theo chiều ngang) gồm những quan điểm,
tư tưởng về chính trị, pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học… và các thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể và tổ chức
xã hội khác Cùng các quan hệ xã hội nội tại trong các lĩnh vực đó
Trong xã hội có đối kháng giai cấp thì kiến trúc thượng tầng cũng mang tính đối kháng giai cấp và bộ phận có tác động mạnh nhất là nhà nước - công cụ quyền lực chính trị đặc biệt của giai cấp thống trị
Trang 7Kiến trúc thượng tầng là sự thể hiện các mối quan hệ giữa người với người
trong lĩnh vực tinh thần hay được hiểu như là da, thịt, mạch máu, thần kinh của cơ thể
xã hội, thể hiện vai trò năng động của hoạt động có ý thức của con người Là công cụ
để bảo vệ và phát triển cơ sở hạ tầng
I.3 Sự phát triển hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên I.3.1 Sự vận động và phát triển của xã hội tuân theo các quy luật khách quan của chính bản thân cấu trúc hình thái kinh tế - xã hội
I.3.1.1 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động tích cực với lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là nội dung còn quan hệ sản xuất là hình thức của phương thức sản xuất Lực lượng sản xuất biến đổi nhanh là yếu tố động còn quan hệ sản xuất thường ổn định và biến đổi chậm hơn so với lực lượng sản xuất Ban đầu quan hệ sản xuất còn là hình thức phù hợp với lực lượng sản xuất nhưng qua thời gian khi mà người lao động mâu thuẫn với tư liệu sản xuất và bộc lộ khả năng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất Cùng với đó việc cải tiến công cộng lao động, nâng cao nhận thức, kỹ năng làm việc… là lúc lực lượng sản xuất phát triển đi lên thì quan hệ sản xuất đã trở nên lỗi thời, lạc hậu, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất lỗi thời sẽ biểu hiện thành cuộc đấu tranh giữa các giai cấp lao động và cách mạng chống lại giai cấp thống trị lỗi thời Đấu tranh giai cấp phát triển đến tột đỉnh sẽ chuyển thành cách mạng xã hội, kết quả là phương thức sản xuất cũ sẽ bị thay thế bằng phương thức sản xuất mới cao hơn, tiên tiến hơn, ra đời một xã hội mới cao hơn, văn minh hơn, tiến bộ hơn
I.3.1.2 Quy luật kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai phương diện cơ bản của đời sống
xã hội lần lượt là phương diện kinh tế và phương diện chính trị - xã hội Chúng luôn tồn tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau và cơ sở
hạ tầng giữ vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng
Trang 8Cơ sở hạ tầng quyết định sự ra đời của kiến trúc thượng tầng, tương ứng với một cơ sở hạ tầng nhất định sẽ sinh ra một kiến trúc thượng tầng phù hợp có tác dụng bảo vệ cho cơ sở hạ tầng đó Cơ sở hạ tầng cũng quyết định cơ cấu, tính chất của kiến trúc thượng tầng và kiến trúc thượng tầng là sự phản ánh đối với cơ sở hạ tầng, khi cơ
sở hạ tầng mâu thuẫn thì tất yếu cũng xảy ra mâu thuẫn trong kiến trúc thượng tầng Chẳng hạn, sự xung đột trong lợi ích chính trị - xã hội có nguyên nhân sâu xa từ mâu thuẫn và cuộc đấu tranh giành lợi ích trong cơ sở kinh tế xã hội Tuy cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng nhưng không như nhau mà với mỗi yếu tố, hình thái của kiến trúc thượng tầng nó có sự tác động gần, xa trực tiếp, gián tiếp rất phức tạp
Tính chất phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng vào cơ sở hạ tầng có nguyên nhân sâu xa từ tính tất yếu kinh tế đối với toàn bộ các lĩnh vực sinh hoạt của xã hội Tính tất yếu kinh tế lại phụ thuộc vào tính tất yếu của nhu cầu duy trì và phát triển lực lượng sản xuất khách quan của xã hội
I.3.2 Quy luật chung của lịch sử nhân loại là phát triển đi lên từ thấp đến cao qua năm hình thái kinh tế - xã hội
Quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội tức là quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử nhân loại đều do tác động của các quy luật khách quan đó là lực lượng sản xuất thay đổi dẫn đến quan hệ sản xuất thay đổi và quan hệ sản xuất thay đổi phù hợp với lực lượng sản xuất sẽ tạo ra một phương thức sản xuất mới mà chính phương thức sản xuất mới này lại đặc trưng cho một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Dưới tác động đó mà lịch sử nhân loại thay thế tuần tự của các hình thái kinh tế xã hội: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa
I.3.3 Quy luật phát triển đi lên của các hình thái kinh tế - xã hội bao hàm cả
sự “bỏ qua”
Khi khẳng định tính chất lịch sử - tự nhiên của sự phát triển xã hội chủ nghĩa Mác - Lênin đồng thời khẳng định vai trò của những nhân tố khác đối với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử mỗi cộng đồng người cụ thể nói riêng Đó là các nhân tố như điều kiện lịch sử, địa lý, tương quan lực lượng chính trị của các giai cấp, truyền thống văn hóa… Chính do các nhân tố này mà tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người có thể diễn ra những con đường khác nhau, tạo nên sự
Trang 9phong phú đa dạng có thể bao hàm bước phát triển “bỏ qua” một hay vài hình thái kinh tế - xã hội nhất định Tuy nhiên sự “bỏ qua” như vậy đều có những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định
II VẬN DỤNG
II.1 Sự phát triển đi lên và tình hình của nước ta hiện nay
Nước ta là một nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đã bỏ qua hình thái kinh tế
- xã hội tư bản chủ nghĩa trong quá trình phát triển
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một tất yếu lịch
sử đối với nước ta vì:
-Toàn thế giới đã bước vào thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Thực tiễn đã khẳng định chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội đã lỗi thời về mặt lịch
sử, sớm hay muộn cũng phải được thay bằng hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là giai đoạn xã hội chủ nghĩa Cho dù hiện nay, với những cố gắng để thích nghi với tình hình mới, chủ nghĩa tư bản thế giới vẫn đang có những thành tựu phát triển nhưng vẫn không vượt ra khỏi những mâu thuẫn cơ bản của nó, những mâu thuẫn này không dịu đi mà ngày càng phát triển gay gắt và sâu sắc Chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của loài người mà đó phải là cộng sản chủ nghĩa
-Cách mạng Việt Nam phát triển theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Tính tất yếu lịch sử ấy xuất hiện từ những năm 20 của thế kỷ XX Nhờ đi con đường ấy, nhân dân ta đã làm Cách mạng Tháng Tám thành công, đã tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc Ngày nay, chỉ có đi lên chủ nghĩa xã hội mới giữ vững được độc lập, tự do cho dân tộc, mới thực hiện được mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, như vậy
là sự lựa chọn của chính lịch sử dân tộc lại vừa phù hợp với xu thế của thời đại Điều
đó cũng đã thể hiện sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta là một tất yếu lịch sử
Hiện nay trong cuộc cách mạng 4.0 đây là cuộc cách mạng mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức kể cả trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản
lý và thực thi ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, do trình độ phát triển của nước ta còn có khoảng cách so với các quốc gia công nghệ hàng đầu, tiềm lực công nghệ và tiềm lực
Trang 10tài chính cho đầu tư đổi mới, phát triển công nghệ còn hạn chế; thể chế, chính sách còn nhiều bất cập; cơ sở hạ tầng và cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu kịp yêu cầu, nhiệm vụ phát triển của con người và xã hội trong thời kỳ mới Với điều kiện, Việt Nam là nước đi sau nên có thể là cơ hội để “đi tắt, đón đầu”, bỏ qua một số giai đoạn phát triển khác thì chúng ta có thể tiết kiệm được thời gian so với các nước khác Và trong điều kiện nước ta là một nước nông nghiệp cho nên chúng ta cần đẩy mạnh phát triển công nghiệp, xây dựng dịch vụ từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong đó trọng tâm là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
II.2 Yếu tố con người và yếu tố khoa học – kỹ
thuật II.2.1 Yếu tố con người
Với những thách thức thấy được ở trên cùng với cơ sở lý luận của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội ta thấy được vấn đề sâu xa của việc phát triển đất nước chính nằm ở việc đổi mới người lao động
Đầu tiên chúng ta cần nhìn nhận những điểm tích cực của lực lượng sản xuất ở Việt Nam Từ khi lập nước đến nay, Việt Nam chủ yếu vẫn là một nước nông nghiệp
mà nghề nông là một nghề lao động vất vả, không chỉ đòi hỏi nhiều sức lao động mà còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Trong khi đó, điều kiện tự nhiên ở nước ta lại biến đổi rất thất thường, thường xuyên xảy ra hạn hán, mất mùa, thiên tai Chính nhờ những đặc điểm này đã hình thành nên giá trị của người lao động Việt Nam là sự cần
cù, chăm chỉ, sáng tạo, gắn bó bền chặt Bên cạnh đó Việt Nam cũng được biết đến là một nước có nguồn nhân lực dồi dào giá rẻ nên cũng sẽ thu hút được những nguồn đầu
tư từ nước ngoài
Tuy nhiên người lao động ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế Đầu tiên là về mặt thể chất của người lao động Việt Nam còn ở mức trung bình Bên cạnh đó, việc nhận thức về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 của toàn xã hội còn nhiều hạn chế, thống nhất Người lao động chưa nắm rõ được tầm quan trọng của cuộc cách mạng này và những cơ hội to lớn mở ra khi chúng ta tiếp cận được nó Khả năng phân tích, dự báo chiến lược về xu thế phát triển khoa học, công nghệ tác động đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước còn hạn chế Tư duy trong xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế phù