PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Mục tiêu nghiên cứu 3 3. Phương pháp nghiên cứu 3 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3 PHẦN NỘI DUNG 4 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LAO ĐỘNG TRẺ EM 4 1.1. Tiêu chuẩn lao động quốc tế: 4 1.2. Công ước số 138 4 1.3. Công ước số 182 6 1.4. Các khái niệm liên quan: 7 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN HAI CÔNG ƯỚC 138 VÀ 182 TRONG LOẠI BỎ CÁC HÌNH THỨC LAO ĐỘNG TRẺ EM TỒI TỆ Ở VIỆT NAM 8 2.1. Thực trạng thực hiện công ước 138 và 182 ở việt nam trong việc loại bỏ lao động trẻ em 8 2.2. Những thuận lợi và khó khăn khi Việt Nam thực hiện hai Công ước để giải quyết lao động trẻ em 13 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM 15 PHẦN KẾT LUẬN 18 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI (CS2)
KHOA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
GV: ThS CHÂU HOÀI BÃO
LOẠI BỎ NHỮNG HÌNH THỨC LAO ĐỘNG TRẺ EM TỒI TỆ NHẤT VÀ CHẤP HÀNH TUỔI LAO ĐỘNG TỐI THIỂU THÔNG QUA VIỆC THỰC HIỆN
CÔNG ƯỚC 138 VÀ CÔNG ƯỚC 182 Ở VIỆT NAM
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trẻ em - Một phần quan trọng của xã hội, là tương lai tươi sáng của đất nước, là tờgiấy trắng được xã hội vẽ lên trong quá trình xã hội hóa Trẻ em cũng như một số nhómđối tượng khác rất dễ bị tổn thương bởi những tác động từ bên ngoài, vì vậy mà các emcần được hưởng những gì tốt đẹp nhất, những nhu cầu về ăn, mặc, ở học hành và nhu cầuphát triển an toàn Ở bất cứ nơi nào cũng vậy, trẻ em sinh ra và lớn lên trong những điềukiện hoàn cảnh gia đình, cộng đồng đa dạng và không giống nhau Nhưng các em cóchung một nhu cầu khẩn thiết đó là nhu cầu được sự giúp đỡ, cưu mang của xã hội Ngàynay với tiến trình toàn cầu hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ, sự phát triển không ngừngcủa khoa học công nghệ đã góp phần thay đổi nhanh chóng đối với các lĩnh vực của đờisống xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của đông đảo các tầng lớp xã hội ngày càng đượcnâng cao Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu xã hội không thể phủ nhận thì vẫn còn tồntại một thực tiễn khong đáng mong muốn đó là tình trạng trẻ em bị bốc lột, bị lao độngcực nhọc trong các công trường, hầm mỏ, trẻ em lang thang trên đường phố
Như chúng ta đã biết, hiện nay không chỉ riêng Việt Nam mà ngay cả trên thế giớiđều tồn tại những đối tượng là trẻ em phải lao động sớm Thực trạng này đã xảy ra và trởthành tiếng chuông báo động lớn của mỗi quốc gia Trẻ em lao đọng sớm xuất hiện ởnhiều nơi, cả khu vực nông thôn và thành phố, tuy nhiên số lượng lớn bắt nguồn từ nôngthôn Ở nông thôn, công việc chính của các em vẫn là những công việc đồng áng, ở thànhthị thì tính chất công việc đa dạng hơn Tuy nhiên, phải đến đầu những năm 80 của thế kỉ
XX vấn đề lao động trẻ em mới được coi là vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu và thu hút
sự quan tâm của cộng đồng quốc tế Ở nước ta hiện nay, vấn đề tự do hàng hóa thị trường,sức lao động gồm cả lao động trí óc và lao động chân tay, lao động trẻ em đã mang lại lợinhuận cho chủ sử dụng lao động Trong một nền kinh tế như nền kinh tế của VIệt Namhiện nay với tỷ lệ hành nghề tự do đáng kể, sự phân chia về giới, tuổi lao động có nghĩamọi sức lao động có sẵn đều được sử dụng Chưa có một con số thống kê đầy đủ nào về tỉ
lệ lao động trẻ em trong cả nước, nhưng theo thống kê của các cuộc điều tra mức sống3
Trang 4dân cư Việt Nam 1992 - 1993 và 1997 - 1998, trẻ em thường tham gia các hoạt động kinh
tế nhỏ, trong đó, nhóm trẻ từ 15 - 17 tuổi tham gia nhiều nhất với tỉ lệ 62.3% tổng số trẻ
em tham gia hoạt động kinh tế Tỷ lệ trẻ em làm thuê kiếm sống ngày càng tăng lên Đángchú ý, có khoảng 15% trong số trẻ em làm thuê phải làm những công việc nặng nhọc, độchại, nguy hiểm như sản xuất gốm, sứ, vật liệu xây dựng
Việc trẻ em phải lao động sớm để lại những hậu quả nặng nề, không chỉ ảnh hưởngđến sự phát triển thể chất, tâm lý hài hào của trẻ em mà còn cản trở việc tiếp nhận vàhưởng thụ một nền giáo dục phù hợp Trẻ em đi làm sớm thì các quyền cơ bản của các em
sẽ mãi luẩn quẩn trong vòng nghèo đói Đồng thời sử dụng lao động trẻ em cũng tác độngtiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và chất lượng nguồn nhân lựctrong tương lai
Vì vậy cần thiết chúng ta phải có những biện pháp cụ thể để giúp trẻ em được sốngvới những nhu cầu chính đáng của mình, sự phát triển của đất nước trong tương lai luônluôn phụ thuộc vào việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày hôm nay Đây là mộtcông việc đòi hỏi kết hợp sự nổ lực của gia đình, nhà trường và xã hội không chỉ ở vi môquốc gia mà ở cả quy mô quốc tế Muốn làm tốt công tác này, trước hết cần có chủ trươngchính sách đúng đắn ở tầm vĩ mô Sau đó là cách triển khai thực hiện có bài bản, có cơ sở.Ngay tại thời điểm này, với điều kiện kinh tế Việt Nam còn ở mức phát triển thấp, tỷ lệ hộđói nghèo còn cao, do đó chỉ có những chính sách kinh tế thúc đẩy sự phát triển của ngườinghèo trong dân cư mới có khả năng có nhiều tác dụng đối với việc giải quyết vấn đề laođộng trẻ em Các công ước quốc tế cơ bản là một vấn đề rất quan trọng, do đó đây là vấn
đề được quan tâm trên thế giới Ở nước ta việc nghiên cứu các quy định của các công ướcquốc tế mới vừa đặt ra nên chưa có nhiều chương trình nghiên cứu chuyên sâu nào về cáctiêu chuẩn quốc tế cơ bản Vì thế yêu cầu cấp thiết của công tác hoạch định chính sách,xây dựng pháp luật về vấn đề các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản Vậy làm thế nào đểthực hiện các công ước về lao động trẻ em đạt hiệu quả và đưa ra được những giải pháptốt nhất nhằm loại bỏ lao động trẻ em? Đây cũng chính là nguyên nhân em chọn nghiên
cứu đề tài: “Loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất và chấp hành đúng
4
Trang 5tuổi lao động tối thiểu thông qua việc thực hiện công ước 138 và công ước 182 ở Việt Nam.”
Đề tài nghiên cứu thực trạng vấn đề sử dụng lao động trẻ em với các hình thức tồi tệ
và nâng độ tuổi tối thiểu lao động thông qua việc thực hiện hai công ước 138 và 182 ởViệt Nam, đồng thời thông qua việc tìm hiểu, phân tích thực trạng, từ đó đưa ra một sốkhuyến nghị và giải pháp để phần nào hạn chế và giải quyết vấn đề
3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt việc tìm hiểu các thông tin liên quan đến đề tài của bài tiểu luận,thực hiện các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp phân tích số liệu thống kê
- Phương pháp thu thập thông tin và xử lý dữ liệu
- Phương pháp thống kê
- Đối tượng nghiên cứu: Lao động trẻ em
- Phạm vi nghiên cứu: Trong các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản, nghiên cứu tìnhhình việc thực hiện hai công ước 138 về tuổi lao động tối thiểu và công ước 182 về loại
bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất và 182 tại Việt Nam
5
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LAO ĐỘNG TRẺ EM
a Tiêu chuẩn lao động quốc tế:
Các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO1: là những công ước được các chính phủ,giới chủ sử dụng lao động và người lao động đàm phán ở cấp quốc tế, để xác định xemnhững tiêu chuẩn tối thiểu nào nên được áp dụng với tất cả các nước
Hiệp định CPTPP2 là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới có quy địnhchung về lao động, không đưa ra tiêu chuẩn riêng mà áp dụng theo các tiêu chuẩn về laođộng đã được nêu trong tuyên bố năm 1998 về những nguyên tắc và quyền cơ bản tronglao động của ILO, thể hiện qua 08 công ước cơ bản (bao gồm các công ước số 29, 87, 98,
100, 105, 111, 138, 182) Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ILO từ năm 1992,
đã phê chuẩn 6/8 công ước cơ bản của ILO, trong đó có hai công ước quy định về cấm sửdụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất là công ước số 138
và 182
1 Tổ chức Lao động Quốc tế, gọi tắt là ILO
2 Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, gọi tắt là CPTPP
6
Trang 7Công ước số 138
Công ước số 138 về tuổi tối thiểu được đi làm thông qua ngày 26/7/1973, Việt Nam phê chuẩn ngày 24/6/2003 Công ước bao gồm 18 điều, trong đó có một số điều quan trọng, bao đồm:
Điều 1 Các quốc gia thành viên Công ước này cam kết theo đuổi một chính sách quốc gia
được xây dựng để bảo đảm việc xóa bỏ một cách hiệu quả tình trạng lao động trẻ em và
để nâng dần độ tuổi tối thiểu được tuyển dụng, vào làm việc hoặc được tahm gia lao động tới độ tuổi mà thanh thiếu niên đạt được mức độ phát triển đầy đủ nhất về thể chất và trí lực
Điều 2
1.Các quốc gia thành viên Công ước này, trong bản tuyên bố kèm theo văn bản tiêu chuẩn
công ước, phải nêu rõ độ tuổi tối thiểu được tuyển dụng vào làm việc hoặc được tham gia lao động trên lãnh thổ nước mình và trên phương tiện vận tải đăng ký ở nước mình; phù hợp với những quy định tại điều từ 4 đến 8 trong công ước này, không một ai ở mức tuổi tối thiểu đó có thể được tuyển dụng hoặc được làm việc ở bất cứ nghề nào
3 Độ tuổi tối thiểu trong khoản 1 điều này không được thấp hơn độ tuổi kết thúc chương
trình giáo dục bặt buộc, và trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được dưới 15 tuổi
4 Mặc dù có quy định tại khoản 3 điều này, những quốc gia thành viên mà nền kinh tế và
các điều kiện giáo dục còn kém phát triển thì sau khi tham khảo ý kiến của các tổ chức của người sử dụng lao động và của người lao động có liên quan có thể xác định được mứctuổi tối thiểu là 14 trong giai đoạn đầu
Điều 3 khoản 1 Đối với bất kì công việc hoặc nghề nghiệp nào mà do tính chất hoặc
điều kiện tiến hành có thể có hại cho sức khỏe, sự an toàn hoặc đạo đức của thanh thiếu niên thì mức tuổi lao động tối thiểu không được dưới 18 tuổi
Điều 5 Khoản1 Những quốc gia thành viên mà nền kinh tế và các điều kiện quản lý
hành chính còn kems phát triển thì sau khi tham khảo ý kiến các tổ chức hữu quan của người sử dụng lao động và của người lao động có thể giới hạn phạm vi áp dụng công ước này ở giai đoạn đầu
Điều 6 Công ước này không áp dụng với những hình thức lao động do trẻ em hoặc thanh
thiếu niên tiến hành ở các trường phổ thông, cơ sở dạy nghề hoặc đào tạo kĩ thuật hay trong các cơ sở đào tạo khác; hoặc với những công việc do những người từ 14 tuổi trở lê tiến hành trong các cơ sở mà những công việc đó được tiến hành theo đúng những điều kiện mà các nhà chức trách có thẩm quyền đã quy định sau khi đã tham khảo ý kiến các tổchức hữu quan của người sử dụng lao động và của người lao động, và với điều kiện những công việc đó là một bộ phận không tách rời của:
7
Trang 8- Một khóa giáo dục hoặc đào tạo mà do một nhà trường hay một cơ sở đào tạo nghề chịu trách nhiệm.
1.Một chương trình đào tạo nghề mà toàn bộ hay một phần thuộc về một chương trình đã
được các nhà chức trách có thẩm quyền chấp thuận
2.Một chương trình hướng nghiệp được xây dựng nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc
lựa chọn hay đào tạo một nghề nhất định
Điều 7
1.Luật hoặc pháp quy quốc gia có thể cho phép tuyển dụng hoặc tham gia lao động với
những người từ 13 đến 15 tuổi trong những công việc nhẹ, mà:
Không có khả năng gây tổn hại đến sức khỏe hoặc sự phát triển của các em;
Không ảnh hưởng đến việc học tập, việc tham gia vào những chương trình hướng nghiệp hay đào tạo nghề đã được các nhà chức trách có thẩm quyền chấp thuận hoặc những chương trình mà các em có khả năng tiếp thu
b Công ước số 182
công ước 182: Công ước về việc cấm và hành động tức thời để loại bỏ những hìnhthức lao động trẻ em tồi tệ nhất Việt Nam phê chuẩn Công ước số 182 vào ngày17/6/1999
Điều 1 Mỗi nước thành viên phê chuẩn công ước này sẽ áp dụng những biện pháp
thức thời và hiệu quả để đảm bảo việc cấm và loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi
Trang 9c Việc sử dụng, mua bán hay chào mời trẻ em cho các hoạt động bất hợp pháp, đặcbiệt cho việc sản xuất và buôn lậu ma túy như đã được định nghĩa trong các hiệp ướcquốc tế liên quan.
d Những công việc có khả năng làm hại đến sức khỏe sự an toàn hay đạo đức củatrẻ em, do bản chất của công việc hay do hoàn cảnh, điều kiện tiến hành công việc
Điều 8 các nước thành viên sẽ tiến hành những bước thích hợp để hỗ trợ thực hiện
những quy định của Công ước này thông qua việc tăng cường hợp tác và/hoặc trợ giúpquốc tế bao gồm sự hỗ trợ cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội xóa bỏ nghèonàn và giáo dục phổ cập
Các khái niệm liên quan:
- Theo công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em: “Trẻ em là những người dười 18tuổi, trừ phi pháp luật quốc gia quy định tuổi thành niên sớm”3
- Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam quy định:
“Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi" 4
1.4.2 Lao động trẻ em
- “Lao động trẻ em là lao động dưới một độ tuổi nhất định của pháp luật mỗi mộtquốc gia Công ước 138 năm 1973 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quy định tuổi laođộng tối thiểu không được thấp hơn độ tuổi để hoàn thành giá dục bắt buộc và trong mọitrường hợp không dưới 15 tuổi; đối với những nước mà cơ sở kinh tế và giáo dục chưaphát triển thì độ tuổi này là 14 Đối với các công việc nhẹ, độ tuổi lao động của trẻ em cóthể là 13 tuổi hoặc 12 tuổi”5
3 Điều 1, Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em do Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 20/11/1989 và có hiệu lực ngày 2/9/1990.
4 Điều 1, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam, 2004.
5 Theo Khoản 1, Điều 2, Công ước số 138 về tuổi lao động tối thiểu của Tổ chức Lao động quốc tế.
9
Trang 101.4.3 Nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên
Theo Bộ luật Lao động, điều 163 : “Nguyên tắc sử dụng lao động là người chưathành niên là: không được sử dụng lao động chưa thành niên làm những công việc nặngnhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh hưởng xấu đến nhân cách của
họ theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Y tếban hành Thời giời làm việc của người lao động chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới
18 tuổi không được quá 08 giờ một ngày và không quá 40 giờ một tuần Thời giờ làm việccủa người dưới 15 tuổi không quá 4 giờ một ngày và không quá 20 giờ một tuần.” (Bộluật lao động, 2012, trang 106.)
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN HAI CÔNG ƯỚC 138 VÀ 182 TRONG LOẠI BỎ CÁC HÌNH THỨC LAO ĐỘNG TRẺ EM TỒI TỆ Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng thực hiện công ước 138 và 182 ở việt nam trong việc loại bỏ lao động trẻ em
Việt Nam gia nhập ILO từ năm 1980 Năm 1982, Việt Nam rút khỏi ILO vì lý do kỹthuật, tài chính Năm 1992, Việt Nam gia nhập lại ILO; đến năm 2002, Việt nam và ILO
ký kết hiệp định thiết lập văn phòng ILO tại Hà Nội Mọi hoạt động của ILO tại Việt Namluôn gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của chính phủ và phù hợp với bốn mụctiêu chiến lược về chương trình làm việc của ILO Các hỗ trợ của ILO tập trung giúpchính phủ hoạch định chiến lược và chính sách về lao động, việc làm nhằm giúp cải thiệnđiều kiện sống và làm việc của người lao động
Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã tham gia 21 công ước của ILO, trong đó6/8 công ước cơ bản, 3/4 công ước ưu tiên và 13/177 công ước ký thuật 3 công ướcchúng ta chưa tham gia là công ước số : 87, 105 Đối với vấn đề sử dụng lao động trẻ emthì hệ thống pháp luật Việt Nam cũng đã có các quy định cụ thể Những quy định của Bộluật Lao động hiện hành đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn, phù hợp với các tiêu chuẩnquốc tế liên quan, cụ thể là các tiêu chuẩn theo Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ
em, công ước ILO số 138 về tuổi lao động tối thiểu và công ước số 182 về loại bỏ các10
Trang 11hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất Những nội dung về lao động trẻ em đã được triểnkhai tích cực cùng với sự hỗ trợ của dự án nâng cao năng lực quốc gia để phòng ngừa vàgiảm thiểu lao động trẻ em do Tổ chức Lao động quốc tế hỗ trợ.
Mặc dù trên thực tế Việt Nam đã tham gia nhiều Hiệp định Thương mại tự do, hộinhập quốc tế sâu rộng cùng với sự mở cửa của nền kinh tế thị trường đem đến nhiều thuậnlợi cho phát triển kinh tế - xã hội, nhưng mặc khác cũng đã đem đến những hình thức vàkhuôn mẫu mới gây tổn thương tới trẻ em Việt Nam Đối mặt với lỗ hổng này, các tổ chứcchính trị, xã hội không theo kịp được những thay đổi của cải cách kinh tế Nhiều báo cáogần đây chỉ ra rằng đã có sự gia tăng di cư trong nước, cũng như số gia đình và trẻ em mồcôi đổi chỗ ở mà không đăng ký sống tại khu vực trung tâm thành thị Nhiều em nhỏ phảichịu nguy cơ bị bốc lột lao động và lạm dụng tình dục Trẻ em và thanh thiếu niên làmviệc ở khu vực kinh tế phi chính thức, trong môi trường lao động không được quản lý vàđiều chỉnh Dẫn đến thực trạng nhiều trẻ em mới chỉ trên dưới 10 tuổi nhưng cũng đã phảilàm mọi nghề để kiếm sống; từ những công việc đơn giản như: bán vé số, phụ việc quáncơm,… tới những việc cần sự khéo léo như thợ sửa xe, công nhân xưởng may mặc,…vàthậm chí cả những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm như thợ cơ khí, phụ xâydựng, phu đào đãi vàng Trong hoàn cảnh này trẻ em không được giáo dục đầy đủ cũngnhư phát triển một cách lành mạnh
11