Do đó, tôi lựa chọn tìm hiểu ẩn dụ hình tượng trong thơ Xuân Quỳnh để làm nổi bật những nét độc đáo trong thơ về tình yêu bằng những lời cháy bỏng, tha thiết và nồng nàn của người thi sĩ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KHOA SƯ PHẠM
~~~~~~*~~~~~~
BÀI TIỂU LUẬN
TÌM HIỂU VỀ ẨN DỤ HÌNH TƯỢNG
TRONG THƠ XUÂN QUỲNH
Trang 2
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG MỘT: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ẨN DỤ
1. Vài khái niệm về ẩn dụ theo Phong cách học
2. Các kiểu ẩn dụ theo tác giả Đinh Trọng Lạc
2.1. Ẩn dụ (Ẩn dụ hình tượng)
2.2. Ẩn dụ bổ sung (Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác)
2.3. Ẩn dụ tượng trưng
CHƯƠNG HAI: ẨN DỤ HÌNH TƯỢNG TRONG THƠ XUÂN QUỲNH
1 Vài nét về tác giả Xuân Quỳnh
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp 1.2 Tác phẩm
2 Ẩn dụ tu từ hình tượng trong thơ Xuân Quỳnh
2.1 Ẩn dụ hình tượng sóng, thuyền và biển 2.2 Ẩn dụ hình tượng đôi bàn tay
2.3 Ẩn dụ hình tượng gió và cát, mây 2.4 Ẩn dụ hình tượng con tàu – sân ga 2.5 Ẩn dụ hình tượng trái tim
KẾT LUẬN
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong ngôn ngữ, cũng như trong tiếng Việt, ẩn dụ là một phương thức chuyển nghĩa quan trọng Nó giúp cách diễn đạt của thêm hàm súc, ít lời mà nhiều ý, đặc biệt là bóng bẩy, giàu hình ảnh và tràn đầy cảm xúc Đối với thơ ẩn dụ là một phương tiện tu từ quan trọng, không thể thiếu trong ngôn ngữ nghệ thuật, nhằm tạo
ra sức hấp dẫn, gợi cảm trong sức diễn đạt Ẩn dụ có khả năng cho phép người ta suy nghĩ lệch chuẩn, buộc người đọc tạo ra liên tưởng nhiều chiều, làm đối tượng được nói tới tồn tại ở nhiều trạng thái khác nhau Nhờ qua phương thức ẩn dụ, người
ta có thể nhận ra phong cách cá nhân của mỗi nhà thơ cùng những sáng tạo nghệ thuật được xây dựng từ cái nền riêng của thơ ca dân tộc
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh là một tác giả nữ có phong cách và bản sắc riêng, là nữ thi sĩ tài hoa của văn đàn văn học trong những năm kháng chiến chống Pháp, hồn thơ của cô bắt rễ từ những điều bình dị nhất trong cuộc sống và
nở hoa trên nghệ thuật đặc sắc qua tài năng của người nghệ sĩ Thơ của Xuân Quỳnh bộc lộ rõ năng lượng cảm xúc trong từng câu, từng chữ Dù trong mỗi hoàn cảnh, một cung bậc tâm trạng khác nhau nhưng rõ ràng và sâu đậm như chính thái độ sống tích cực, hết mình vì cuộc sống gia đình và xã hội của nữ sĩ Ngôn từ
và cách diễn đạt của Xuân Quỳnh thường giản dị, tự nhiên mà yêu thương da diết, in dấu nếp nghĩ, nếp cảm của tâm hồn người Việt Hình tượng thơ Xuân Quỳnh chủ yếu thường gặp ở phương thức ẩn dụ và cũng chính phương thức này tạo nên phong cách riêng của tác giả Do đó, tôi lựa chọn tìm hiểu ẩn dụ hình tượng trong thơ Xuân Quỳnh để làm nổi bật những nét độc đáo trong thơ về tình yêu bằng những lời cháy bỏng, tha thiết và nồng nàn của người thi sĩ
Và để hiểu sâu và toàn diện về thơ Xuân Quỳnh là một việc làm không dễ, chúng ta không thể tìm hiểu rõ mọi khía cạnh thơ của thi nhân Nên tôi chỉ khái quát một khía cạnh nhỏ trong thơ Xuân Quỳnh đó là “Tìm hiểu về ẩn dụ hình tượng trong thơ
Trang 4Xuân Quỳnh” để làm bài tiểu luận Đồng thời tôi muốn tìm hiểu
và nắm vững biện pháp tu từ ẩn dụ, vừa làm giàu kiến thức cho mình vừa góp phần nhỏ bé để làm tiếng việt thêm phong phú, đa dạng về nghĩa Như vậy việc tìm hiểu về ẩn dụ hình tượng thể hiện qua thơ của Xuân Quỳnh mang lại nhiều lợi ích cho bản thân có thể nắm vững kiến thức về những bài thơ của Xuân Quỳnh và tìm hiểu thêm về biện pháp tu từ ẩn dụ để phục vụ tốt cho công tác dạy học sau này
Với tất cả những lí do trên là động lực quan trọng giúp tôi đi sâu nghiên cứu vấn đề: “Tìm hiểu về ẩn dụ hình tượng trong thơ Xuân Quỳnh”
2. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này tôi có dịp đi sâu khám phá những nét đặc trưng riêng những đóng góp mới về phương diện sử dụng phương thức ẩn dụ hình tượng trong thơ Xuân Quỳnh Thêm vào
đó, để tạo nên sự thành công về phương diện nội dung và nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh góp phần vào việc giảng dạy văn học trong nhà trường Phổ thông Mặt khác, đi vào nghiên cứu vấn đề này, tôi có dịp làm quen với các thực hiện bài tiểu luận, làm nền tảng cho những bài tiểu luận tiếp theo
3. Đối tượng nghiên cứu
Các văn bản thơ có chứa ẩn dụ hình tượng của thi sĩ Xuân Quỳnh
4. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu, khảo sát những bài thơ có ẩn chứa ẩn dụ hình tượng trong văn bản thơ của Xuân Quỳnh thông qua mạng Internet và sách văn học
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài này, tôi sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích tổng hợp để nghiên cứu đề tài Bên cạnh đó còn kết hợp với việc sử dụng tất cả các phương pháp văn học diễn dịch quy nạp, liệt kê để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài này Tất cả các đề tài đều sử dụng các phương pháp tích hợp, đó là tổng hợp các tri thức đã được tích luỹ có liên quan để phục vụ tốt cho bài tiểu luận này Trong quá trình nghiên cứu tôi liệt kê
Trang 5những câu thơ có sử dụng hình ảnh ẩn dụ hình tượng để tiện cho việc khảo sát
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG MỘT: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ẨN DỤ
1. Vài khái niệm về ẩn dụ theo Phong cách học
Các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: Trong tiếng Việt
có hai loại ẩn dụ, đó là ẩn dụ tu từ và ẩn dụ từ vựng Ẩn dụ tu
từ là đối tượng nghiên cứu của chuyên ngành Phong cách học, còn ẩn dụ từ vựng là đối tượng của chuyên ngành Từ vựng học
Ở đề tài này tôi xem xét và nghiên cứu về ẩn dụ tu từ
Khái niệm về ẩn dụ được các nhà ngôn ngữ học nêu lên với nhiều cách diễn đạt khác nhau:
- Trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt” của Cù Đình Tú -Lệ Anh Hiền - Nguyễn Thái Hoà - Võ Bình (1982) có viết: “ Ẩn dụ
là cách lấy tên gọi của đối tượng này để lâm thời biểu thị một đối tượng khác trên cơ sở thừa nhận ngầm một nét giống nhau nào đấy giữa hai đối tượng”
- Trong quyển “Phong cách học và phong cách chức năng tiếng Việt” của Hữu Đạt nêu: “Ẩn dụ chính là việc dùng tên gọi này
để biểu thị sự vật khác dựa trên cơ chế tư duy và ngôn ngữ dân tộc”
- Còn tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn “ 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt” cho rằng: “Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng dựa trên sự tương đồng hay giống nhau giữa khách thể A được định danh với khách thể B
có tên gọi được chuyển sang dùng cho A”
Ẩn dụ tu từ: là những sáng tạo của cá nhân, có tính lâm thời, có nghĩa trong một ngữ cảnh nhất định,
có giá trị biểu cảm cao, hàm súc, hình tượng, nếu tách khỏi ngữ cảnh thơ thì ẩn dụ không còn ý nghĩa
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về ẩn dụ Ở đây tôi lựa chọn khái niệm của tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt để làm cơ sở cho việc nghiên cứu khảo sát đề tài tiểu luận
2. Các kiểu ẩn dụ theo tác giả Đinh Trọng Lạc
Trang 6Dựa theo cách phân chia của tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn
“Phong cách học tiếng Việt” Theo tác giả, ẩn dụ được phân chia thành các kiểu nhóm sau:
+ Ẩn dụ (Ẩn dụ hình tượng)
+ Ẩn dụ bổ sung (Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác)
+ Ẩn dụ tượng trưng
Ngoài ra còn có nhân hoá và vật hoá, phúng dụ là những biến thể của ẩn dụ Trong những kiểu nhóm trên, ẩn dụ hình tượng là một phương thức tiêu biểu và xuất hiện phổ biến trong thơ ca
2.1 Ẩn dụ ( Ẩn dụ hình tượng)
Ẩn dụ hình tượng là nguồn sản sinh ra đồng nghĩa
Ví dụ: Ở nghĩa gốc, từ hoa là tên gọi cơ quan sinh sản hữu tính của
một loại thực vật thường có màu sắc đẹp và hương thơm Dùng
trong thơ ca từ hoa khi thì dùng để ví người phụ nữ đẹp, khi thì
được dùng để ví người tình nhân hào hoa phong nhã, khi lại dùng để
ví người có phẩm chất cao đẹp Như vậy, hoa đồng nghĩa với tốt
đẹp, cao quý
Hoa thơm bán một đồng mười Hoa tàn nhị rữa bán đôi lạng vàng
(Ca dao) Giá đành trong nguyệt trên mây Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa
(Nguyễn Du) Phượng những tiếc cao, diều hay liệng Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi
(Nguyễn Trãi)
Ẩn dụ hình tượng là phương thức bình giá riêng của cá nhân nhà văn, nhà thơ Bằng những sắc thái ý nghĩa, bằng ý nghĩa hình tượng tìm kiếm được, ẩn dụ hình tượng tác động vào trực giác của người nhận và đem lại khả năng cảm thụ sáng tạo
2.4. Ẩn dụ bổ sung (Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác)
Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác là sự kết hợp của hai hay nhiều từ chỉ cảm giác phong phú, đa chiều, đa vị, đa nghĩa Ẩn dụ bổ sung được chia ra một số loại như sau:
+ Thị giác + nhiệt: Cái màu xanh này mát quá
+ Thính giác + vị giác: Câu chuyện nhạt phèo
Trang 7+ Thị giác + khứu giác: Thấy thơm rồi đó
+ Khứu giác + vị giác: Một mùi đăng đắng
+ Thính giác + xúc giác: Một tiếng sắc nhọn
2.5. Ẩn dụ tượng trưng
Ẩn dụ tượng trưng là sự kết hợp của một khái niệm trừu tượng với một khái niệm về cảm giác
Ví dụ:
“Tai nương nước giọt mái nhà Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn Nghe đi rời rạc trong hồn
Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi…”
(Huy Cận )
Ẩn dụ tượng trưng là đặc điểm của ngôn ngữ thơ Nó trở thành một phương tiện tu từ đắc lực trong việc bộc lộ tâm hồn sâu kín qua cái cảm quan kì diệu của con người
Trong bài tiểu luận này tôi chỉ tìm hiểu về một số bài thơ tiêu biểu có chứa ẩn dụ hình tượng trong thơ Xuân Quỳnh để khám phá
CHƯƠNG HAI: ẨN DỤ HÌNH TƯỢNG TRONG THƠ
XUÂN QUỲNH
1. Vài nét về tác giả Xuân Quỳnh
1.1. Cuộc đời và sự nghiệp
Xuân Quỳnh( 1942-1988) tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh sinh ngày 6 tháng 10 năm 1942 tại xã Văn Khê, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay thuộc phường La Khê, quận Hà Đông, thủ đô Hà Nội) Bà sinh ra trong một gia đình công chức gia giáo,
mẹ không may mất sớm, cha thì thường xuyên phải công tác xa nhà nên từ nhỏ Xuân Quỳnh sống với bà nội và được bà nội nuôi dạy tận tình cho đến khi trưởng thành
+ Tháng 2 năm 1955, Xuân Quỳnh được tuyển vào Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và được đào tạo thành diễn viên múa
Bà đã nhiều lần đi biểu diễn ở nước ngoài và dự Đại hội thanh niên sinh viên thế giới năm 1959 tại Viena (Áo)
Trang 8+ Từ năm 1962 đến 1964, Xuân Quỳnh học Trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ (khoá I) của Hội Nhà văn Việt Nam Sau khi học xong, làm việc tại báo Văn nghệ, báo Phụ nữ Việt nam Xuân Quỳnh là hội viên từ năm 1967, ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá III
+ Năm 1973, Xuân Quỳnh kết hôn với nhà viết kịch, nhà thơ Lưu Quang Vũ, trước đó, Xuân Quỳnh kết hôn lần đầu tiên với một nhạc công của Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và đã ly hôn
Từ năm 1978 đến lúc mất Xuân Quỳnh làm biên tập viên Nhà xuất bản Tác phẩm mới
+ Tháng 8, năm 1988 hai vợ chồng Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ
và con trai Lưu Quỳnh Thơ bị mất trong một vụ tai nạn giao thông tại thành phố Hải Dương
+ Xuân Quỳnh được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2001
1.2. Tác phẩm
Thơ của Xuân Quỳnh luôn giàu cảm xúc và nhiều màu sắc đặc biệt Chủ đề chính được bà khai thác thường nghiêng về hướng nội nhiều hơn, đó là chủ đề: Kỷ niệm tuổi thơ, gia đình, tình yêu,
… Thơ của bà gần gũi với cuộc sống đời thường hòa với tâm trạng chung của xã hội
Các tác phẩm chính:
- Tơ tằm – chồi biếc (thơ, in chung, Nhà xuất bản Văn học, 1963)
- Hoa dọc chiến hào (thơ, in chung, 1968)
- Gió Lào, cát trắng (thơ, 1974)
- Lời ru trên mặt đất (thơ, 1978)
- Sân ga chiều em đi (thơ, 1984)
- Tự hát (thơ, 1984)
- Hoa cỏ may (thơ, 1989)
- Thơ Xuân Quỳnh (1992, 1994)
- Thơ tình Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ (1994)
- Hát với con tàu
- Cây trong phố – Chờ trăng (thơ, in chung)
Các tác phẩm viết cho thiếu nhi
- Tiếng gà trưa
Trang 9- Bầu trời trong quả trứng (thơ thiếu nhi, 1982)
- Truyện Lưu Nguyễn (truyện thơ, 1985)
- Mùa xuân trên cánh đồng (truyện thiếu nhi – 1981)
- Bến tàu trong thành phố (truyện thiếu nhi, 1984)
- Vẫn có ông trăng khác (truyện thiếu nhi, 1986)
- Tuyển tập truyện thiếu nhi (1995)
- Chú gấu trong vòng đu quay (tập truyện)
Thành tựu nghệ thuật
Thơ Xuân Quỳnh giàu cảm xúc với những cung bậc khác nhau như chính tính cách luôn hết mình của Xuân Quỳnh Nhiều bài thơ của Xuân Quỳnh đã trở nên nổi tiếng như Thuyền và biển, Sóng (viết năm 1967, in trong tập Hoa dọc chiến hào năm 1968), Hoa cỏ may,
Tự hát, Nói cùng anh… Các bài thơ Sóng, Truyện cổ tích về loài người (Lời ru trên mặt đất, Nhà xuất bản Tác phẩm mới, 1978) được đưa vào sách giáo khoa phổ thông của Việt nam Nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu đã phổ nhạc rất thành công các bài thơ: Thuyền
và biển (4/1963), Thơ tình cuối mùa thu của Xuân Quỳnh
2. Ẩn dụ tu từ hình tượng trong thơ Xuân Quỳnh
Tôi tìm ra một số ẩn dụ hình tượng tiêu biểu xuất hiện rất nhiều trong thơ của Xuân Quỳnh như : hình tượng con sóng, thuyền, biển, đôi bàn tay, mây, con tàu, sân ga, gió, trái tim, hoa,…có trong một
số bài thơ tiêu biểu của tác giả
2.1. Ẩn dụ hình tượng Sóng, thuyền và biển
Nói tới hình tượng trong thơ Xuân Quỳnh thì ta không thể nào không nhớ đến hình tượng con sóng, thuyền và biển bởi những hình ảnh này thường xuyên xuất hiện trong thơ của thi sĩ Với một tâm hồn nhạy cảm, một khát vọng luôn dâng trào mãnh liệt với tình yêu hạnh phúc, một con tim cuồng nhiệt đam mê để sống và để yêu, thì hình ảnh sóng vỡ bờ, thuyền và biển luôn sôi nổi, nồng nàn như chính tâm hồn của nữ sĩ Bằng sự nhạy cảm và tinh tế của người phụ
nữ, sự sắc sảo của một nhà thơ, Xuân Quỳnh đã nắm bắt được từng biến động, từng đặc điểm của sự vật thông qua hình ảnh sóng, thuyền và biển để từ đó biến nó thành sự phản ánh những cung bậc tình cảm, những khía cạnh của đời sống con người ở từng trạng thái khác nhau, đặc biệt những xúc cảm của tình yêu
Trang 10Trong bài thơ “Sóng” mượn hình ảnh “sóng” của thiên nhiên
để ẩn dụ cho những tình cảm, tâm trạng đầy phức tạp của người con gái trong tình yêu Sóng là hình tượng ẩn dụ cho em, là sự hoá thân của em về tình yêu của người phụ nữ trong bài thơ cùng tên của nhà thơ Xuân Quỳnh
“Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể”
Tính từ trái nghĩa “dữ dội - dịu êm, ồn ào - lặng lẽ” thể hiện những thái cực đối lập của con sóng giống những cảm xúc đối lập trong cảm xúc của người con gái khi yêu, có khi sôi nổi nồng nhiệt nhưng cũng có những lúc trầm lắng, lặng lẽ Bằng hình tượng sóng, tác giả
đã có cách nói hình tượng đầy sinh động về tình cảm của người con gái khi đang chìm đắm trong tình yêu đẹp đẽ
“Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được”
Tâm trạng nhớ nhung da diết, khắc khoải của con sóng, dù con sóng
ở bất cứ nơi nào vẫn chỉ nhớ về bờ, hướng về ngày ngày đêm đêm cho đến khi vào được đến bờ Người con gái luôn một lòng một dạ hướng về người mình yêu thương, nhấn mạnh nỗi nhớ triền miên luôn thường trực Nỗi nhớ ấy theo họ cả vào trong mộng, sống trong giấc mơ của họ Đó không chỉ là tấm lòng thủy chung sâu sắc của người con gái mà còn là khao khát tình yêu, được thể hiện yêu thương với người yêu của mình
- Cùng với “Sóng” thì hình ảnh “Thuyền và biển” cũng là một ẩn
dụ hình tượng tiêu biểu cho khát vọng tình yêu của thi sĩ Trong bài thơ “ Thuyền và biển là bài thơ kể lại câu chuyện tình yêu, sự khăng khít và bền vững trong tình yêu của chàng trai và cô gái Tình yêu
ấy nhiều cung bậc, khi thương nhớ mênh mông, cồn cào da diết, bâng khuâng trong tình yêu được Xuân Quỳnh miêu tả một cách rõ nét làm cho biết bao trái tim tan chảy, lâng lâng khó tả
Trang 11“Chỉ có thuyền mới hiểu Biển mênh mông nhường nào Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu, về đâu
Những ngày không gặp nhau Biển bạc đầu thương nhớ Những ngày không gặp nhau Lòng thuyền đau – rạn vỡ”
“Thuyền và biển” trở thành một cặp không thể thiếu trong cuộc hành trình trên đại dương bao la, đúng là khoảng cách bến bờ của biển chỉ có thuyền mới xác định được bao nhiêu hải lý và cũng chỉ
có biển mới theo kịp những chuyến rong ruổi của thuyền trên sóng biển bao la Chúng trở thành đối tượng hướng về nhau như một quy luật tất yếu của cuộc sống Xuân Quỳnh đã khai thác những trạng thái, cảm xúc của con người được ẩn hiện trong hình ảnh thuyền và biển Điểm đặc biệt, độc đáo trong thơ Xuân Quỳnh khi xây dựng những hình ảnh ẩn dụ mang ý nghĩa biểu tượng là tính “nửa vời” độc đáo, nửa úp nửa mở một cách có dụng ý của tác giả Với cách nói hình tượng, nhà thơ đã diễn tả nỗi nhớ thiết tha, nỗi nhớ được dựng lên bởi một thời gian bất thường và cụ thể hóa được nỗi nhớ thương Và khoảng cách của thuyền và biển cũng đồng nghĩa với khoảng cách của anh và em:
“Nếu từ giã thuyền rồi Biển chỉ còn sóng gió Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố”
“Thuyền và biển” không chỉ là đối tượng chủ thể trữ tình mà hình ảnh đó là biểu trưng cho cảm xúc của những đôi lứa yêu nhau Đó là tâm trạng nhớ nhung, buồn đau của tháng ngày xa cách, là ước nguyện luôn được gắn bó, bền chặt bên nhau Tình yêu trong Xuân Quỳnh vẫn mãi là biển xanh mênh mông, vẫn mãi nồng nàn, thật say đắm, đồng thời vẫn tiềm ẩn bên trong đó là những bão tố, là rạn vỡ
2.2. Ẩn dụ hình tượng đôi bàn tay