1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CHƯƠNG 3:PHÁP NHÂN VÀ CÁC CHỦ THỂ KHÁC CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

14 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 37,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm, các điều kiện pháp nhân Điều kiện để trở thành Pháp nhân: Cơ quan, tổ chức, chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập có các kiện quy định tại Điều 84 về Pháp n

Trang 1

Chương 3:PHÁP NHÂN VÀ CÁC CHỦ THỂ KHÁC CỦA QUAN

HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ 3.1 Pháp nhân

3.1.1 Khái niệm, các điều kiện pháp nhân

Điều kiện để trở thành Pháp nhân: Cơ quan, tổ chức, chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập có các kiện quy định tại Điều 84

về Pháp nhân.Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ 4 điều kiện sau đây:

– Thứ nhất, là được thành lập hợp pháp: thành lập theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định

– Thứ hai, là có cơ cấu tổ chức chặt chẽ

– Thứ ba, là có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó: pháp nhân phải có tài sản riêng không phụ thuộc

và bị chi phối bởi bất kì chủ thể tham gia quan hệ pháp luật nào khác, trên

cơ sở tài sản riêng đó pháp nhân phải chịu trách nhiệm, thực hiện nghĩa

vụ tài sản của mình

– Thứ tư, là nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập: vì tham gia vào quan hệ pháp luật một cách độc lập nên pháp nhân sẽ được hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ dân sự phù hợp với pháp nhân nên pháp nhân phải nhân danh chính mình

3.1.2 Các loại pháp nhân.

Theo Điều 75, Điều 76 BLDS 2015, pháp nhân được chia thành hai loại là:

Pháp nhân thương mại

Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên

Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác

Pháp nhân phi thương mại

Pháp nhân phi thương mại là pháp nhân không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên

Pháp nhân phi thương mại bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính

Trang 2

trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ

xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác

3.1.3 Năng lực chủ thể của pháp nhân Điều 86 BLDS 2015

3.1.3.1 Khái niệm:

Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự

3.1.3.2 Đặc điểm:

⮚ Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế

⮚ Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký

⮚ Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm chấm dứt pháp nhân

3.1.4 Trách nhiệm dân sự của pháp nhân

Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân

Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập, đăng ký pháp nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu trách nhiệm thay cho người của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự

do người của pháp nhân xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác

Người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện, trừ trường hợp luật có quy định khác

Trang 3

3.1.5 Đại diện của pháp nhân: Bộ luật Dân sự 2015 quy định

"1 Đại diện của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật

hoặc đại diện theo uỷ quyền Người đại diện của pháp nhân

phải tuân theo quy định về đại diện

2 Đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy định

trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập

pháp nhân."

Như vậy, mọi hoạt động của pháp nhân được thực hiện thông qua hành vi của người đại diện của pháp nhân Đại diện của pháp nhân là người nhân danh pháp nhân tham gia các giao dịch vì lợi ích của pháp nhân đó Người đại diện của pháp nhân do pháp luật hoặc Điều lệ của pháp nhân quy định và họ có thể ủy quyền lại cho người khác Với tư cách là người đại diện của pháp nhân, hành vi của người đại diện vì lợi ích của pháp nhân và trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được pháp nhân giao là hành

vi của pháp nhân mà người đó đại diện, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của pháp nhân chứ không phải của bản thân người đại diện Ý chí của các thành viên pháp nhân được thể hiện thống nhất thông qua người đại diện

3.1.6 Các yếu tố lý lịch của pháp nhân

Các yếu tố lí lịch của pháp luật là tổng hợp các sự kiện pháp lí để cá biệt hóa pháp nhân với các pháp nhân khác khi tham gia vào các quan hệ pháp luật Những yếu tố lí lịch của pháp nhân được xác định trong điều lệ của pháp nhân hay quyết định thành lập pháp nhân

- - Điều lệ của pháp nhân phải có những nội dung như tên goi, quốc tịch, trụ sở, nơi đóng trụ sở, cơ quan điều hành, vốn điều lệ, quyền và nghĩa vụ của các thành viên, cơ cấu tổ chức; thể thức bầu, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các chức danh trong cơ quan điều hành và các cơ quan khác Đặc biệt điều lệ phải xác định nhiệm vụ, mục đích và phạm vi hoạt động của pháp nhân Việc thay đổi, sửa đổi, bổ sung điều lệ của pháp nhân phải được cơ quan thành lập pháp nhân chuẩn y và phải đăng kí điều lệ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 4

– Quốc tịch của pháp nhân: là mối liên hệ pháp lí giữa cá nhân với nhà nước, mỗi pháp nhân có quốc tịch riêng Pháp nhân được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam là pháp nhân Việt Nam Việc xác định ý nghĩa của pháp nhân có ý nghĩa trong việc xác định pháp luật chi phối các hoạt động của pháp nhân đó

– Cơ quan điều hành của pháp nhân: là tổ chức đầu não của pháp nhân điều hành mọi hoạt động bên trong cũng như tham gia vào hoạt động bên ngoài của pháp nhân Tổ chức và nhiệm vụ của cơ quan điều hành tùy thuộc vào loại hình pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân

– Trụ sở của pháp nhân là nơi đặt cơ quan điều hành của pháp nhân, nơi tập trung các hoạt động chính của pháp nhân, nơi tống đạt các giấy tờ giao dịch với pháp nhân, là nơi tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của pháp nhân Địa chỉ liên lạc của pháp nhân là địa chỉ trụ sở của pháp nhân Pháp nhân có thể chọn nơi khác làm địa chỉ liên lạc

Ngoài trụ sở chính, pháp nhân có thể có các văn phòng đại diện của pháp nhân, các chi nhánh của pháp nhân Văn phòng đại diện và chi nhánh của pháp nhân là những đơn vị phụ thuộc của pháp nhân

Văn phòng đại diện của pháp nhân thực hiện nhiệm vụ theo đại diện ủy quyền cho lợi ích của pháp nhân và bảo vệ các lợi ích đó Văn phòng đại diện không thực hiện các hành vi sản xuất kinh doanh Chi nhánh của pháp nhân thực hiện một phần hoặc toàn bộ nhiệm vụ của pháp nhân tại nơi đặt chi nhánh Ngoài ra chi nhánh có thể thực hiện các hành vi đại diện theo ủy quyền của pháp nhân Hành vi của họ được coi là hành vi của pháp nhân khi xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự

3.1.7 Thành lập pháp nhân

Khoản 1 Điều 82 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định “Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”

Trang 5

Thủ tục thành lập do các văn bản pháp luật quy định BLDS phân biệt việc thành lập pháp nhân theo trình tự – cách thức một pháp nhân được hình thành

Trình tự mệnh lệnh

Đây là trình tự thành lập theo quyết định đơn hành của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền (Thủ tướng chính phủ; bộ trưởng; chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Những người này có thể ủy quyền cho cơ quan cấp dưới của mình thành lập) Căn cứ vào nhu cầu thực tế, vào khả năng thực tại, các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thành lập Trong quyết định thành lập có quy định rõ chức năng, nhiệm

vụ và quyền hạn của pháp nhân, lĩnh vực hoạt động của pháp nhân Trình

tự này thường được áp dụng để thành lập các cơ quan của Nhà nước

Trình tự cho phép

Theo trình tự này, pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của các sáng lập viên, hội viên hoặc của các tổ chức Họ tự đề ra mục đích, nhiệm vụ,

cơ cấu tổ chức, thành viên… Cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra tính hợp pháp của điều lệ, sự cần thiết tồn tại của tổ chức đó và cho phép thành lập Trình tự này thường được áp dụng để thành lập các pháp nhân

là các tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, các quỹ từ thiện.ngoài ra các tổ chức này phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận điều lệ

Trình tự công nhận

Pháp luật đã dự liệu việc thành lập các pháp nhân bằng cách quy định về khả năng tồn tại của nó thông qua các văn bản pháp luật hoặc các điều lệ, quy chế mẫu, quy định về điều kiện thành lập Trong đó, đã xác định rõ quyền hạn, nhiệm vụ của các tổ chức đó, cơ quan điều hành cũng như điều kiện của thành viên… Trên cơ sở các văn bản mẫu đó, cá nhân hay

tổ chức đưa ra sáng kiến thành lập

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra tính hợp pháp theo trình tự, thủ tục đã quy định, trên cơ sở đó ra quyết định thành lập Trình tự này được áp dụng để thành lập các hợp tác xã, các công ti cổ phần, công ti trách nhiệm hữu hạn Các doanh nghiệp phải có điều lệ riêng được xây dựng trên cơ sở điều lệ mẫu do Nhà nước ban hành Điều lệ của doanh

Trang 6

nghiệp được cơ quan nhà nước công nhận và doanh nghiệp phải đăng kí kinh doanh tại cơ quan có thẩm quyền của nhà nước

3.1.8 Chấm dứt pháp nhân

Chấm dứt pháp nhân là gì?

Là chấm dứt sự tồn tại của một tổ chức với tư cách là chủ thể độc lập trong các quan hệ pháp luật mà trước đó tổ chức đó tham gia với tư cách pháp nhân

Các căn cứ làm chấm dứt pháp nhân được quy định tại Điều 96 Bộ luật dân sự 2015, tư cách chủ thể của pháp nhân bị chấm dứt từ thời điểm xoá tên trong sổ đăng kí hoặc từ thời điểm được xác định trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Pháp nhân chấm dứt được thực hiện dưới hai hình thức: Giải thể và cải tổ pháp nhân

3.1.8.1 Giải thể pháp nhân

Các căn cứ giải thể pháp nhân được quy định tại Điều 93 Bộ luật dân sự

2015 Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập pháp nhân thì có thẩm quyền quyết định giải thể pháp nhân đó Khi giải thể, pháp nhân phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về tài sản của mình

Pháp nhân giải thể trong trường hợp sau đây:

– Theo quy định của điều lệ;

– Theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

– Hết thời hạn hoạt động được ghi trong điều lệ hoặc trong quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

– Trường hợp khác theo quy định của pháp luật

Nguyên nhân dẫn đến việc giải thể pháp nhân có thể là: Đã thực hiện xong nhiệm vụ; đạt được mục đích khi thành lập pháp nhân đó đặt ra; hoạt động của pháp nhân trái với mục đích khi thành lập gây thiệt hại đến lợi ích của xã hội, vi phạm các điều cấm của pháp luật hoặc sự tồn tại của pháp nhân không cần thiết nữa; khi thời hạn hoạt động ghi trong điều lệ

đã hết…

3.1.8.2 Phá sản pháp nhân

Việc phá sản pháp nhân được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản

Trang 7

Tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về phá sản là một hình thức “giải thể” đặc biệt đối với các pháp nhân là doanh nghiệp, nhằm giải quyết tình trạng làm ăn thua lỗ đến mức không có khả năng thanh toán nợ đến hạn (Luật phá sản doanh nghiệp) của một doanh nghiệp Doanh nghiệp bị phá sản chấm dứt sự tồn tại, như pháp nhân bị giải thể

3.1.9 Tổ chức lại pháp nhân

Tổ chức lại pháp nhân là sự kế quyền tổng hợp giữa pháp nhân mới hình thành và pháp nhân ban đầu Tổ chức lại pháp nhân khác giải thể ở chỗ giải thể chấm dứt sự tồn tại của pháp nhân Các quyền và nghĩa vụ của pháp nhân khi giải thể cũng chấm dứt thông qua việc thanh lí tài sản và không còn chủ thể kế tục quyền và nghĩa vụ của chúng Tổ chức lại pháp nhân cũng chấm dứt sự hoạt động của pháp nhân nhưng quyền và nghĩa

vụ của nó được chuyển cho pháp nhân mới Giải thể kèm theo sự huỷ bỏ toàn bộ cơ cấu, tổ chức của pháp nhân Tổ chức lại chỉ là việc sắp xếp lại

tổ chức của pháp nhân, thực chất là chuyển cơ cấu tổ chức cho pháp nhân mới hoặc giảm cơ cấu tổ chức của pháp nhân

Việc tổ chức lại pháp nhân có thể được thực hiện dưới các hình thức sau:

Hợp nhất pháp nhân

Khoản 1 Điều 88 BLDS 2015 quy định Các pháp nhân cùng loại có thể hợp nhất thành một pháp nhân mới Việc hợp nhất theo quy định của điều

lệ, theo thoả thuận giữa các pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Sau khi hợp nhất, các pháp nhân cũ chấm dứt tồn tại kể từ thời điểm pháp nhân mới được thành lập; quyền và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân cũ được chuyển giao cho pháp nhân mới

Hợp nhất pháp nhân (theo công thức A + B = C): Hai hay nhiều pháp nhân liên kết lại thành pháp nhân hoàn toàn mới, các pháp nhân ban đầu (A, B…) chấm dứt sự tồn tại Quyền và nghĩa vụ của các pháp nhân ban đầu được chuyển giao cho pháp nhân mới (C) Việc hợp nhất pháp nhân phải được tiến hành như việc thành lập pháp nhân

Sáp nhập pháp nhân

Trang 8

Việc sáp nhập pháp nhân được quy định tại ĐIều 89 BLDS 2015 Theo

đó, một pháp nhân có thể được sáp nhập vào một pháp nhân khác cùng loại theo quy định của điều lệ, theo thoả thuận giữa các pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Sau khi sáp nhập, pháp nhân được sáp nhập chấm dứt tồn tại; quyền và nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được sáp nhập được chuyển giao cho pháp nhân sáp nhập

Sáp nhập pháp nhân thực hiện theo công thức A + B = A hoặc A + B = B Pháp nhân được sáp nhập chấm dứt sự tồn tại, quyền và nghĩa vụ của nó được chuyển cho pháp nhân sáp nhập

Chia pháp nhân

Khoản 1 Điều 90 BLDS 2015 quy định một pháp nhân có thể chia thành nhiều pháp nhân theo quy định của điều lệ hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Sau khi chia, pháp nhân bị chia chấm dứt tồn tại; quyền, nghĩa vụ dân sự của pháp nhân bị chia được chuyển giao cho các pháp nhân mới

Chia nhỏ pháp nhân (theo công thức A: 2 = B, C): Trên cơ sở pháp nhân ban đầu, hai hay nhiều pháp nhân được hình thành như những chủ thể độc lập của quan hệ dân sự Quyền và nghĩa vụ của pháp nhân ban đầu được phân chia cho các pháp nhân mới hình thành

Tách pháp nhân

Khoản 1 Điều 91 BLDS 2015: Một pháp nhân có thể tách thành nhiều pháp nhân theo quy định của điều lệ hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Sau khi tách, pháp nhân bị tách và pháp nhân được tách thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của mình phù hợp với mục đích hoạt động

Tách pháp nhân (theo công thức A = A + B): một pháp nhân mới hình thành bằng cách tách một phần của pháp nhân đang tồn tại và nó vẫn tồn tại và hoạt động như khi chưa được tách Pháp nhân A có năng lực chủ thể như cũ Pháp nhân B có năng lực chủ thể hoàn toàn mới không phụ thuộc vào pháp nhân A thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình phù hợp với mục đích hoạt động của các pháp nhân đó

Trang 9

Chuyển đổi hình thức của pháp nhân

Khoản 1 Điều 93 BLDS 2015: Pháp nhân có thể được chuyển đổi hình thức thành pháp nhân khác

Ví dụ: Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể chuyển đổi thành công ty cổ phần và ngược lại; hợp tác xã chuyển đổi thành công ty hợp danh và ngược lại

Sau khi chuyển đổi hình thức, pháp nhân được chuyển đổi chấm dứt tồn tại kể từ thời điểm pháp nhân chuyển đổi được thành lập; pháp nhân chuyển đổi kế thừa quyền, nghĩa vụ dân sự của pháp nhân được chuyển đổi

3.2 Nhà nước, cơ quan nhà nước trong quan hệ pháp luật dân sự

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia vào một số quan

hệ pháp luật dân sự với tư cách là chủ thể đặc biệt Tư cách chủ thể của Nhà nước không đặt ra như tư cách chủ thể của các chủ thể khác Nhiều

cơ quan nhà nước tham gia vào các quan hệ dân sự, kinh tế với tư cách là chủ thể độc lập, bình đẳng nhưng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia với tư cách là chủ thể đặc biệt

Tại sao nhà nước là chủ thể đặc biệt?

Nhà nước là chủ thể đặc biệt trong các quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ dân sự, kinh tế nói riêng bởi các lẽ sau:

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân, vì dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ( Khoản 2 Điều 2 Hiến pháp 2013) Nhà nước nắm quyền lãnh đạo thống nhất, toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước là người đại diện cho toàn dân và là một tổ chức chính trị – quyền lực

– Điều 53 Hiến pháp 2013 quy định Nhà nước là chủ sở hữu đối với tài sản thuộc chế độ sở hữu toàn dân gồm: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên

Trang 10

nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý Đây là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý

+ Điều 200 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Khi tài sản thuộc sở hữu toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp thì Nhà nước thực hiện quyền của chủ

sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.”

– Nhà nước tự quy định cho mình các quyền trong các quan hệ mà Nhà nước tham gia, trình tự, cách thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong các quan hệ đó

– Nhà nước là chủ thể của tất cả các ngành luật trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta

Nhà nước trực tiếp nắm quyền định đoạt tối cao đối với các tài sản mà pháp luật quy định thuộc chế độ sở hữu toàn dân Những tài sản có ý nghĩa quyết định đến nền tảng kinh tế của toàn xã hội, đến an ninh, quốc phòng như: Đất đai, rừng núi, sông hồ, biển cả, các tài nguyên thiên nhiên khác

Nhà nước giao quyền của mình cho các cơ quan nhà nước thực hiện quyền quản lí các tài sản, giao cho các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, chính trị-xã hội các tổ chức khác, cá nhân thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tài sản của Nhà nước; quy định về trình tự, giới hạn thực hiện các quyền đó

Nhà nước uỷ quyền cho các cơ quan nhà nước tham gia vào các quan hệ dân sự, kinh tế như: Ngân hàng, kho bạc, phát hành các kì phiếu, trái phiếu, công trái

Nhà nước là chủ sở hữu các tài sản vô chủ, tài sản không người thừa kế, tài sản bị trưng thu, trưng mua

3.3 Chủ thê hộ gia đình, tổ hợp tác và các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

3.3.1 Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự là hộ gia đình:

Điều 106 BLDS 2015 quy định: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản

Ngày đăng: 05/01/2022, 20:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w