1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐỂ CƯƠNG ôn tập QUẢN lý HÀNH CHÍNH NHÀ nước và GIÁO dục đào tạo

17 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 376,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công chức: Theo quy định tại Khoản 2, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Viên chức: Theo quy định tại Điều 2 Luật Viên chức: “Viên chức là công dân Việt nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.

Trang 1

ĐỂ CƯƠNG ÔN TẬP

MÔN: Quản lí hành chính nhà nước và quản lí ngành Giáo dục và Đào tạo

Câu hỏi:

1 Phân biệt công chức và viên chức

2 Vẽ và giải thích sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý nhà nước về GD&ĐT

3 Vì sao Quốc hội ban hành luật Giáo dục, sửa đổi và bổ sung Luật Giáo dục sau 1 thời gian?

4 Phân biệt Quản lí nhà nước và Quản lí hành chính nhà nước

5 Phân tích những nhiệm vụ nhà giáo ở điều 72 Luật Giáo dục 2005

6 Phân tích các hành vi nhà giáo không được làm ở Luật Giáo dục 2005

Nội dung:

1 Phân biệt công chức và viên chức

- Công chức: Theo quy định tại Khoản 2, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức: “Công chức là

công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,

tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế

và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”

- Viên chức: Theo quy định tại Điều 2 Luật Viên chức: “Viên chức là công dân Việt nam

được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”

Căn cứ những quy định nêu trên và những quy định cụ thể tại Nghị định 29/2012/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức và Nghị định 24/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức và công chức có những điểm khác nhau cơ bản sau:

1 Về Chế độ làm việc

- Công chức: Được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế

- Viên chức: Không phân thành ngạch mà phân thành hạng viên chức (phân thành 04 hạng khác nhau) và làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc Viên chức được đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng

Trang 2

làm việc với viên chức theo các trường hợp được quy định trong Luật Viên chức.

2 Về tuyển dụng

- Công chức: Việc tuyển dụng phải căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu

biên chế Về điều kiện tham gia dự tuyển thì bắt buộc phải từ đủ 18 tuổi trở lên

- Viên chức: Việc tuyển dụng phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu

chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập Đối với viên chức thì đối với một số lĩnh vực hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao tuổi

dự tuyển có thể thấp hơn theo quy định của pháp luật, đồng thời phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật

3 Về cơ quan, đơn vị nơi công chức, viên chức làm việc

- Công chức: Làm việc trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức

chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân và trong bộ máy lãnh đạo, quản

lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội

- Viên chức: Làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập.

4 Nguồn chi trả lương cho công chức và viên chức

- Công chức: Hưởng lương từ ngân sách Nhà nước hoặc từ quỹ lương của đơn vị sự

nghiệp công lập (đối với những người trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập)

- Viên chức: Làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập

5 Các hình thức kỷ luật

- Công chức: Vi phạm kỷ luật, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật sau: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức; cách chức

và buộc thôi việc

- Viên chức: Hình thức kỷ luật bao gồm: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức và buộc thôi việc (không có hình thức hạ bậc lương, giáng chức)

6 Bảo hiểm xã hội:

-Công chức: Không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp

- Viên chức: Phải đóng bảo hiểm thất nghiệp

7 Ví dụ về từng đối tượng:

- Công chức: - Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp huyện

- Chánh án, Phó Chánh án TAND cấp tỉnh, huyện

- Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, huyện

- Thẩm phán

Trang 3

- Thư ký tòa án

- Kiểm sát viên

-Viên chức: - Bác sĩ

- Giáo viên

- Giảng viên Đại học

2

Vẽ và giải thích sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý nhà nước về GD&ĐT

Hệ thống tổ chức bộ máy của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo được tổ chức theo Luật Giáo dục có thiết chế như sau:

-Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập cuả công dân trong phạm vi cả nước, những chủ trương về cải cách nội dung chương trình của cả một bậc học, cấp học; hàng năm báo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục và đào tạo

-Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước

về giáo dục Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục theo quy định của Chính phủ Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với

Trang 4

Bộ Giáo dục và Đào tạo để thực hiện việc thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo

Ủy ban Nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục ở địa phương theo quy định của Chính phủ

-Cấp tỉnh có Sở giáo dục và đào tạo Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp Đối với trường Cao đẳng, một số Sở Giáo dục và Đào tạo được ủy nhiệm quản lý một vài mặt của quá trình đào tạo hoặc quản lý cả năm mặt: Chuyên môn, nhân sự, bộ máy, tài chính, cơ sở vật chất sư phạm

-Cấp huyện, quận có Phòng giáo dục Trưởng phòng giáo dục chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân huyện thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục trong phạm vi huyện, quận, thị xã Phòng giáo dục cấp huyện quản lý các trường mầm non, trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trung tâm giáo dục thường xuyên

3 Vì sao Quốc hội ban hành luật Giáo dục, sửa đổi và bổ sung Luật Giáo dục sau 1 thời gian?

Giáo dục là một lĩnh vực liên quan tới mọi người, mọi gia đình, mọi tổ chức trong xã hội Muốn có nền giáo dục phát triển lành mạnh, hiện đại chất lượng tốt, đáp ứng thời kỳ xây dựng đất nước CNH, HĐH, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ tổ quốc, giáo dục cần được quản lý bằng phương tiện hữu hiệu nhất là pháp luật

Trước năm 1998, chúng ta có một hệ thống văn bản pháp lý dưới dạng nghị định, thông

tư, quyết định.của các cấp chính quyền & cũng có văn bản luật thuộc hệ thống giáo dục, nhưng còn bộc lộ nhiều nhược điểm như:

- Trong thời điểm chuyển giao sang thế kỷ mới, trước xu thế toàn cầu hoá, sự chi phối của nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế thị trường, sự phát triển vũ bão của KHCN, trước một nền giáo dục tiên tiến trên TG,

Trước định hướng :

Đi tắt, đón đầu trong mọi lĩnh vực nhằm hướng tới mục tiêu từ nay đến 2010 xây dựng đất nước phát triển theo hướng CNH, HĐH giáo dục cần thiết phải có sự điều chỉnh các đối tượng cùng tham gia trong hoạt động giáo dục

Từ những lý do đó cần phải ban hành Luật giáo dục

Luật GD ra đời khẳng định vị thế của GDVN trên thế giới (sau gần 50 năm phát triển), phù hợp với xu thế phát triển chung của giáo dục thế giới và khẳng định sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật nước ta, khẳng định nước Việt Nam luôn phấn đấu xây dựng một

xã hội pháp quyền, một xã hội học tập

Luật giáo dục ra đời đáp ứng nhu cầu xã hội hoá giáo dục ngày càng cao, khẳng đinh giáo dục không chỉ là sự nghiệp riêng của nhà nước mà là sự nghiệp của toàn xã hội, của toàn

Trang 5

Luật giáo dục là công cụ quản lý giáo dục hữu hiệu nhất

Luật giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 02/12/1998 đã tạo cơ sở pháp lý để sự nghiệp giáo dục tiếp tục phát triển, hệ thống giáo dục quốc dân được đổi mới và từng bước kiện toàn, trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao Tuy nhiên, trong quá trình phát triển giáo dục, để giải quyết các vấn đề bức xúc do thực tiễn đặt ra, cần có thêm một số quy định mới, đồng thời cần sửa đổi, bổ sung một số quy định đã có nhằm tăng cường cơ sở pháp lý, tạo điều kiện cho sự nghiệp giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và phục vụ có hiệu quả công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội của đất nước

Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục phải xuất phát từ những đòi hỏi khách quan và tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề thực sự bức xúc, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động giáo dục và trong công tác quản

lý giáo dục Trong đó, ưu tiên tập trung vào bốn nhóm vấn đề: thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục; đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục

và xây dựng xã hội học tập, hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân; tăng cường quản

lý nhà nước, thực hiện phân cấp mạnh mẽ cho địa phương; nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục

a) Xuất phát từ tình hình giáo dục

Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1998 là cơ sở pháp lý quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân Qua hơn

5 năm thực hiện, Luật Giáo dục đã góp phần quan trọng vào việc phát triển sự nghiệp giáo dục Hệ thống giáo dục được đổi mới và từng bước kiện toàn; quy mô học sinh, sinh viên tăng cao, mạng lưới trường lớp được mở rộng; trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên; việc thực hiện công bằng trong giáo dục có bước phát triển mới; các điều kiện bảo đảm phát triển giáo dục được bổ sung đáp ứng ngày càng tốt hơn các hoạt động của toàn ngành

Tuy nhiên, trước sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động giáo dục, nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân cũng như đòi hỏi mới của nền kinh tế đã xuất hiện những bất cập làm xã hội hết sức quan tâm Cơ cấu của hệ thống giáo dục chưa cân đối, chất lượng

và hiệu quả giáo dục còn thấp, quản lý nhà nước về giáo dục chưa đổi mới mạnh mẽ, các điều kiện giành cho giáo dục còn khó khăn Thực tế những năm qua cho thấy, quan điểm

“phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu” chưa được nhận thức đầy đủ trong xã hội, chưa thực sự chi phối sự chỉ đạo tổ chức thực tiễn của nhiều cán bộ quản lý và cấp quản

lý, kể cả về đầu tư cho giáo dục và tạo cơ chế cho tổ chức và hoạt động giáo dục Trong

Trang 6

quản lý về giáo dục chưa tạo ra được sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp, các lực lượng xã hội để phát triển sự nghiệp giáo dục Sự phối hợp giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội chưa đúng mức Nhu cầu về tạo cơ chế phối hợp đồng bộ trong hoạt động giáo dục và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục đặt ra những yêu cầu bức xúc sửa đổi Luật Giáo dục năm 1998 Sửa đổi Luật Giáo dục năm 1998 để xác định

rõ hơn hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động giáo dục và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan nhà nước trong quản lý giáo dục, giữa các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục

b) Quan điểm đổi mới giáo dục của Đảng, các quy định mới của Hiến pháp năm

1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xác định những quan điểm và phương hướng

cơ bản để tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá", thực hiện công bằng trong giáo dục Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khoá IX đã có những kết luận quan trọng về giáo dục, trong đó xác định những nhiệm vụ mà toàn Đảng, toàn dân, nòng cốt là đội ngũ giáo viên và cán

bộ quản lý giáo dục cần tập trung thực hiện Nghị quyết Hội nghị trung ương chín (Khoá IX) nêu rõ: "Tiếp tục triển khai mạnh trong thực tiễn quan điểm phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu Nâng cao rõ rệt chất lượng giáo dục và đào tạo Giải pháp then chốt là đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam cùng với đổi mới cơ chế quản

lý giáo dục Kiên quyết giảm hợp lý nội dung chương trình học cho phù hợp với tâm sinh

lý của học sinh cấp tiểu học và trung học cơ sở Khẩn trương triển khai đề án phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; cơ cấu lại hệ thống đào tạo, hoàn thiện hệ thống đào tạo thực hành định hướng nghề nghiệp, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, tạo cơ chế và điều kiện để các trường đại học và các trường dạy nghề chuyển mạnh sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm Đổi mới cơ chế, chính sách tạo kinh phí cho giáo dục và đào tạo; xác định công khai và phù hợp phần đóng góp của người học, kiên quyết đấu tranh khắc phục các tiêu cực trong dạy và học, đồng thời có chính sách đảm bảo cho con các gia đình nghèo cũng có điều kiện được học tập Tăng cường hợp tác với nước ngoài vào lĩnh vực đào tạo đại học, sau đại học và đào tạo nghề; khuyến khích, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên ra nước ngoài học tập đi đôi

Trang 7

với tăng cường quản lý công tác lưu học sinh Xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá chất lư-ợng đào tạo, đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, xây dựng xã hội học tập"

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) tiếp tục quy định, làm rõ hơn các vấn đề về giáo dục tại Điều 35, Điều 36, Điều 59 và một số quy định ở các điều khác

Các quan điểm và chủ trương của Đảng, các quy định mới trong Hiến pháp về phát triển sự nghiệp giáo dục trong thời kỳ mới cần thiết được thể chế hoá trong Luật Giáo dục (sửa đổi)

c) Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, cuộc cách mạng khoa học công nghệ có những bước phát triển nhảy vọt trong thế kỷ XXI, vấn đề đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu Sau khi có Luật Giáo dục năm 1998, Chính phủ

đã ban hành một số nghị định quy định về việc hợp tác quốc tế về giáo dục đã tạo điều kiện cho việc mở rộng các hoạt động hợp tác giáo dục, đào tạo ở trong nước và ngoài n-ước Sửa đổi Luật Giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước trong thời kỳ hội nhập và phát triển những thập niên đầu của thế kỷ XXI

Từ những căn cứ trên đây, việc sửa đổi Luật Giáo dục là rất cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn xã hội đặt ra, tạo cơ sở pháp lý khắc phục những khó khăn, yếu kém và đáp ứng những nhu cầu mới phát sinh trong lĩnh vực giáo dục

Tháng 5/2003 ban soạn thảo Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đã được thành lập và đi vào hoạt động Ban soạn thảo đã lần lượt chỉnh lý 22 bản dự thảo để trình Quốc hội và ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật giáo dục và Luật đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 11/2005/L – CTN ngày 27 tháng 6 năm 2005

Có thể khái quát những nội dung mới được bổ sung ở năm nhóm vấn đề sau:

Một là, hoàn thiện một bước về hệ thống giáo dục quốc dân, khẳng định vị trí của

giáo dục thường xuyên, phát triển giáo dục nghề nghiệp theo ba cấp đào tạo, tăng khả năng liên thông, phân luồng giữa các bộ phận của hệ thống;

Hai là, chú trọng các quy định nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục,

xác định rõ yêu cầu về chương trình giáo dục, về điều kiện thành lập nhà trường, xác định những tiêu chí cơ bản để một trường đại học hoặc viện nghiên cứu được phép đào tạo trình độ tiến sỹ, định hướng về công tác kiểm định chất lượng giáo dục, tạo điều kiện

Trang 8

chuyển đổi từ đào tạo theo năm học sang đào tạo theo tích luỹ tín chỉ, tăng tính cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục;

Ba là, nâng cao tính công bằng xã hội trong giáo dục và tăng thêm cơ hội học tập

cho nhân dân đặc biệt là cơ hội học tập của con em đồng bào dân tộc thiểu số, các đối t-ượng được hưởng chính sách xã hội, con em gia đình nghèo;

Bốn là, tăng cường quản lý nhà nước về giáo dục, xác định những quy phạm nhằm

ngăn ngừa, hạn chế các hành vi tiêu cực, xác định rõ trách nhiệm của Hội đồng nhân dân,

Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà trường, đặc biệt là các trường dạy nghề, các trường trung cấp, cao đẳng và đại học;

Năm là, khuyến khích đầu tư mở trường ngoài công lập đồng thời tạo cơ sở pháp

lý để nâng cao chất lượng hoạt động của các trường dân lập, tư thục

Ví dụ: Trong Luật Giáo dục năm 2005 đã bổ sung một mục mới gồm 4 điều (từ

Điều 65 đến Điều 68) quy định về chính sách đối với trường dân lập, trường tư thục Theo đó, trường dân lập, trường tư thục được tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quy hoạch,

kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động giáo dục, về đội ngũ, về huy động,

sử dụng và quản lý các nguồn lực; trường dân lập, trường tư thục thực hiện nhiệm vụ về chuyên môn như các trường công lập; văn bằng, chứng chỉ do trường dân lập, trường tư thục cấp có giá trị pháp lý như trường công lập Luật cũng quy định về chế độ tài chính,

về quyền sở hữu tài sản, rút vốn và chuyển nhượng vốn cũng như các chính sách ưu đãi khác đối với trường dân lập, trường tư thục Những quy định này thể hiện rõ nét chủ trương xã hội hoá của Đảng và Nhà nước ta, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn, tạo cơ chế cho việc phát triển mạnh mẽ các cơ sở giáo dục ngoài công lập.

4 Phân biệt Quản lí nhà nước và Quản lí hành chính nhà nước

Xuất phát từ khaí niệm quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối ngoại của nhà nước , ta thấy giữa 2 hoạt động quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nói riêng ( tức là quan lý nhà nước chỉ trong lĩnh vực hành pháp đó là hoạt động chỉ đạo thực hiện pháp luật gọi là quản lý hành chính nhà nước) Có những điểm riêng sau:

Trang 9

Tóm lại: Hoạt động quản lý hành chính nhà nước (tức là hoạt động hành pháp bằng chỉ đạo tổ chức thực hiện pháp luật trên cơ

động rộng lớn thường xuyên quan trọng trong quản lý nhà nước nhưng nằm trong khuôn khổ của nhà nước

 Quản lý là một hoạt động phức tạp và có nhiều chức năng Quản lý ở góc độ quản

lý học là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm hướng hành vi của đối tượng đạt tới mục tiêu đã định trước QLNN: là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực NN và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt củ đời sống XH do các cơ quan trong bộ máy NN thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của

XH

Quản lý xã hội gồm các thực thể có tổ chức, có lý trí kết thành hệ thống chặt chẽ Đây

là dạng quản lý phức tạp nhất nhưng cũng là hoàn thiện nhất vì đối tượng quản lý là con người có lý trí và mối quan hệ nảy sinh liên tục Xã hội càng phát triển thì mối quan hệ giữa họ càng phong phú, đa dạng, phức tạp cả bề rộng lẫn chiều sâu, cả hữu hình lẫn vô hình

Quản lí nhà nước Quản lí hành chính nhà nước

* Khái niệm : rộng hơn

Quản lý nhà nước = chỉ đạo

hoạt động

+ lập pháp

+ Hành pháp

+ Tư pháp

Để thực hiện chức năng đối nội

và đối ngoại của nhà nước

* Chủ thể:

- Nhà nước và các cơ quan nhà

nước

- các tổ chức xã hội và cá nhân

được trao quyền lực nhà nước,

nhân danh nhà nước

* Khách thể :

Trật tự quản lý nhà nước mới

được xác định bởi quy phạm

pháp luật

* Khái niệm : Hẹp hơn Quản lý hành chính nhà nước= hoạt động chỉ đạo pháp luật ( hành pháp) Bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh nghị quyết, của cơ quan quyền lực nhà nước (cơ quan dân chủ)

* chủ thể:

- cơ quan hành chính nhà nước

- cán bộ nhà nước có thẩm quyền

*Khách thể : Đảm bảo hoạt động chấp hành, điều hành trên cơ sở pháp luật để chỉ đạo thực hiện pháp luật

Trang 10

Quản lý Nhà nước là dạng quản lý xã hội nên nó có đặc trưng của quản lý xã hội Quản lý Nhà nước cũng như quản lý xã hội bao giờ cũng bao hàm chủ thể và đối tượng Chủ thể quản lý đều là các thực tế có tổ chức có lý trí và đối tượng quản lý là con người với đủ bản chất xã hội của mình

Quản lý Nhà nước bao giờ cũng có quyền lực (là đặc quyền của chủ thể do tổ chức trao cho, là phương tiện để chủ thể quản lý Nhà nước hay xã hội tác động lên đối tượng quản lý) Quản lý Nhà nước mang tính tổ chức giống như các hoạt động quản lý xã hội khác (là nền tảng của hoạt động quản lý)

Quản lý Nhà nước bao giờ cũng phải có thông tin Thông tin trong quá trình Nhà nước nói riêng trong quản lý xã hội nói chung là cơ sở căn bản của quản lý các tác nghiệp quản

lý Quản lý Nhà nước phải có mục tiêu nhất định không nằm ngoài các yếu tố cấu thành quá trình quản lý xã hội

Quản lý Nhà nước mang những đặc điểm chung với của quản lý xã hội nhưng quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt Tính chất đặc biệt ấy thể hiện như sau: Trước hết, Chủ thể quản lý NN là các CBCC và các cơ quan trong bộ máy Nhà nước,

cơ quan NN: Lập pháp (Quốc hội và cơ cấu t/c của Quốc hội), Hành pháp (Hệ thống các CQ.HCNN – HĐND các cấp), Tư pháp (TAND và cơ cấu t/c của TAND, VKSND và cơ cấu tổ chức của VKS) Còn quản lý xã hội chủ thể của nó là các thực thể có lý trí và có tổ chức đảng, đoàn thể, các tổ chức khác v.v Chủ thể của quản lý XH có nhiều chủ thể tham gia quản lý khác nhau (giám đốc doanh nghiệp, tổ chức chính trị…)

Thứ hai, Đối tượng quản lý của quản lý Nhà nước bao gồm toàn bộ nhân dân, mọi cá nhân sống và làm việc trên lãnh thổ quốc gia và công dân làm việc bên ngoài lãnh thổ quốc gia, phạm vi của nó mang tính toàn diện trên mọi lĩnh vực Còn đối tượng quản lý của quản lý xã hội nó bao gồm các cá nhân, các nhóm trong phạm vi một tổ chức

Thứ ba, Quản lý Nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước và sử dụng pháp luật làm công

cụ chủ yếu để duy trì trật tự xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển Quản lý xã hội mang tính quyền lực xã hội sử dụng các quy phạm quy chế nội bộ để điều chỉnh các quan hệ Thứ tư, QLNN là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị,

kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao;

Thứ năm, mục tiêu của quản lý NN là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển

của toàn XH

Từ những đặc điểm trên, có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực NN và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống XH do các CQ trong bộ máy HCNN thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của XH

 Hành chính nhà nước là hoạt động quản lý của chính phủ nhằm giải quyết những công việc công cộng, cung cấp dịch vụ công cộng Hành chính nhà nước là hoạt động quản lý của các tổ chức quản lý công cộng, chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước HCNN là sự tổng hòa các hoạt động quản lý của chính phủ, là quản lý và giám sát của các

cơ quan quản lý công cộng mà chủ yếu là chính phủ đối với công việc công cộng Hành

Ngày đăng: 05/01/2022, 19:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Giáo viên là hình mẫu để học sinh noi gương theo, vì thế trong lúc đứng lớp hay đang tham gia các hoạt động giáo dục thì không được phép hút thuốc, uống rượu bia chất kích thích là những điều cấm giáo viên không được làm. - ĐỂ CƯƠNG ôn tập QUẢN lý HÀNH CHÍNH NHÀ nước và GIÁO dục đào tạo
i áo viên là hình mẫu để học sinh noi gương theo, vì thế trong lúc đứng lớp hay đang tham gia các hoạt động giáo dục thì không được phép hút thuốc, uống rượu bia chất kích thích là những điều cấm giáo viên không được làm (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w