1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tiểu luận những vấn đề pháp lý mới của hợp đồng lao động

19 32 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 32,01 KB
File đính kèm Bai Tieu luan cuoi ky - Van de phap ly moi cua LKT.rar (29 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ luật Lao động năm 2019 (BLLĐ năm 2019) được đánh giá là Bộ luật sửa đổi toàn diện nhất, có ý nghĩa quan trọng dưới góc độ quyền con người, đã khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn thị trường lao động ở Viện Nam hiện nay. Đồng thời, quy định phù hợp, tiệm cận hơn với các tiêu chuẩn lao động quốc tế, đảm bảo hài hòa lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và lợi ích quốc gia. Một trong những điểm mới nổi bật của BLLĐ năm 2019 đó là về chế định hợp đồng lao động. Theo đó, các quy định về hợp đồng lao động đã sửa đổi, bổ sung theo hướng đảm bảo hơn sự tự do giao kết hợp đồng lao động, tôn trọng các nguyên tắc của hợp đồng trong kinh thế thị trường, phòng tránh lao động cưỡng bức và tạo hành lang thuận lợi hơn trong thực hiện hợp đồng. Để làm rõ sự phù hợp của quy định về hợp đồng lao động tại BLLĐ năm 2019, em xin phân tích đề tài sau: “Bình luận (và phân tích) những điểm mới của BLLĐ năm 2019 về hợp đồng lao động”.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

1 Khái quát những quy định mới của Bộ luật Lao động năm 2019 1

1.1 Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung các quy định về lao động 1

1.2 Những quy định mới nổi bật của Bộ luật Lao động năm 2019 3

2 Phân tích những điểm mới của Bộ luật Lao động năm 2019 về Hợp

2.1 Những quy định mới về Hình thức hợp đồng lao động 4

2.3 Những quy định mới về Thực hiện và Chấm dứt hợp đồng lao động 9

2.4 Những quy định mới về trường hợp hợp đồng vô hiệu 13

MỞ BÀI

Bộ luật Lao động năm 2019 (BLLĐ năm 2019) được đánh giá là Bộ luật sửa

đổi toàn diện nhất, có ý nghĩa quan trọng dưới góc độ quyền con người, đã

khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn thị trường lao động ở

Viện Nam hiện nay Đồng thời, quy định phù hợp, tiệm cận hơn với các tiêu

chuẩn lao động quốc tế, đảm bảo hài hòa lợi ích của người lao động, người sử

dụng lao động và lợi ích quốc gia Một trong những điểm mới nổi bật của

Trang 2

BLLĐ năm 2019 đó là về chế định hợp đồng lao động Theo đó, các quy định

về hợp đồng lao động đã sửa đổi, bổ sung theo hướng đảm bảo hơn sự tự do giao kết hợp đồng lao động, tôn trọng các nguyên tắc của hợp đồng trong kinh thế thị trường, phòng tránh lao động cưỡng bức và tạo hành lang thuận lợi hơn trong thực hiện hợp đồng Để làm rõ sự phù hợp của quy định về hợp đồng lao

động tại BLLĐ năm 2019, em xin phân tích đề tài sau: “Bình luận (hoặc phân tích) những điểm mới của BLLĐ năm 2019 về hợp đồng lao động”.

NỘI DUNG

1 Khái quát những quy định mới của Bộ luật lao động năm 2019

1.1 Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung các quy định về lao động

Trang 3

Để đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế,

Bộ luật Lao động cần phải sửa đổi, bổ sung vì những lý do sau:

- Thứ nhất, trong thực tiễn thi hành Bộ luật Lao động năm 2012 (BLLĐ năm 2012) đã xuất hiện nhiều vướng mắc, bất cập cần bổ sung, sửa đổi

Qua tổng kết 6 năm thi hành, nhiều doanh nghiệp, tổ chức đại diện người sử dụng lao động và người lao động, tổ chức công đoàn đã phản ánh nhiều vướng mắc, bất cập khi áp dụng các điều luật của Bộ luật Lao động năm 2012 về một

số nội dung như hợp đồng lao động, tiền lương, thời giờ làm việc, kỷ luật lao động, lao động nữ, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, đối thoại tại nơi làm việc, công đoàn, thương lượng tập thể, giải quyết tranh chấp lao động và đình công…

Bên cạnh đó, Bộ luật Lao động vẫn còn một số điều chưa đáp ứng sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của thị trường lao động, yêu cầu nâng cao năng suất lao động, yêu cầu cải tiến quản trị nhân lực doanh nghiệp trong bối cảnh tác động của cách mạng công nghệ Do vậy, Bộ luật Lao động cần được sửa đổi,

bổ sung để đảm bảo thực thi hiệu quả trong thực tế áp dụng và tạo môi trường pháp lý linh hoạt hơn cho năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

- Thứ hai, yêu cầu từ việc thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật

Thời gian soạn thảo Bộ luật Lao động năm 2012 cũng là thời gian mà Hiến pháp năm 2013 được soạn thảo Quá trình soạn thảo dự thảo từ năm 2008 đến tháng 5/2012, dù đã cụ thể hóa cơ bản tinh thần của dự thảo Hiến pháp 2013, nhưng vẫn chưa thể chế hóa đầy đủ các nội dung của Hiến pháp liên quan đến quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành

Trang 4

Những năm gần đây, Quốc hội đã ban hành nhiều luật mới làm thay đổi hoặc phát sinh những vấn đề mới liên quan tới nội dung, kết cấu của Bộ luật Lao động như: Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các

tổ chức tín dụng 2017 và các Luật chuyên ngành tách ra từ nội dung của Bộ luật Lao động như Luật Việc làm năm 2013, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm

2014, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật An toàn - vệ sinh lao động năm 2015

Do đó, Bộ luật Lao động cần được tiếp tục sửa đổi để bổ sung các chế định mới nhằm thể chế hoá Hiến pháp năm 2013 về quyền con người trong trong lĩnh vực lao động, quan hệ lao động và thị trường lao động và đảm bảo tính thống nhất, sự phù hợp của hệ thống pháp luật

- Thứ ba, yêu cầu từ hội nhập kinh tế quốc tế

Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và đang chuẩn bị ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) Cam kết về lao động trong các Hiệp định này yêu cầu các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tuân thủ thực hiện các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động của người lao động theo Tuyên bố năm 1998 của

Tổ chức lao động quốc tế (ILO) Những cam kết trong các hiệp định thương mại tự do nêu trên cũng là những cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ Liên hợp quốc và là nghĩa vụ quốc gia thành viên của ILO

Nghiên cứu rà soát Bộ luật Lao động năm 2012, còn một số quy định chưa thực sự tương thích, vì vậy Bộ luật Lao động cần được sửa đổi, bổ sung để bảo đảm sự tương thích với tiêu chuẩn lao động quốc tế

Trang 5

Từ đó cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động nhằm đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ tương thích với hệ thống pháp luật hiện hành và sự hội nhập theo tiêu chuẩn lao động quốc tế

1.2 Những quy định mới nổi bật của Bộ luật Lao động năm 2019

Mục đích Bộ luật Lao động năm 2019 được sửa đổi cơ bản, toàn diện nhằm:

- Góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy thị trường lao động phát triển; giải quyết căn bản các vướng mắc, bất cập từ thực tiễn thi hành sau 5 năm áp dụng trên thực tế và tạo khung pháp lý thông thoáng, linh hoạt hơn về tuyển dụng, sử dụng lao động góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh

- Bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của người lao động và người sử dụng lao động; đảm bảo hài hòa lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động phù hợp với trình độ phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam hiện nay

để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ

- Đáp ứng các yêu cầu thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 về các quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân trong lĩnh vực lao động và bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật

- Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Từ sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung các quy định về lao động, BLLĐ năm

2019 có những nội dung mới nổi bật sau:

+ Mở rộng phạm vi và đối tượng điều chỉnh

+ Bổ sung thêm khái niệm phân biệt đối xử trong lao động và quấy rối tình dục tại nơi làm việc

+ Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động, thực hiện và chấm dứt Hợp đồng lao động

Trang 6

+ Các trường hợp hợp đồng vô hiệu, thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động

vô hiệu

+ Giới hạn thời gian học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động

+Về đối thoại tại nơi làm việc

+ Về tiền lương

+ Về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

+ Về kỷ luật lao động

+ Lược bỏ các quy định liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động

+ Quy định riêng đối với lao động nữ

+ Tăng tuổi nghỉ hưu

+ Về tổ chức đại diện người lao động

+ Về giải quyết tranh chấp lao động

2 Phân tích những điểm mới của Bộ luật Lao động năm 2019 về Hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm quyền lợi cho người lao động, giải quyết tranh chấp lao động và là một công cụ pháp lý hữu hiệu để Nhà nước quản lý, điều chỉnh quan hệ lao động Do đó, BLLĐ năm

2019 đã có những điểm mới sau:

2.1 Những quy định mới về Hình thức hợp đồng lao động

a Tăng tính nhận diện các quan hệ lao động

Khoản 1 Điều 13 BLLĐ năm 2019 đã có sự mở rộng phạm vi điều chỉnh cả những quan hệ có sự mong mạnh ranh giới giữa hoạt động lao động chịu sự điều chỉnh của luật dân sự, thương mại hay lao động Loại trừ những trường

Trang 7

hợp sử dụng các quan hệ dân sự, thương mại cho những giao dịch được ký kết với bản chất là hợp đồng lao động Vấn đề nhận diện quan hệ lao động do luật lao động điều chỉnh sẽ dựa vào bản chất của quan hệ chứ không chỉ dựa vào tên gọi của các văn bản mà các bên đã thỏa thuận ký kết

Mọi hợp đồng bất kể tên gọi là gì, đều được coi là HĐLĐ nếu có đủ 3 dấu hiệu: (1) làm việc trên cơ sở thỏa thuận; (2) có trả lương; (3) Có sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên

Quy định mới này thể hiện sự thích ứng với tình hình kinh tế xã hội hiện nay, hạn chế tình trạng các doanh nghiệp ký kết hợp đồng dưới các tên khác nhau nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội hay né tránh về tiền lương

b Ghi nhận phương thức mới giao kết hợp đồng lao động

Ghi nhận phương thức mới giao kết HĐLĐ, HĐLĐ được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có trị như HĐLĐ bằng văn bản Quy định này phù hợp với Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể ký kết HĐLĐ linh hoạt hơn trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0 Dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp thứ 4, quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và dịch chuyển lao động toàn cầu thì hình thức HĐLĐ bằng “văn bản” không chỉ hiểu ở dạng “giấy tờ” mà còn tồn tại dưới các hình thức thư điện tử email, các giao dịch điện tử và đi kèm với nó có thể là chữ ký số

Việc bổ sung hình thức hợp đồng lao động được giao kết bằng phương thức điện tự được xem là điểm mới cơ bản nhằm phù hợp với văn bản pháp luật về giao dịch điện tử cũng như đáp ứng thực tiễn, giải quyết và bảo vệ hài hòa tốt hơn quyền lợi của NLĐ và NSDLĐ trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0

Trang 8

c Loại hợp đồng lao động

Điều 20 BLLĐ năm 2019 quy định Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời

gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.

Căn cứ theo quy định này, BLLĐ năm 2019 đã bỏ nội dung về hợp đồng mùa

vụ hoặc theo một công việc có thời hạn dưới 12 tháng, thay vào đó chỉ còn 02 loại hợp đồng là hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng lao động xác định thời hạn

Quy định này được đánh giá là tiến bộ lớn của pháp luật lao động nhằm bảo vệ người lao động, hạn chế tình trạng không đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động bằng cách ký các loại hợp đồng mùa vụ, dịch vụ và đảm bảo tính thống nhất với quy định về phạm vi đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là người lao động ký HĐLĐ có thời hạn từ 01 tháng trở lên phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quuy định tại Luật Bảo hiểm xã hội 2014

2.2 Những quy định mới về Giao kết hợp đồng

a Quy định cụ thể thẩm quyền giao kết hợp đồng bên phía NSDLĐ

BLLĐ 2012 không quy định cụ thể thẩm quyền giao kết HĐLĐ bên phía

NSDLĐ Vấn đề này được quy định bởi Nghị định 148/2018/NĐ-CP sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số nội dung của BLLĐ 2012 Để đảm bảo tính minh bạch, thống nhất

về thẩm quyền giao kết HĐLĐ, BLLĐ 2019 đã bổ sung quy định về thẩm

Trang 9

quyền giao kết HĐLĐ bên phía NSDLĐ tại Khoản 3 Điều 18 là người thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;

b) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;

c) Người đại diện của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;

d) Cá nhân trực tiếp sử dụng lao động.

Quy định này phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và có nội dung tương tự như quy định của Nghị định 148/2018/NĐ-CP nhưng được sắp xếp lại logic hơn

b Quy định mới về nội dung thử việc được ghi trong Hợp đồng lao động

BLLĐ 2019 cho phép các bên thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong HĐLĐ hoặc giao kết hợp đồng thử việc Đây là quy định mới nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của nhiều NSDLĐ và NLĐ muốn trực tiếp lý HĐLĐ, trong đó thời gian thử việc được xem như một nội dung của HDLĐ Trong trường hợp thử việc đạt thì các bên tiếp tục thực hiện HĐLĐ, nếu không đạt thừ HĐLĐ chấm dứt Quy định này cũng loại bỏ tình trạng hết thời gian thử việc và kết quả thử việc đạt yêu cầu nhưng NSDLĐ chậm ký HĐLĐ, kéo dài thời gian để NLĐ tiếp tục làm việc theo hình thức học việc Các quy định về thử việc tại các BLLĐ trước đây thì việc thỏa tuận thử việc các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc Nhưng theo BLLĐ 2019, trong thời gian thử việc, mỗi bên vẫn có quyền hủy

bỏ HĐLĐ mà không cần báp trước và không phải bồi thường Quy định này thể hiện sự linh hoạt và trao cho các bên trong quan hệ lao động quyền lựa

Trang 10

chọn ký HĐLĐ có nội dung thửu việc hoặc ký hợp đồng thử việc mà không làm ảnh hướng đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong thời gian thử việc Và quy định việc không áp dụng thử việc đối với NLĐ giao kết HĐLĐ có thời hạn dưới 01 tháng

c Quy định về việc ký kết Phụ lục Hợp đồng lao động

BLLĐ năm 2019 quy định Phụ lục HĐLĐ quy định chi tiết sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của HĐLĐ nhưng không được sửa đổi thời hạn của HĐLĐ Đây là một quy định mới, giới hạn không cho phép Phụ lục HĐLĐ thay đổi thời hạn của HĐLĐ Quy định này có thể có tác dụng loại trừ trường hợp NSĐLĐ tách yêu cầu ký HĐLĐ không xác định thời hạn bằng cách ký HĐLĐ

có thời hạn không quá 36 tháng sau đó ký Phụ lục điều chỉnh kéo dài thời hạn HĐLĐ

BLLĐ năm 2019 bổ sung quy một số quy định liên quan đến trường hợp

HĐLĐ hết hạn mà các bên tiếp tục làm việc Nội dung mới này được quy định tại Điểm a khoản 2 Điều 20 BLLĐ năm 2019 khi HĐLĐ đã hết hạn nhưng trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày HĐLĐ hết hạn mà các bên chưa ký HĐLĐ mới Trong trường hợp này, quyền và lợi ích của hai bên được thực hiện theo hợp đồng đã giao kết Đây là một điểm mới tiến bộ của BLLĐ năm 2019 so với BLLĐ năm 2012 BLLĐ năm 2012 không quy định trường hợp này và chỉ quy định nếu các bên không ký kết HĐLĐ mới trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày HĐLĐ hết hạn thì HĐLĐ giao kết sẽ từ HĐLĐ xác định thời hạn thành HĐLĐ không xác định thời hạn hoặc từ HĐLĐ mùa vụ trở thành HĐLĐ xác định thời hạn với thời hạn 24 tháng

Ngoài ra, BLLĐ năm 2019 còn bổ sung 3 trường hợp các bên có thể ký liên tiếp nhiều hơn hai HĐLĐ có thời hạn mà không phải chuyển sang loại HĐLĐ không xác định thời hạn, cụ thể:

Trang 11

+ Người được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước

+ Người lao động là người cao tuổi

+ Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Đây là điểm mới tiến bộ, các trường hợp được phép ký HĐLĐ xác định thời hạn nhiều lần là phù hợp

d Người sử dụng lao động không được ký hợp đồng lao động để trừ nợ

Nếu như Điều 20 BLLĐ năm 2012 quy định những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động gồm: Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động và yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động thì Điều 17 Bộ luật Lao động năm 2019

bổ sung thêm quy định về hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động là “Buộc người lao động thực hiện hợp đồng lao động để trả nợ cho người sử dụng lao động” Hợp đồng lao động để trả nợ cho người sử dụng lao động là hợp đồng ký kết để ghi nhận việc người lao động làm việc trả tiền đang vay hay để bù nợ cho người sử dụng lao động,

cụ thể hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019

2.3 Những quy định mới về Thực hiện và Chấm dứt hợp đồng lao động

a Điều chuyển NLĐ làm công việc khác so với HĐLĐ

Điều 29 BLLĐ năm 2019 quy định về việc chuyển NLĐ làm công việc khác so với hợp đồng lao động như sau:

- Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự

cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh thì người sử dụng lao động

Ngày đăng: 05/01/2022, 17:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w