Quá trình kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ dựa trên các cơ sở khoa học sau: Kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ là 1 quá trình làm cho tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh trên vùng lãnh thổ phát triển theo kế hoạch một cách hiệu quả hơn. Quá trình phân công lao động xã hội đòi hỏi phải có quá trình tổ chức và kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ. Bởi vì kết quả phân công lao động xã hội sẽ làm xuất hiện nhiều ngành sản xuất mới mà các ngành sản xuất mới xuất hiện đó đòi hỏi phải được phân bố vào các vùng lãnh thổ cụ thể, phải được tổ chức, quản lý theo lãnh thổ mới có điều kiện phát triển được.
Trang 1CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KẾ HOẠCH HÓA
THEO VÙNG LÃNH THỔ
I Cơ sở khoa học hình thành quá trình kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ :
Quá trình kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ dựa trên các cơ sở khoa học sau:
Kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ là 1 quá trình làm cho tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh trên vùng lãnh thổ phát triển theo kế hoạch một cách hiệu quả hơn
* Quá trình phân công lao động xã hội đòi hỏi phải có quá trình tổ chức và kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ Bởi vì kết quả phân công lao động xã hội sẽ làm xuất hiện nhiều ngành sản xuất mới mà các ngành sản xuất mới xuất hiện đó đòi hỏi phải được phân bố vào các vùng lãnh thổ cụ thể, phải được tổ chức, quản lý theo lãnh thổ mới có điều kiện phát triển được
Phân công lao động xã hội: là sự chuyên môn hóa lao động, tức là chuyên môn hóa sản
xuất giữa các ngành, trong nội bộ từng ngành và giữa các vùng trong nền kinh tế quốc dân Và là một trong những nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
Phân bố sản xuất, theo tầm vi mô, chính là việc các doanh nghiệp lựa chọn, định vị điểm
xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh (xí nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất…) cho doanh nghiệp mình với mục tiêu tối đa hiệu quả sản xuất – kinh doanh Đứng trên góc độ
vĩ mô, phân bố sản xuất là sự điều tiết lực lượng sản xuất cân đối trong từng ngành, trong
từng vùng, hướng dẫn đầu tư đúng định hướng phát triển không gian kinh tế cho từng vùng
và cho cả nước thông qua các quyết định, các chính sách, biện pháp phân bổ và quy hoạch tổng thể của cơ quan chính quyền các cấp
Chuyên môn hóa sản xuất là dựa vào những điều kiện thuận lợi của vùng về tự nhiên
kinh tế, xã hội-lịch sử để sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa với chất lượng tốt, giá thành
hạ, cung cấp cho nhu cầu của nhiều vùng khác, cho nhu cầu cả nước và xuất khẩu
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng, tạo điều kiện để con người nghiên cứu sản xuất ra được nhiều sản phẩm mới góp phần thỏa mãn được mọi nhu cầu của con người Từ đó nó đã thúc đẩy các ngành sản xuất mới hình thành và phát triển và thúc đẩy quá trình quản lý kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ phát triển nhanh hơn
=> Cần tổ chức theo kế hoạch để các ngành phát triển theo khuôn khổ
* Do yêu cầu của các quy luật kinh tế đòi hỏi phải có quá trình tổ chức kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ
Quy luật kinh tế đó là sự phản ánh mối quan hệ nhân quả, tất yếu, khách quan, bền vững,
lặp đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế Kinh tế hàng hóa là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội, trong đó sản phẩm sản xuất ra dùng để bán, để trao đổi trên thị trường, nó vận động chịu sự tác động các quy luật kinh tế riêng có của nó:Quy luật giá trị, Quy luật cung cầu, Quy luật lưu thông tiền tệ, Quy luật cạnh tranh,
Các quy luật kinh tế có yêu cầu chung là : nâng cao hiệu quả của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Để đạt được yêu cầu đó đòi hỏi phải vừa kế hoạch hóa theo ngành, vừa phải tổ chức tốt lãnh thổ cho các ngành hoạt động
Yêu cầu của các quy luật phát triển cân đối có kế hoạch nền kinh tế quốc dân đòi hỏi phải duy trì, bảo đảm cân đối theo ngành, đồng thời duy trì đảm bảo cân đối theo lãnh thổ Trên cơ sở
đó mới đảm bảo được các cân đối trên phạm vi nền kinh tế quốc dân
Phân bố sản xuất theo nguyên tắc cân đối lãnh thổ có nghĩa là phân bố phù hợp với điều
kiện của từng vùng, tạo ra sự phát triển đồng đều giữa các vùng theo từng giai đoạn phát triển và định hướng phát triển chung của tổng thể nền kinh tế Mọi quốc gia đều muốn điều tiết sự phân
bố các lực lượng sản xuất cân đối giữa các vùng, các vùng kém phát triển vươn lên, đuổi kịp các
Trang 2vùng phát triển khác Tuy nhiên, nguồn lực luôn có hạn, những điều kiện về lợi thế so sánh như tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý hay nguồn lao động, quy mô lãnh thổ… của từng vùng khác nhau là khác nhau Vì vậy, cần kết hợp giữa việc ưu tiên phát triển vùng kinh tế động lực và lan tỏa kinh tế phát triển các vùng có trình độ phát triển kém hơn
VD: Phát triển kinh tế xã hội, nhà nước đầu tư cho Đà Nẵng 1 sân bay quốc tế, không phải Đà Nẵng có mà Quảng Trị cũng phải có, đó không phải sự cân đối Cân đối ở đây là sự phù hợp với điều kiện phát triển của từng vùng, như Đà Nẵng, có lượng khách du lịch quốc tế ra vào hàng năm cao, chi phí đầu tư cho sân bay quốc tế là rất cao, vì thế phải đảm bảo lượng chuyến bay đủ nhiều để bù đắp chi phí Đầu tư sân bay quốc tế cho Đà Nẵng sẽ hợp lý hơn vào Quảng Trị
VD: cân đối trong phát triển ngành dịch vụ – nông nghiệp: không phải ngành dịch vụ tạo ra 10 tỷ thì nông nghiệp cũng phải 10 tỷ thì mới là phát triển cân đối, mà là với quy mô của từng ngành khác nhau, khai thác hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế => Phát triển kinh tế ngành cần đối VD: trong 1 địa phương: giáo dục và công nghiệp phải phát triển cân đối với nhau: giáo dục đào tạo nguồn nhân lực phù hợp về số lượng, chất lượng để phục vụ cho ngành công nghiệp, và ngành công nghiệp phải có trình độ phát triển với quy mô và số lượng phù hợp với sự phát triển ngành giáo dục
Cân đối trong kinh tế là sự Phù hợp
Trong thực tế chỉ thực hiện được các yêu cầu trên của các quy luật kinh tế mới tạo ra được khả năng giảm được sự chênh lệch về phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng, nâng cao được hiệu quả kinh tế
Mặt khác trong 3 yếu tố của sản xuất ( tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động ) thì sức lao động là yếu tố cơ bản nhất, nó gắn liền với những điều kiện bảo đảm đời sống, bảo đảm tiêu dùng trên vùng lãnh thổ
Từ đó đòi hỏi cần phải coi trọng việc phân bố dân cư, lao động và việc bảo đảm các điều kiện phục vụ tốt cho sản xuất, phát huy tính chủ động sáng tạo của nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Mối liên hệ giữa các yếu tố sản xuất, giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa yêu cầu của sản xuất, đời sống với tổ chức lãnh thổ được thể hiện như sau :
Để phân bố sản xuất, phải xem xét những yếu tố thường xuyên tác động đến chi phí đầu vào và đầu ra của việc sản xuất
Xem xét gần hay xa chính là xem xét những khoảng cách cần thiết cho mỗi hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả: Giúp cho nhà doanh nghiệp có thể sản xuất nhanh, nhiều với
- Tư liệu lao động
- Đối tượng lao động
- Sức lao động
Mua bán sản phẩm tiêu
dùng;Nhà ở; Dịch vụ; Đi lại;
Giáo dục, y tế
Được phối hợp thực hiện trong vùng lãnh thổ bằng các hoạt động
- Tổ chức quá trình vận tải
- Tổ chức hợp tác sản xuất
- Phân bổ, sử dụng : vốn, vật tư, lao động
- Lựa chọn địa điểm
- Tổ chức các mối liên hệ kinh tế, dịch vụ
- Xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
Yêu cầu của sản xuất và tiêu dùng :
- Vừa liên quan đến ngành
- Vừa liên quan đến vùng lãnh thổ
Tổ chức có kế hoạch các hoạt động trên đây theo vùng lãnh thổ
Trang 3giá thành thấp nhất, có nhiều khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Nó mang lại lợi ích cho cả nhà sản xuất và người tiêu dùng
Nguyên tắc này yêu cầu khi lựa chọn địa điểm phân bố sản xuất, cần lưu ý:
- Có gần nguồn nguyên liệu hay không?
- Có gần nguồn nhiên liệu, năng lượng, nguồn nước hay không?
- Có gần nguồn lao động, thị trường? Lợi ích của việc thực hiện nguyên tắc
- Giảm bớt chi phí vận tải xa và chéo nhau giữa nguyên liệu và sản phẩm, nghĩa là loại bỏ một nguyên nhân làm tăng chi phí sản xuất, đội giá thành của sản phẩm
- Tiết kiệm và sử dụng hợp lý các nguồn lực tự nhiên – kinh tế - xã hội trong vùng
- Tăng năng suất lao động trực tiếp và năng suất lao động xã hội, mang lại lợi ích cho nhà doanh nghiệp và cho nền kinh tế xã hội của vùng
=> Nhằm giảm chi phí ở đầu vào và chi phí vận chuyển sản phẩm đến nơi tiêu thụ Như vậy, đánh giá khoảng cách phải tổng hợp đầy đủ các yếu tố đầu vào và thị trường của từng hoạt động sản xuất: nguyên liệu; nhiên liệu, năng lượng; lao động, thị trường; cơ động và rộng khắp trong phân phối sản phẩm
Kết luận :
- Yêu cầu của các quy luật kinh tế chỉ có thể thông qua hoạt động có kế hoạch trên vùng lãnh thổ mới trở thành hiện thực
- Yêu cầu của các quy luật kinh tế nói chung và quy luật phát triển cân đối có kế hoạch nền kinh
tế quốc dân là cơ sở khoa học quan trọng của quá trình tổ chức và kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ
* Nhận thức của các nhà kinh điển và của Việt Nam về vai trò của lãnh thổ trong phát triển kinh tế - xã hội :
C.Mác : xem lãnh thổ không gian là điều kiện tiên quyết đầu tiên của mọi hoạt động của con người
LêNin : khi thông qua kế hoạch GÔELRÔ LêNin yêu cầu cần xác định địa điểm phân bố các cơ sở công nghiệp, các cơ sở năng lượng sẽ được xây dựng
Kế hoạch Gooelrô: kế hoạch điện khí toàn trên toàn nước Nga, xây dựng toàn bộ hệ thống đường truyền dẫn năng lượng đi xuyên quốc gia, phân bố nhà máy năng lượng trên toàn lãnh thổ
=> phục vụ phát triển sản xuất
Việt Nam đã sớm nhận thức về vai trò của lãnh thổ, nhưng đến Đại hội Đảng lần thứ IV mới có kết luận xác đáng về vai trò của tổ chức và kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ ở nước ta
II Những nội dung chủ yếu của tổ chức và kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ
1 Nội dung của kế hoạch hóa theo ngành :
Do nền kinh tế quốc dân càng phát triển thì quy mô của ngành ngày càng được mở rộng
và cơ cấu ngành ngày càng phức tạp Từ đó đòi hỏi phải có tổ chức, quản lý và kế hoạch hóa theo ngành nhằm giải quyết những vấn đề : chuyên môn hóa, hợp tác hóa, giải quyết trang bị kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất, tổ chức lại sản xuất trong mỗi ngành
Nội dung của tổ chức và kế hoạch hóa theo ngành bao gồm :
* Quản lý toàn bộ quá trình tái sản xuất mở rộng của ngành : Trên cơ sở xác định nhu cầu của nền kinh tế quốc dân về sản phẩm của ngành từ đó nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ trong ngành
Tái sản xuất mở rộng: là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô lớn hơn trước
và là đặc trưng chủ yếu của nền sản xuất lớn
* Tổ chức điều hòa phối hợp hoạt động của các thành phần kinh tế trong phạm vi ngành
Những thành phần trong kinh tế
- Kinh tế nhà nước
- Kinh tế tập thể
Trang 4- Kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân)
- Kinh tế tư bản nhà nước
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
VD: Quản lý ngành theo chiều dọc: Các Bộ Công thương, Bộ giáo dục, Bộ y tế
* Thực hiện hợp tác hóa sản xuất giữa các xí nghiệp trong ngành hoặc giữa các ngành khác nhau qua nhóm sản phẩm
Như vậy tổ chức và kế hoạch hóa theo ngành nhằm giải quyết những vấn đề như :
- Quy mô, tốc độ phát triển
- Cơ cấu sản phẩm
- Khoa học kỹ thuật công nghệ
- Chất lượng chủng loại sản phẩm
- Vấn đề tích lũy của ngành
Đồng thời cần lưu ý : quản lý kế hoạch hóa của ngành chỉ có giới hạn, ngành không thể đi sâu vào quản lý toàn diện hoạt động sản xuất kinh doanh như trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp
Thời bao cấp tại Việt Nam (1975 – cuối năm 1986) là giai đoạn mà hầu hết sinh hoạt kinh tế
đều được Nhà nước bao cấp, diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch, một đặc điểm của nền kinh tế theo chủ nghĩa cộng sản Theo đó thì kinh tế tư nhân dần bị xóa bỏ, nhường chỗ cho kinh tế do nhà nước chỉ huy Việc quản lý toàn diện hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho nền kinh tế ngày càng trì trệ, không thể phát triển, đời sống nhân dân khổ cực
2 Kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ :
Kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ là một quá trình mà trong đó sản xuất cũng như các hoạt động khác của ngành luôn luôn tồn tại trên một địa điểm, gắn liền với một không gian lãnh thổ nhất định
Trên giác độ đó Ăngghen đã viết : " Trái đất là phòng thí nghiệm lớn, nó cung cấp tư liệu sản xuất, nguyên liệu cũng như dựa vào đó mà hoạt động và là cơ sở của mọi khối cộng đồng "
Dựa trên quan điểm đó của Ăngghen có thể đưa ra những nhận xét sau :
- Muốn hoạt động có hiệu quả thì mọi quá trình kinh tế - xã hội đều không tách rời một địa điểm
có điều kiện phù hợp với quá trình đó
- Địa điểm sản xuất được hiểu là : một vị trí, một địa điểm mà ở đó diễn ra quá trình kết hợp các yếu tố sản xuất : tư liệu lao động, đối tượng lao động, sức lao động để tạo ra sản phẩm hàng hóa Quá trình kết hợp này gọi là quá trình kết hợp bộ phận của nền kinh tế quốc dân và muốn có hiệu quả cao cần có sự phối hợp giữa ngành và lãnh thổ
Trên cơ sở đó có thể hiểu một cách đầy đủ hơn : kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ đó là một quá trình mà trong đó diễn ra việc nghiên cứu, bố trí ngành vào vùng, tạo ra khả năng hình thành các vùng kinh tế Tổ chức các mối liên hệ kinh tế, làm cho ngành và vùng liên hệ chặt chẽ với nhau, điều hòa các hoạt động kinh tế - xã hội trên lãnh thổ Thực hiện sự phát triển tổng hợp trên phạm vi lãnh thổ
Tuy nhiên điều đáng chú ý là : trong quá trình tổ chức, kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ cần hướng vào tạo điều kiện cho ngành phát triển thuận lợi nhất, tận dụng được mọi thế mạnh của vùng lãnh thổ, trên cơ sở đó mà thúc đẩy vùng, ngành, nền kinh tế quốc dân cùng phát triển nhanh trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, tức là tổ chức lãnh thổ, tạo điều kiện về mặt lãnh thổ, điều hòa phối hợp hoạt động trên lãnh thổ
Trên thực tế, khó có địa điểm nào hội tụ đầy đủ lợi thế về tất cả các yếu tố trên, vì vậy, dựa
vào đặc điểm phân bố của từng ngành và chia thành những nhóm ngành có những tiêu chí ưu tiên khi lựa chọn điểm phân bố:
Trang 5-Nhóm ưu tiên phân bố gần nguồn nguyên liệu: Bao gồm những ngành có khối lượng
nguyên liệu sản xuất lớn gấp nhiều lần so với sản phẩm và chi phí vận chuyển nguyên liệu cao Cụ thể: Sản xuất gang thép, xi măng, mía đường, chế biến lâm sản…
VD: Nhà máy xi măng Nghi Sơn (Thanh Hóa), Công ty sản xuất mía đường Sơn Dương (Tuyên Quang),
-Nhóm ưu tiên phân bố gần nguồn nhiên liệu, năng lượng: Bao gồm những ngành sử dụng
nhiều nhiên liệu, năng lượng và chi phí cho nhiên liệu và năng lượng chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm Thông thường, trong nhóm ngành này, loại chi phí này chiếm từ 35 – 60% giá thành sản phẩm Cụ thể, ngành sản xuất điện năng, luyện kim, hóa dầu, tơ sợi hóa học, chất dẻo…
VD: Nhà máy thủy điện Sơn La (Sơn La), Công ty THHH liên doanh Lửa Việt Bestref (Thái Nguyên), Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa),
- Nhóm ưu tiên gần nguồn lao động, thị trường: Bao gồm những ngành cần nhiều lao động
có tay nghề cao, sản phẩm có giá trị cao, khó vận chuyển và bảo quản, yêu cầu phải tiêu thụ kịp thời Chủ yếu gồm các ngành cơ kim khí, điện tử, dệt da, may mặc, chế biến lương thực thực phẩm, nông sản tươi sống, các ngành bưu điện, thương mại, dịch vụ…
VD: Dệt may Phong Phú (Thành phố Hồ Chí Minh), Công ty trách nhiệm hữu hạn Đạt Thành (Tiền Giang),
-Nhóm ngành ưu tiên phân bố chủ động, rộng khắp: Không đòi hỏi khắt khe trong nhân
công, nguyên liệu là phổ biến và thị trường phân tán như chế biến lương thực thông thường, sản xuất vật liệu đồ gia dụng, cơ khí sửa chữa…
Còn kế hoạch hóa theo ngành chủ yếu là hướng dẫn quá trình tái sản xuất mở rộng của ngành
3 Nội dung chủ yếu của kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ :
Kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ bao gồm những nội dung chủ yếu sau :
a) Bố trí các cơ sở sản xuất của ngành vào vùng lãnh thổ, góp phần hình thành cơ cấu kinh tế lãnh thổ có lợi nhất
Mục đích :
- Tạo ra được sự ăn khớp giữa yêu cầu của ngành và điều kiện cho phép của vùng lãnh thổ
- Đưa ngành vào vùng để góp phần hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng lãnh thổ
- Thúc đẩy cơ cấu kinh tế trung ương và kinh tế địa phương cùng phát triển trong một cơ cấu kinh
tế quốc dân thống nhất
Cách làm :
- Vùng lãnh thổ phải biết mình đang cần sản phẩm gì ? Cần ngành nào? Và lãnh thổ có khả năng
về những mặt nào ?
- Dựa vào đó để lựa chọn và bố trí những ngành sản xuất chính : bảo đảm sản xuất những sản phẩm chủ lực của vùng lãnh thổ, có tỷ trọng lớn, chi phối đời sống của vùng
- Lựa chọn, bố trí các cơ sở sản xuất phụ, bổ trợ, các cơ sở dịch vụ phục vụ đời sống dân cư Lấy ví dụ về Thành phố Đà Nẵng, cần tập trung phát triển ngành Du lịch, bản thân Đà Nẵng
có những tiềm năng: có bờ biển dài và đẹp, khí hậu dịu mát, không gian văn hóa, cuộc thi diễn bắn pháo hoa hằng năm, ẩm thực đường phố,
b) Điều hòa hoạt động của các ngành trên lãnh thổ.
Mục đích :
- Huy động hết năng lực sản xuất của các thành phần kinh tế
- Nâng cao được hiệu quả hoạt động của các ngành trên lãnh thổ
Cách làm :
- Tổ chức các mối liên hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp, giữa các ngành, giữa các thành phần kinh tế trên lãnh thổ Sau đó sử dụng mối liên hệ đó để tác động vào các ngành
- Bảo đảm các điều kiện hoạt động cho các ngành trên lãnh thổ như điện nước, lao động, nguyên liệu
Trang 6- Thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho các ngành trên lãnh thổ chẳng hạn như tổ chức hợp lý mạng lưới vận tải, tổ chức tốt mạng lưới dịch vụ đời sống, tối ưu hóa vốn đầu tư
- Thông qua các tổ chức đoàn thể xã hội để tác động vào hoạt động của các ngành
c) Cải tạo cơ cấu kinh tế của vùng lãnh thổ
Vì sao phải cải tạo :
Vì cơ cấu kinh tế của vùng lãnh thổ hiện nay còn nhiều nhược điểm ví dụ như cơ cấu giữa công nghiệp và nông nghiệp
Có cải tạo cơ cấu kinh tế của vùng lãnh thổ mới tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hóa, nâng cao được tỷ suất hàng hóa của vùng
Định hướng cải tạo :
- Cải tạo cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp
- Tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề
- Tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ
Số liệu tỷ trọng các ngành kinh tế tại Việt Nam năm 2019:
Động lực chính của tăng trưởng kinh tế năm nay tiếp tục là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (tăng 11,29%) và các ngành dịch vụ thị trường (như ngành vận tải, kho bãi tăng 9,12%; bán buôn và bán lẻ tăng 8,82%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,62%)
Cơ cấu kinh tế năm 2019 cũng có những chuyển biến tích cực với tỉ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm xuống 13,96% GDP, so với mức 14,68% của năm 2018
Tỉ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,49%; khu vực dịch vụ chiếm 41,64% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,91%
d) Kế hoạch hóa quá trình tổ chức đời sống dân cư trên vùng lãnh thổ :
Mục đích :
- Bảo đảm tái sản xuất sức lao động về số lượng và chất lượng
- Nâng cao đời sống dân cư
Để đạt được mục đích đó cần xúc tiến việc xây dựng kết cấu hạ tầng như điện, nước, giao thông vận tải, vui chơi giải trí, giáo dục đào tạo
Như đã nói, sức lao động là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố lao động Vì thế việc đảm báo tái sản xuất sức lao động cả về số lượng và chất lượng là hết sức lao động
Việt Nam là nước có quy mô dân số lớn, tháp dân số tương đối trẻ và bắt đầu bước vào thời kỳ
“cơ cấu dân số vàng” với nguồn nhân lực dồi dào nhất từ trước đến nay Tính đến năm 2019, dân
số Việt Nam đạt 96.484 người, trong đó nữ chiếm khoảng 50,23 % Lượng lao động dồi dào, trẻ, tuy nhiên còn tồn tại nhiều yếu điểm như: trình độ lao động chưa cao
Phân vùng kinh tế phải dựa vào yếu tố tạo vùng: Vùng kinh tế được hình thành và phát triển
trên cơ sở tác động tổng hợp của các yếu tố Những yếu tố tạo vùng quan trọng nhất là:
+ Phân công lao động xã hội theo lãnh thổ (đây là yếu tố tạo vùng cơ bản nhất)
+ Yếu tố tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, sự phân bố của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các điều kiện tự nhiên khác (núi cao, sông rộng, sự khác biệt của các miền tự nhiên…)
+ Yếu tố kinh tế: Các trung tâm công nghiệp, các thành phố lớn, các đầu mối giao thông vận tải quan trọng, các cơ sở sản xuất nông – lâm - ngư nghiệp rộng lớn
+ Yếu tố tiến bộ khoa học kỹ thuật: Tiến bộ kỹ thuật trong điều tra cơ bản, thăm dò địa chất, tìm kiếm tài nguyên, đổi mới quy trình công nghệ sản xuất
+ Yếu tố lịch sử - xã hội - quốc phòng: Dân cư và sự phân bố dân cư, địa bàn cư trú của các dân tộc ít người, nền văn hóa của các dân tộc và các địa giới đã hình thành trong lịch sử, các cơ
sở sản xuất cũ, tập quán sản xuất cổ truyền, đặc điểm chính trị, quân sự và các quan hệ biên giới với các nước
Trang 74 Để thực hiện được 4 nội dung trên đây trong kế hoạch hóa theo vùng lãnh thổ cần thực hiện tốt quá trình phân bố lực lượng sản xuất
Phân bố lực lượng sản xuất là quá trình tổ chức lãnh thổ của sản xuất, là sắp xếp, bố trí các đơn vị sản xuất, phục vụ sản xuất trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ các điều kiện tự nhiên, kinh tế
- xã hội của vùng lãnh thổ và yêu cầu của nền kinh tế quốc dân, yâu cầu của các quy luật kinh tế, quy luật tự nhiên
Đối với Việt nam hiện nay, trong phân bố lực lượng sản xuất cần chú ý đến hai vấn đề :
- Chống tự phát chạy theo lợi nhuận đơn thuần Vì điều đó sẽ gây ra tình trạng hoặc bỏ sót nhu cầu của xã hội hoặc cung vượt cầu đưa đến lãng phí của cải vật chất
- Phải tăng cường quản lý Vĩ mô trong phân bố và phát triển lực lượng sản xuất
Nhiệm vụ của phân bố lực lượng sản xuất:
- Tạo ra sự nhất trí giữa yêu cầu của ngành và điều kiện cho phép của lãnh thổ nhằm đảm bảo cho ngành phát triển
- Thông qua quá trình phân bố lực lượng sản xuất, phát hiện những khả năng mới, tiềm lực mới của lãnh thổ, từ đó có biện pháp huy động để phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ đời sống dân cư
Trong điều kiện hiện nay, để thực hiện tốt quá trình phân bố lực lượng sản xuất cần giải quyết một số vấn đề như:
- Mỗi vùng phải đánh giá cho được trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ tổ chức không gian của lãnh thổ Chẳng hạn như vùng Đông Nam bộ và 3 tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận sản xuất ra 62% giá trị sản lượng công nghiệp, bảo đảm 52% ngân sách nhà nước, Bảo đảm 70% kim ngạch xuất khẩu và thu hút 53% dự án đầu tư nước ngoài
- Cần nghiên cứu để hiểu rõ những nguyên nhân nào đưa đến sự hình thành tổ chức không gian lãnh thổ đó
- Từ đó đưa ra hướng tổ chức không gian đó cần được thay đổi như thế nào trong tương lai
- Đánh giá đúng khả năng về tài nguyên thiên nhiên, điều kiện về kinh tế - xã hội của vùng và cả nước, nắm được xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của trong và ngoài nước
Các bước tiến hành phân bố lực lượng sản xuất :
a) Phân vùng ngành: Dựa trên cơ sở xác định, tính toán các điều kiện cho phép của mỗi vùng
lãnh thổ, ngành vạch ra hướng phân bố ngành vào vùng lãnh thổ
b) Hình thành vùng kinh tế cơ bản :
Kinh tế vùng lãnh thổ và quá trình hình thành vùng kinh tế cơ bản ở nước ta :
- Lãnh thổ hành chính đó là địa giới không gian và nội dung quản lý của nhà nước trên không gian xác định đó Còn vùng kinh tế lại thể hiện giới hạn của một không gian vận
- Quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của bất cứ một quốc gia nào cũng chính là tổng hợp sự phát triển của các vùng kinh tế hợp thành Vì mọi chủ thể kinh tế đều được hoạt động và diễn ra trên một không gian lãnh thổ nhất định
- Quá trình hình thành và phát triển vùng kinh tế cơ bản ở nước ta :
Trong những năm đầu của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Việt Nam được chia ra thành các liên khu để vừa phù hợp với quản lý hành chính, phát triển kinh tế trong điều kiện có chiến tranh
Đến Đại hội Đảng lần thứ III: Miền Bắc được xác định kinh tế vùng theo Trung du, miền núi, đồng bằng Nghi quyết đại hội III nêu rõ : " Phải phân bố hợp lý sức sản xuất ở đồng bằng, trung du, miền núi, điều chỉnh sức người giữa các vùng, quy hoạch từng bước vùng kinh tế, thực hiện sự phân công, phối hợp giữa các vùng với nhau "
Đến Hội nghị Trung Ương V ( Khóa III tháng 7/1961 ) đã đặt ra vấn đề phân vùng nông nghiệp Dưạ vào chủ trương đó, Uy ban Kế hoạch nhà nước, Bộ Nông nghiệp đã phân chia miền Bắc thành 4 vùng kinh tế nông nghiệp lớn với 46 tiểu vùng Tổng cục lâm nghiệp lúc đó cũng xây dựng các tài liệu để phân vùng lâm nghiệp Uy ban Kiến thiết cơ bản nhà nước cũng triển khai
Trang 8nghiên cứu quy hoạch địa điểm xây dựng miền Bắc Song do điều kiện chiến tranh, các dự án trên chưa được phê chuẩn và triển khai
Đến Đại hội Đảng lần thứ IV: coi trọng phát triển vùng, đã phân chia lãnh thổ Việt Nam thành 4 vùng kinh tế cơ bản Nghị quyết Đại hội IV xác định " Tiến hành phân vùng quy hoạch sản xuất để phát triển tất cả các vùng: Đồng bằng, trung du, miền núi và miền biển, sắp xếp hình thành những khu vực lớn, sản xuất tập trung chuyên môn hóa"
Đại hội IV: Phân định Việt Nam thành 7 vùng kinh tế lớn :
- Đồng bằng Sông Hồng
- Đồng bằng Sông cửu Long
- Miền Đông Nam bộ
- Duyên hải Trung bộ
- Khu 4 cũ
- Miền núi, trung dự án phía Bắc
- Tây Nguyên
+ Tháng 3/1984 : Uy ban phân vùng kinh tế Trung ương ( thành lập năm 1977) đã có dự án phân chia lãnh thổ Việt Nam thành 4 vùng kinh tế lớn tổng hợp là : Bắc bộ, Trung bộ, Tây nguyên, Nam bộ
+ Đến Đại hội Đảng VI : Dựa trên việc kế thừa cách phân vùng của Đại hội V đồng thời yêu cầu các cơ quan chức năng tiếp tục nghiên cứu về phân vùng kinh tế ở nước ta
+ Đến Đại hội VII: Tiếp tục nghiên cứu việc phân vùng kinh tế theo Đại hội V và VI
+ Đến Đại hội Đảng lần thứ VIII: Đưa ra 4 vùng kinh tế lớn theo tính chất địa lý:
- Vùng kinh tế đô thị
- Vùng Đồng bằng
- Vùng miền núi
- Vùng kinh tế biển
Song cách phân vùng này gặp khó khăn trong việc xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Từ đó chính phủ lại đưa ra dự án xây dựng vùng kinh tế theo 8 vùng kinh tế
Đồng bằng Sông Hồng gồm các tỉnh: Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Bắc Ninh, Hải
Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam định, Thái Bình, Ninh Bình
Đông Bắc gồm các tỉnh : Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên
Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, quãng Ninh
Tây Bắc gồm các tỉnh: Lai Châu, Sơn la, Hòa Bình
Bắc Trung bộ gồm các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quãng Bình, Quãng Trị, Thừa Thiên
Huế
Duyên hải Nam Trung bô gồm các tỉnh: Đà Nẵng, Quãng Nam, Quãng Ngãi, Bình Định, Phú
Yên, Khánh Hòa
Tây Nguyên gồm các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, ĐắkLắk, Lâm Đồng
Đông Nam bộ gồm các tỉnh : Thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Thuận, Bình Phước, Tây Ninh, Bình
Dương, Đồng Nai, Bình Thuận, Bà Rịa Vũng Tàu
Đồng bằng Sông Cửu Long gồm các tỉnh: Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh
Long, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau
Đồng thời chủ trương xây dựng 3 vùng trọng điểm kinh tế của đất nước nhằm tạo đầu tư cho quá trình phát triển
Vùng trọng điểm phía Bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quãng Ninh
Vùng trọng điểm Miền Trung: Huế - Đà Nẵng - Quãng Ngãi
Vùng trọng điểm phía Nam: Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa Đồng Nai - Bà Rịa Vũng Tàu
Sự phân bố dân cư tại Việt Nam năm 2018
Trang 9Diện tích (Km2)
Dân số trung bình (Nghìn người)
Mật độ dân số (Người / km2)
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 95.876,0 20.056,9 209,0
Đồng bằng là nơi dân cư tập trung đông nhất, với chưa đầy 1/4 diện tích tự nhiên đã tập trung hơn 3/4 dân số của cả nước Đồng bằng sông Hồng với diện tích 21.260 km2 là địa bàn cư trú của khoảng 21 nghìn người Mật độ dân số cao có quan hệ trực tiếp với nền nông nghiệp thâm canh lúa nước và cơ cấu ngành nghề đa dạng Sự hiện diện của các thành phố, trung tâm công nghiệp, dịch vụ lớn cũng góp phần làm tăng mật độ dân số của đồng bằng
Vựa lúa lớn nhất của cả nước - Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích 40.816 km2 là nơi cư trú của khoảng 17 nghìn người
Hệ thống đồng bằng duyên hải miền Trung nhỏ hẹp, tiềm năng nông nghiệp không lớn nên mật độ dân số thấp hơn so với Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long
Việt Nam với 3/4 diện tích là đồi núi, nơi đây dân cư còn thưa thớt Đây là địa bàn cư trú của các tộc người thiểu số với trình độ phát triển kinh tế còn thấp so với vùng đồng bằng đất chật người đông ở trung du miền núi, gần như địa hình càng lên cao thì dân số càng thấp Ở trung du và miền núi phía Bắc, mật độ dân cư rất thấp, chỉ 129 người / km2
Tây Nguyên với tài nguyên đất bazan nhưng dân cư quá thưa thớt, là nơi có mật độ dân số thấp nhất Việt Nam (chỉ 108 người/km2 )
Từ đặc điểm phân bố dân cư trên, nhà nước cần nghiên cứu sâu thêm để có những chính sách, cải tạo phân bố ngành theo vùng lãnh thổ một cách hợp lý, nền kinh tế đạt hiệu quả nhất
III Kết hợp kế hoạch hóa theo ngành và theo vùng lãnh thổ :
1 Vì sao phải kết hợp :
Quá trình kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân được thực hiện theo hai hướng :
- Theo ngành : nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến tái sản xuất mở rộng của ngành
- Theo vùng lãnh thổ : nhằm giải quyết những vấn đề về tổ chức không gian lãnh thổ, giải quyết những yêu cầu của ngành có liên quan đến lãnh thổ
Do đó phải kết hợp với nhau để bảo đảm ngành và vùng phát triển theo định hướng thống nhất (Chẳng hạn như về sản xuất lương thực mục tiêu đặt ra là đến năm 2005 sản xuất nông nghiệp đạt được 35 triệu tấn Mục tiêu này phải được thống nhất trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn và đó cũng là mục tiêu của 61 tỉnh thành phố trong cả nước.) đồng thời có kết hợp mới nâng cao được hiệu quả của nền kinh tế quốc dân, các yêu cầu của các quy luật kinh
tế mới được đảm bảo
VD: Việc quy hoạch mở đường mới cần sự kết hợp giữa địa phương và tất cả các ngành ngay từ đầu Kết hợp giữa kế hoạch xây dựng, ngành giao thông vận tải, ngành viễn thông điện lực cáp điện, hệ thống thoát nước, Để khi đã hoàn thành đưa vào sử dụng không phải sửa chữa quá nhiều gầy lãng phí
2 Yêu cầu đặt ra trong quá trình kết hợp :
- Nhằm tạo ra khả năng kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế trung ương và kinh tế địa phương, tạo điều kiện cho 2 bộ phận kinh tế này trở thành một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất
Trang 10- Quá trình kết hợp đó phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh của các ngành và kinh tế vùng lãnh thổ, tức là pahỉ tạo ra 1 lực tác động cùng chiều vào kinh tế ngành và kinh tế vùng, từ đó nhịp độ phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân được đảm bảo
- Phải phát huy được vai trò của ngành đối với vùng nhằm giúp các vùng khai thác tận dụng những tiềm năng, lợi thế của vùng để phát triển kinh tế - xã hội
Từ đó chống được cục bộ địa phương, chia cắt trong quá trình phát triển
3 Nội dung chủ yếu cần được thực hiện trong quá trình kết hợp giữa ngành và lãnh thổ
a Kết hợp trong phân công tổ chức sản xuất: Đây là nội dung cơ bản nhất cần được thực hiện
trong quá trình kết hợp Trong quá trình phân công tổ chức sản xuất nếu gặp những trở ngại khó khăn thì ngành và vùng lãnh thổ cùng nhau bàn bạc để giải quyết Chẳng hạn như những khó khăn về nguồn cung cấp nguyên liệu, nguồn nhân lực
b Kết hợp trong bố trí địa điểm: Trong quá trình bố trí địa điểm doanh nghiệp thì ngành và vùng
phải kết hợp với nhau để xác định : điều kiện cho phép, sự bố trí đó có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến địa phương, hướng giải quyết
c Kết hợp trong quy hoạch và bố trí vốn đầu tư trên vùng lãnh thổ: Kết hợp trong quy hoạch
và bố trí vốn đầu tư trên vùng lãnh thổ : bố trí các ngành trên lãnh thổ, bố trí vốn đầu tư phải được cả ngành và vùng thống nhất với nhau
d Kết hợp trong các cân đối lãnh thổ : Cân đối lãnh thổ là những cân đối nhằm đáp ứng yêu cầu
của ngành nhưng có liên quan chặt chẽ đến điều kiện cho phép của lãnh thổ Chẳng hạn như cân đối lương thực, cân đối tiền hàng
Bản thân từng ngành định kỳ thông báo những yêu cầu có liên quan đến lãnh thổ cho lãnh thổ biết Lãnh thổ sẽ xem xét và đưa vào trong kế hoạch của lãnh thổ Trên cơ sở đó tiến hành cân đối lãnh thổ, nếu gặp khó khăn thì ngành và lãnh thổ cùng nhau giải quyết
e Kết hợp trong tổ chức đời sống cho dân cư
Mục đích là nhằm giúp cho ngành phát triển một cách tốt nhất, giúp cho ngành và lãnh thổ thực hiện quá trình tái sản xuất sức lao động nhằm tạo điều kiện đảm bảo đời sống cho dân cư trên lãnh thổ