1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng các nước Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

35 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009 vừa qua đã một lần nữa đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về tầm quan trọng của hệ thống ngân hàng - cả đối với kinh tế quốc gia lẫn kinh tế quốc tế

Trang 1

Nguyễn Công Tâm – MFB3 1

Đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, hệ thống ngân hàng luôn đóng vai trò hết sức quan trọng trọng trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của đất nước Và cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009 vừa qua đã một lần nữa đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về tầm quan trọng của hệ thống ngân hàng - cả đối với kinh tế quốc gia lẫn kinh tế quốc tế - cũng như sự cần thiết của việc nâng cao tính minh bạch, hiệu quả hoạt động, khả năng sinh lợi và chất lượng công tác giám sát các hoạt động của ngân hàng Ngân hàng thương mại dù ở bất cứ quốc gia nào, phát triển hay kém phát triển, cũng đều là nhóm trung gian tài chính lớn nhất, cũng là trung gian tài chính mà các chủ thể kinh tế giao dịch thường xuyên nhất, hệ thống ngân hàng chỉ cần “hắt hơi, sổ mũi” thôi là đã khiến nền kinh tế lao đao

Do đó, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát lĩnh vực tài chính, tăng tính minh bạch và ổn định của hệ thống tài chính, cũng như tăng cường kỷ luật thị trường, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã xây dựng và phổ biến “Bộ chỉ số lành mạnh tài chính” (Financial Soundness Indicators: FSIs) Bộ chỉ số này đo lường sự lành mạnh tài chính của mỗi quốc gia, có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, nhìn nhận chính xác thực trạng và hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính mỗi quốc gia cũng như toàn cầu, đồng thời có vai trò lớn trong việc dự đoán, cảnh báo sớm và hoạch định chính sách, đưa ra các biện pháp quản lý hợp lý nhằm hạn chế những bất ổn, rủi

ro có thể xảy ra, góp phần ngăn chặn, giảm thiểu hậu quả của khủng hoảng tài chính (Ngân hàng nhà nước Việt Nam)

Nhìn về Việt Nam, hệ thống tài chính của nước ta đã phát triển rất mạnh kể từ đầu thập niên 90 thế kỷ XX đến nay với sự ra đời và mở rộng liên tục của các ngân hàng và chi nhánh, đặc biệt là trong thời gian gần đây Đến cuối năm 2010, tổng nguồn tín dụng mà hệ thống tài chính cung cấp cho nền kinh tế đã tăng rất nhanh và đạt đến 125% GDP, trở thành nguồn cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế Nhiều ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng đã phát triển lên mô hình tập đoàn, cung

Trang 2

Nguyễn Công Tâm – MFB3 2

cấp gần như đầy đủ các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho khách hàng tổ chức và cá nhân (Vũ Đình Ánh, 2012)

Mặc dù vậy, sự phát triển bùng nổ cả về quy mô và mức độ đa dạng của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam đã bắt đầu bộc lộ những mặt trái của nó, đó

là những nguy cơ rủi ro về thanh khoản, tín dụng, tỷ giá,… gây tác động tiêu cực đến hoạt động và làm giảm khả năng sinh lợi của ngân hàng Và mặc dù trên báo cáo tài chính của các ngân hàng đều thể hiện con số lợi nhuận khủng, nhưng thực tế nếu xem xét các chỉ số đo lường khả năng sinh lợi như ROA hay ROE, những chỉ số phản ánh hiệu quả kinh doanh thực sự của ngân hàng, thì vẫn còn tương đối thấp so với các lĩnh vực khác Bên cạnh đó, mức độ minh bạch của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện đang ở mức rất thấp, thể hiện rõ nét nhất qua việc nước ta chưa công bố bất kỳ chỉ số nào trong bộ chỉ số lành mạnh tài chính cho Quỹ tiền tệ quốc tế như nhiều quốc gia khác

Chính vì vậy, việc nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của ngân hàng hay cụ thể hơn là tìm ra các yếu tố tác động và mức độ tác động của các yếu tố đó lên khả năng sinh lợi ngân hàng là hết sức cần thiết, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi, làm căn cứ để những nhà hoạch định chính sách có thể hoàn thiện các chính sách, quy định và ban quản trị các ngân hàng điều chỉnh phương thức kinh doanh, cách thức quản trị, để hệ thống ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn, tạo

ra nhiều lợi nhuận hơn Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu như vậy trong khi ở Việt Nam rất ít Tuy nhiên, từ cuối năm 2011 và bước sang năm 2012, số lượng người tham gia nghiên cứu về khả năng sinh lợi, thanh khoản, rủi ro, của hệ thống ngân hàng Việt Nam bỗng dưng tăng đột biến Do đó, để tránh trùng lặp, tác giả đã mạnh dạn chọn nghiên cứu về hiệu quả của hệ thống ngân hàng tại các quốc gia trong khu vực, cụ thể là khu vực Đông Nam Á Qua đó, tác giả mong muốn đem đến một cái nhìn tổng quát về hiệu quả hoạt động của ngân hàng các nước trong khu vực Đông Nam Á và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.Đồng thời, dựa trên các kết quả nghiên cứu song song của nhiều tác giả khác tại Việt Nam, cung cấp cơ sở để so sánh

Trang 3

Nguyễn Công Tâm – MFB3 3

hiệu quả hoạt động của ngân hàng Việt Nam so với các nước trong khu vực Đông Nam Á

Theo đó, tác giả đã chọn đề tài “Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng các nước Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” cho

luận văn Thạc sĩ của mình

Nghiên cứu này sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với kỹ thuật hồi quy bảng để kiểm định các giả thuyết đặt ra và xây dựng nên 2 mô hình hồi quy tuyến tính thể hiện mức độ ảnh hưởng của các biến được chọn lên ROA và ROE của ngân hàng

II VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu tập trung tìm hiểu các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động, cụ thể là khả năng sinh lợi, của hệ thống ngân hàng các nước trong khu vực Đông Nam

Á, đồng thời so sánh một cách tổng quát quy mô, sự minh bạch, mức độ rủi ro và hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam so với các nước trong khu vực trong trên cơ sở Bộ chỉ số lành mạnh tài chính do IMF xây dựng và ban hành Từ đó, tác giả

sẽ rút ra bài học kinh nghiệm cần thiết cho Việt Nam

III CÂU HỎI VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Câu hỏi nghiên cứu

 Quy mô, sự minh bạch, mức độ rủi ro và hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam như thế nào khi so sánh với các nước trong khu vực?

 Những yếu tố nào tác động đến khả năng sinh lợi của hệ thống ngân hàng các

nước trong khu vực? Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này ra sao?

Bài học kinh nghiệm nào cần rút ra cho Việt Nam?

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 4

Nguyễn Công Tâm – MFB3 4

 Thứ nhất, phân tích và so sánh một cách tổng quan quy mô, sự minh bạch, mức

độ rủi ro và hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam so với các nước trong khu vực thông qua các chỉ số ngân hàng cơ bản

 Thứ hai, xác định được các yếu tố tác động và mức độ tác động của các yếu tố

đó đến hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng các nước khu vực Đông Nam Á

 Thứ ba, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Để nghiên cứu các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng các nước trong khu vực Đông Nam Á, tác giả sử dụng nhóm chỉ số cốt lõi cho các tổ chức nhận tiền gửi trong bộ chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn IMF làm nền tảng Nhóm chỉ số này cũng được sử dụng để so sánh hệ thống ngân hàng Việt Nam với các nước trong khu vực Ngoài ra, các chỉ số kinh tế vĩ mô cũng được sử dụng trong nghiên cứu này

Các nước được nghiên cứu bao gồm: Phillipines, Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan

Giai đoạn nghiên cứu: 2000-2011

1 Cơ sở lý thuyết về khả năng sinh lợi của ngân hàng

Các nghiên cứu về khả năng sinh lợi của ngân hàng xuất hiện từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước, cơ bản dựa trên 2 giả thuyết: giả thuyết quyền lực thị trường (MP – Market Power) và giả thuyết cấu trúc hiệu quả (ES– Efficient Structure) (Athanousoglou, 2006)

Giả thuyết MP, mà đôi khi còn được gọi là giả thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (SCP, Structure – Conduct - Performance), khẳng định rằng quyền lực thị trường gia tăng mang lại lợi nhuận độc quyền Nó cho rằng cấu trúc của thị trường quyết định hành vi của công ty và rằng hành vi quyết định kết quả trên thị trường, ví

Trang 5

Nguyễn Công Tâm – MFB3 5

dụ như khả năng sinh lợi, hiệu quả, tiến bộ về kỹ thuật và tăng trưởng Đặc biệt, nhiều ngành có sự tập trung cao tạo ra những hành vi dẫn đến kết quả kinh tế nghèo nàn, đặc biệt là làm giảm sản lượng và hình thành giá cả độc quyền Theo đó, giả thuyết SCP lập luận rằng thị trường ngân hàng càng tập trung thì lãi suất cho vay càng cao

và lãi suất huy động càng thấp vì mức độ cạnh tranh bị giảm đi Một trường hợp đặc biệt của giả thuyết MP là giả thuyết quyền lực thị trường tương đối (RMP – Relative Market Power) gợi ý rằng các công ty có thị phần lớn và các sản phẩm khác biệt có thể thực hiện quyền lực thị trường và kiếm lợi nhuận không cạnh tranh (Berger, 1995a) Chẳng hạn như một số ngân hàng lớn với ưu thế thương hiệu và chất lượng sản phẩm của mình có thể tăng giá sản phẩm, dịch vụ và kiếm được lợi nhuận nhiều hơn Nghiên cứu theo lý thuyết SCP về hiệu suất các ngân hàng về tổng quát có thể được chia thành hai nhóm theo các biện pháp đo lường hiệu suất được sử dụng Nhóm đầu tiên sử dụng một số biện pháp đo lường giá cả một số sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cụ thể để nắm bắt được hiệu suất của ngân hàng, trong khi thứ hai sử dụng một thước đo khả năng sinh lợi, chẳng hạn như khả năng sinh lợi trên tài sản hoặc vốn chủ

sở hữu Tuy nhiên, sử dụng mức giá của một hay vài sản phẩm ngân hàng duy để đo lường hiệu suất có thể bị sai lệch do tính chất đa sản phẩm của một ngân hàng Biện pháp khả năng sinh lợi thì có thể cung cấp nhiều thông tin hơn, nhưng cũng có thể giải thích khó khăn hơn vì sự phức tạp của các thủ tục kế toán cần phải có (Al-Muharrami và Matthews, 2009)

Cũng theo Al-Muharrami và Matthews (2009), một giả thuyết khác là cấu trúc hiệu quả (ES) xuất hiện từ sự chỉ trích giả thuyết SCP Giả thuyết ES mặc nhiên cho rằng mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường và hiệu suất công ty được xác định bởi hiệu suất của công ty, hay nói cách khác, hiệu suất của công ty tạo nên cấu trúc thị trường Các công ty với trình độ quản lý cao hoặc công nghệ sản xuất hiện đại có chi phí thấp hơn và do đó đạt lợi nhuận cao hơn Giả thuyết ES thường được đề xuất theo hai hướng tiếp cận khác nhau, tùy thuộc vào loại hiệu suất được xem xét Ở hướng tiếp cận theo hiệu quả X (X-Efficiency), các công ty hiệu quả hơn thường có chi phí thấp, khả năng sinh lợi cao và thị phần lớn hơn, bởi vì họ có một khả năng vượt trội trong

Trang 6

Nguyễn Công Tâm – MFB3 6

việc quản lý và giảm thiểu chi phí sản xuất ở bất kỳ sản lượng đầu ra nào Đối với hướng tiếp cận hiệu quả quy mô (Scale-Efficiency), mối quan hệ được mô tả ở trên được giải thích là do thực tế nhiều công ty nhờ quy mô lớn hơn có khả năng sản xuất với chi phí gần hơn với điểm chi phí trung bình tối thiểu, tức chi phí thấp hơn, và do

đó đạt được lợi nhuận cao hơn là nhờ vào tính kinh tế theo quy mô

Bên cạnh 2 giả thuyết trên thì lý thuyết về danh mục đầu tư cân bằng (Balanced Porfolio Theory) cũng đã được sử dụng để cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn ]trong việc nghiên cứu về khả năng sinh lợi ngân hàng (Nzongang và Atemnkeng, 2006) Lý thuyết danh mục đầu tư cân bằng, đôi khi được gọi là lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại, cho rằng nhà đầu tư có thể tối thiểu hóa rủi ro thị trường cho một mức lợi nhuận kỳ vọng thông qua việc tạo ra danh mục đầu tư đa dạng hóa Trong thực tế,

nó tìm cách để đảm bảo rằng các khoản đầu tư được nắm giữ trong cùng một tài khoản không phải cùng thay đổi (tăng/giảm) theo một mô hình hay chiều hướng giống nhau Hiệu quả tổng thể của việc đa dạng hóa này là để giảm thiểu biến động của lợi nhuận kỳ vọng Theo đó, việc nắm giữ tối ưu từng tài sản trong danh mục đầu tư đa dạng là một hàm của các quyết định về chính sách được xác định bởi một số yếu tố như tỷ suất lợi nhuận trên toàn bộ tài sản trong danh mục đầu tư, rủi ro gắn liền với quyền sở hữu của mỗi tài sản tài chính và kích thước của danh mục đầu tư (Agu, 1992) Điều đó ngụ ý rằng việc đa dạng hóa danh mục đầu tư và các thành phần danh mục đầu tư mong muốn của các ngân hàng thương mại là kết quả của các quyết định của ban quản trị ngân hàng (Nzongang và Atemnkeng, 2006)

Theo đó, nhiều nghiên cứu đã đựa dựa vào các giả thuyết và lý thuyết trên để giới thiệu một số biến hữu ích để đưa vào trong các mô hình khả năng sinh lợi của các ngân hàng Chúng ta sẽ nghiên cứu về điều này ở phần sau

2 Sơ lược một số nghiên cứu trước

Có rất nhiều nghiên cứu trước đây về các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi ngân hàng ở nhiều khu vực và quốc gia trên thế giới Kết quả của những nghiên cứu cho rằng các yếu tố quyết định khả năng sinh lợi ngân hàng khác nhau giữa các quốc

Trang 7

Nguyễn Công Tâm – MFB3 7

gia và giữa các vùng trên thế giới Chúng ta sẽ tìm hiểu vài nghiên cứu thực nghiệm trong khoảng thời gian gần đây

2.1 Nghiên cứu của Athanasoglou và các tác giả (ctg.) (2006)

Mục đích của nghiên cứu này là để kiểm tra khả năng sinh lời của ngân hàng dựa trên tác động của các yếu tố nội tại, yếu tố ngành và yếu tố kinh tế vĩ mô, bằng cách sử dụng một bảng dữ liệu không cân bằng của các tổ chức tín dụng khu vực Đông Nam châu Âu (SEE) trong giai đoạn 1998-2002

Theo đó, nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy bội để thực hiện mục tiêu trên Tác giả đã sử dụng 7 yếu tố bên trong bao gồm Thanh khoản, Rủi ro tín dụng, Vốn, Quản trị chi phí, Quy mô, Sở hữu nước ngoài, Thị phần; 2 biến ngành: Chỉ số tái cấu trúc, Chỉ số Herfindahl-Hirschman; 2 biến vĩ mô: Lạm phát và GDP bình quân đầu người, để đánh giá tác động của chúng đến khả năng sinh lợi ngân hàng, đo lường bằng ROA hoặc ROE

Các kết quả ước lượng cho thấy rằng, ngoài tính thanh khoản ra thì tất cả các yếu tố nội tại ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh lợi ngân hàng Một kết quả quan trọng khác là mức độ tập trung có ảnh hưởng tích cực, cung cấp bằng chứng hỗ trợ cho giả thuyết Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả (SCP) Ngược lại, một mối quan hệ tích cực giữa việc tái cấu trúc ngân hàng và khả năng sinh lợi đã không được tìm thấy Đối với các biến kinh tế vĩ mô, trong khi lạm phát tác động mạnh mẽ thì GDP bình quân đầu người lại không có tác động đến khả năng sinh lợi ngân hàng

2.2 Nghiên cứu của Sufian và Chong (2008)

Mục tiêu của nghiên cứu này là để khảo sát các yếu tố quyết định đến lợi nhuận ngân hàng tại Philippines bằng cách sử dụng dữ liệu thứ cấp từ các bảng báo cáo tài chính hàng năm của các ngân hàng trong giai đoạn 1990-2005 và các chỉ số kinh tế vĩ mô được thu thập từ nguồn dữ liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF

Theo đó, nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy bội để khào sát tác động của

5 yếu tố bên trong bao gồm Quy mô, Rủi ro tín dụng, Mức độ đa dạng hóa thu nhập,

Trang 8

Nguyễn Công Tâm – MFB3 8

Quản trị chi phí và Mức độ an toàn vốn; và 4 biến vĩ mô: Tăng trưởng kinh tế, Tăng trưởng cung tiền, Lạm phát và Mức vốn hóa thị trường lên khả năng sinh lợi ngân hàng, đo lường bằng ROA

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng Quy mô, Rủi ro tín dụng và Chi phí hoạt động tác động ngược chiều đến lợi nhuận ngân hàng, trong khi Thu nhập ngoài lãi và Mức độ an toàn vốn có tác động cùng chiều Trong suốt giai đoạn nghiên cứu, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng lạm phát tác động ngược chiều đến lợi nhuận ngân hàng, trong khi tác động của Tăng trưởng kinh tế, Tăng trưởng cung tiền

và Mức vốn hóa thị trường chứng khoán không đáng kể đủ để giải thích cho sự thay đổi trong lợi nhuận ngân hàng

2.3 Nghiên cứu của Gul và ctg (2011)

Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm điều tra sự tác động của các yếu tố bên trong đặc trưng và các chỉ số kinh tế vĩ mô đến khả năng sinh lợi của hệ thống ngân hàng, với bộ dữ liệu của 15 NHTM lớn nhất Pakistan trong giai đoạn 2005-2009 Bằng phương pháp Tổng bình phương bé nhất, các tác giả đã điều tra tác động của Tài sản, Vốn vay, Vốn chủ sở hữu, Tiền gửi, Tăng trưởng kinh tế, Lạm phát và Mức vốn hóa thị trường lên các chỉ số khả năng sinh lợi chính: lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), lợi nhuận trên vốn sử dụng (ROCE) và lãi ròng biên (NIM) một cách riêng biệt

Kết quả nghiên cứu cho rằng cả các yếu tố đặc trưng bên trong và bên ngoài đều là những yếu tố quyết định đến khả năng sinh lợi ngân hàng ở Pakistan Những ngân hàng có Vốn chủ sở hữu, Tổng tài sản, Khoản cho vay, Lượng tiền gửi và Mức vốn hóa thị trường lớn hơn và khi Tăng trưởng GDP và Lạm phát cao hơn sẽ được xem như an toàn hơn và do đó có lợi thế để tạo ra lợi nhuận cao hơn Giả thuyết 1 cho rằng các yếu tố kinh tế vi mô có tác động đáng kể tới khả năng sinh lợi Trong khi đó, giả thuyết 2 cho rằng các yếu tố kinh tế vĩ mô bên ngoài ngân hàng có tác động đáng

kể đến khả năng sinh lợi Và kết quả đã cho thấy rằng cả hai giả thuyết đều được chấp nhận và có tác động đáng kể đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng tại Pakistan

Trang 9

Nguyễn Công Tâm – MFB3 9

2.4 Nghiên cứu của Said và Tumin (2011)

Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm xác định mức độ đóng góp của các yếu

tố quyết định khả năng sinh lợi đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Malaysia và Trung Quốc Để thực hiện mục tiêu trên, các tác giả đã sử dụng báo cáo tài chính năm của 4 ngân hàng thương mại nhà nước tại Trung Quốc và 9 NHTM tại Malaysia từ bộ dữ liệu ngân hàng trong giai đoạn 2001-2007

Theo đó, để thực hiện mục tiêu trên, nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy bội Các yếu tố được tác giả sử dụng bao gồm 5 yếu tố bên bên trong: Thanh khoản, Tín dụng, Vốn, Chi phí hoạt động, Quy mô; và 3 biến kiểm soát vĩ mô: GDP, Tỷ lệ lạm phát và Lãi suất để đánh giá ảnh hưởng của chúng đến biến phụ thuộc là hiệu suất của ngân hàng, đo lường bằng ROAE và ROAA

Kết quả:

Khi đo lường hiệu suất ngân hàng bằng ROAE:

• Đối với Malaysia: chỉ có duy nhất chỉ số tín dụng góp phần đáng kể (ngược chiều) vào hiệu suất của các ngân hàng thương mại, với độ tin cậy 5% Điều này cho thấy chỉ số tín dụng càng cao thì khả năng sinh lợi càng thấp

• Đối với Trung Quốc: chỉ số vốn và chỉ số hoạt động góp phần đáng kể vào hiệu suất của các ngân hàng thương mại, với độ tin cậy 10% Điều này cho thấy không như các ngân hàng tại Malaysia, sức mạnh của vốn và chi phí hoạt động tác động đáng kể tới hiệu suất của các ngân hàng tại Trung Quốc

Khi đo lường hiệu suất ngân hàng bằng ROAA:

• Đối với Malaysia: chỉ số tín dụng, chỉ số vốn và chỉ số hoạt động ảnh hưởng đến hiệu suất của các ngân hàng thương mại, với độ tin cậy 5% Chỉ số vốn tác động cùng chiều trong khi 2 chỉ số còn lại tác động ngược chiều

• Đối với Trung Quốc: tác động ngược chiều của chỉ số tín dụng và chỉ số hoạt động cũng đúng đối với Trung Quốc Tuy nhiên, ảnh hưởng của chỉ số vốn lại không được tìm thấy

Trang 10

Nguyễn Công Tâm – MFB3 10

Trong cả 2 trường hợp, chỉ số thanh khoản và quy mô đều không có tác động đáng kể đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại tại cả Malaysia và Trung Quốc

Tóm lại, như ta đã thấy từ các nghiên cứu ở trên và nhiều nghiên cứu khác, có rất nhiều yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng, có thể phân loại chúng thành hai nhóm: nhóm các yếu tố bên trong và nhóm các yếu tố bên ngoài Nếu chi tiết hơn thì có thể phân tiếp các yếu tố bên ngoài thành 2 nhóm nhỏ: nhóm các yếu tố ngành và nhóm các yếu tố vĩ mô

3 Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi ngân hàng

Các yếu tố bên trong:

3.1 Quy mô ngân hàng và tác động của nó đến khả năng sinh lợi ngân hàng

Quy mô ngân hàng thường được sử dụng để xem xét tính kinh tế theo quy mô trong ngành ngân hàng Nó kiểm soát sự khác biệt chi phí sản phẩm và sự đa dạng hóa rủi ro theo quy mô của các tổ chức tài chính Gul, Irshad và Zaman (2011) tìm thấy bằng chứng cho rằng quy mô tác động cùng chiều đến khả năng sinh lợi ngân hàng,

cụ thể là ngân hàng có quy mô lớn sẽ có ROA cao hơn Olweny và Shipho (2011) cũng tìm thấy tác động tích cực của quy mô lên khả năng sinh lợi của các ngân hàng Trong khi đó, Athanasoglou và các tác giả (2005), Said và Tumin (2011) lại không tìm thấy bằng chứng nào về tác động của quy mô lên khả năng sinh lợi của ngân hàng

3.2 An toàn vốn và tác động của nó đến khả năng sinh lợi ngân hàng

Mức độ an toàn vốn thể hiện tỉ lệ vốn tự có so với tổng tài sản để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng Các hoạt động của ngân hàng càng rủi ro thì càng cần tỉ

lệ vốn tự có cao hơn để đảm bảo hoạt động và bù đắp kịp thời cho những rủi ro trên Thước đo mức độ an toàn vốn của các ngân hàng hiện nay là tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu (hệ số CAR) Tỉ lệ này thường được dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính toàn cầu Bằng tỉ lệ này người ta có thể xác định được khả năng của ngân hàng thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành Nói cách khác, ngân hàng nào đảm bảo được tỉ lệ này tức là nó đã tự tạo ra

Trang 11

Nguyễn Công Tâm – MFB3 11

một khả năng chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ cho những người gửi tiền Chính vì lý do trên, các nhà quản lý ngành ngân hàng các nước luôn xác định rõ và giám sát các ngân hàng phải duy trì một tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu Hiệp định Basel III đang duy trì tỉ lệ này ở mức 8% trong khi ở Việt Nam tỉ lệ này hiện đang là 9% Các nghiên cứu của Berger (1995), Olweny và Shipho (2011) cho thấy yếu tố an toàn vốn có tác động tích cực đến khả năng sinh lợi của các NHTM

cổ phần tại Mỹ và Kenya Athanasoglou và tác giả (2005) cũng cho rằng các ngân hàng có tình trạng nguồn vốn an toàn có thể theo đuổi nhiều cơ hội kinh doanh hiệu quả hơn, đồng thời có nhiều thời gian cũng như sự linh hoạt để đối phó với những vấn

đề phát sinh hay tổn thất bất ngờ về vốn, do đó đạt khả năng sinh lợi cao hơn

3.3 Chất lượng tài sản có và tác động của nó đến khả năng sinh lợi ngân hàng

Quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản có (thể hiện trên bảng cân đối kế toán) quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Chất lượng tài sản có là chỉ tiêu tổng hợp nói lên chất lượng quản lý, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời và triển vọng bền vững của một ngân hàng Chất lượng tài sản kém và thanh khoản yếu là 2 yếu tố hàng đầu dẫn đến sự đổ vỡ của ngân hàng Thông thường chất lượng tài sản kém là do sự quản lý lỏng lẻo trong quá trình cho vay, cả hiện tại lẫn trong quá khứ Phần lớn rủi ro trong hoạt động ngân hàng đều tập trung ở phía tài sản của nó, nên cùng với việc đảm bảo có đủ vốn thì vấn đề nâng cao chất lượng tài sản có là yếu tố quan trọng đảm bảo cho ngân hàng hoạt động an toàn Olweny và Shipho (2011) đã chứng minh rằng chất lượng tài sản kém sẽ có một sự tác động rất mạnh mẽ theo chiều hướng tiêu cực đến khả năng sinh lợi của các NHTM tại Kenya Nghiên cứu tại Malaysia và Trung Quốc của Said và Tumin (2011) cũng cho kết quả tương tự

3.4 Quản trị chi phí và tác động của nó đến khả năng sinh lợi ngân hàng

Theo nhiều chuyên gia, chất lượng của công tác quản lý chính là chìa khóa thành công không chỉ riêng ngành ngân hàng mà cho rất nhiều lĩnh vực khác Có rất nhiều thứ cần quản lý, trong đó việc kiểm soát chi phí hoạt động là một yếu tố liên quan chặt chẽ đến khái niệm quản lý hiệu quả và là yếu tố quyết định đến khả năng

Trang 12

Nguyễn Công Tâm – MFB3 12

sinh lợi ngân hàng Molyneux và Thornton (1992) tìm thấy mối tương quan thuận giữa chi phí hoạt động và khả năng sinh lợi ngân hàng Trong khi các nghiên cứu khác của Olweny và Shipho (2011) hay Athanasoglou và ctg (2005) thì cho rằng ngân hàng nào có chi phí hoạt động càng cao thì khả năng sinh lợi càng thấp

3.5 Rủi ro tín dụng và tác động của nó đến khả năng sinh lợi ngân hàng

Rủi ro tín dụng là khả năng không chi trả được nợ của bên đi vay đối với bên cho vay khi đến hạn phải thanh toán Bất kỳ một hợp đồng cho vay nào cũng có rủi ro tín dụng và bên cho vay luôn phải chịu rủi ro khi chấp nhận một hợp đồng cho vay tín dụng Một trong những hoạt động chính của các NHTM là hoạt động tín dụng, do đó việc phòng ngừa rủi ro tín dụng là hết sức quan trọng, đòi hỏi các ngân hàng phải có khả năng phân tích, đánh giá và quản lý rủi ro hiệu quả vì nếu ngân hàng chấp nhận nhiều khoản cho vay có rủi ro tín dụng cao thì ngân hàng có khả năng phải đối mặt với tình trạng thiếu vốn hay tính thanh khoản thấp Điều này có thể làm giảm hoạt động kinh doanh thu khả năng sinh lợi của ngân hàng, thậm chí phá sản Vì thế bộ phận quản lý tín dụng và quản trị rủi ro là hai bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tổ chức của bất kỳ ngân hàng thương mại nào Nhiều nghiên cứu trước đây đều cho thấy mối tương quan nghịch giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lợi của ngân hàng, chẳng hạn các nghiên cứu của Athanasoglou và tác giả (2005) ở Hy Lạp, Sufian và Chong (2008) ở Philippines,…

3.6 Rủi ro thanh khoản và tác động của nó đến khả năng sinh lợi ngân hàng

Rủi ro thanh khoản là rủi ro lớn nhất trong số các rủi ro của ngân hàng vì nó không những đe dọa đến sự an toàn của từng NHTM mà còn có khả năng làm sụp đổ

cả hệ thống ngân hàng Rủi ro thanh khoản của ngân hàng phát sinh khi người gửi tiền

vì một lý do nào đó ào ạt rút tiền Khi đó các NHTM phải vay vốn bổ sung gấp hoạt bán tháo tài sản với giá rẻ để trả nợ tiền gửi và có thể mất khả năng thanh toán nếu tiền bán tài sản không đủ để đáp ứng Loại rủi ro thanh khoản thứ hai phát sinh khi không thể đáp ứng được nhu cầu đối với các khoản vay bất ngờ do thiếu tiền Cả hai trường hợp trên trên đều tác động một cách tiêu cực đến sức khỏe và hoạt động của

Trang 13

Nguyễn Công Tâm – MFB3 13

các NHTM Tuy nhiên, việc giữ cho thanh khoản luôn ở mức cao để giảm thiểu rủi ro thanh khoản là một hành động thiếu khôn ngoan, nó ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh lợi ngân hàng vì tốn quá nhiều chi phí cơ hội Vì vậy, việc cân đối như thế nào giữa rủi ro thanh khoản và khả năng sinh lợi của các ngân hàng là công việc thường xuyên

và tốn nhiều công sức Nhiều nghiên cứu thực tế cho thấy ngân hàng có thanh khoản kém hơn sẽ có khả năng sinh lợi cao hơn, tức tính thanh khoản tác động ngược chiều đến khả năng sinh lợi ngân hàng Đó là các nghiên cứu của Molyneux và Thornton (1992), Sufian (2011),… Trong khi Olweny và Shipho (2011) lại tìm được bằng chứng cho thấy ngân hàng nào có tính thanh khoản cao hơn sẽ đạt được khả năng sinh lợi cao hơn Trường hợp khác, Said và Tumin (2011) lại cho rằng thanh khoản không

có tác động đáng kể đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng

3.7 Chính sách lãi suất và tác động của nó đến khả năng sinh lợi ngân hàng

Trong quá trình hoạt động, các NHTM phải thường xuyên điều chỉnh, cân đối giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay sao cho hợp lý, đem lại mức khả năng sinh lợi phù hợp đồng thời vẫn giữ chân được khách hàng Chính sách lãi suất tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến khả năng sinh lợi của NHTM Mức lãi suất huy động sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí vốn trong khi tiền lãi từ hoạt động tín dụng là nguồn thu nhập chủ yếu của NHTM Nghiên cứu của Bobáková (2003) đã cho thấy khả năng sinh lợi của các NHTM chịu tác động bởi chính sách lãi suất và những nhà quản trị ngân hàng có thể điều chỉnh chính sách lãi suất để tăng khả năng sinh lợi của ngân hàng mình

3.8 Đa dạng hóa thu nhập và tác động của nó đến khả năng sinh lợi ngân hàng

Trong những năm gần đây, các NHTM ngày càng tạo ra được thu nhập từ nhiều hoạt động khác nhau chứ không còn gói gọn trong một vài hoạt động truyền thống nữa, đó gọi là sự đa dạng hóa thu nhập Khái niệm về sự đa dạng hóa thu nhập bắt nguồn từ lý thuyết danh mục đầu tư, rằng tổ chức hoặc cá nhân có thể giảm thiểu rủi ro bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình Tuy nhiên, lợi ích đến mức nào của chiến lược này vẫn còn là đề tài gây tranh cãi Những người ủng hộ thì cho

Trang 14

Nguyễn Công Tâm – MFB3 14

rằng việc đa dạng hóa sẽ đem đến nguồn thu nhập ổn định hơn và tính kinh tế theo quy mô Bên phía chống đối thì lại cho rằng việc đa dạng hóa sẽ làm gia tăng chi phí hoạt động và việc quản lý sẽ phức tạp hơn Nghiên cứu của Sufian (2011) cho thấy mối tương quan thuận giữa thu nhập phi lãi và khả năng sinh lợi của các ngân hàng tại Hàn Quốc, nghiên cứu của Oweny và Shipho (2011) cũng cho kết quả tương tự Trong khi đó, Kotrozo và Choi (2006) lại tìm thấy rằng ngân hàng nào đa dạng hóa hoạt động thì hiệu suất có xu hướng giảm so với các ngân hàng tập trung hơn vào các hoạt động của họ

3.9 Năng suất lao động và tác động của nó đến khả năng sinh lợi ngân hàng

Năng suất lao động là yếu tố quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp Năng suất lao động tăng lên thì sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí, từ đó làm tăng khả năng sinh lợi Nghiên cứu của Athanasoglou và ctg (2005) đã tìm thấy tăng trưởng năng suất có tác động tích cực và đáng kể đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng Nghiên cứu cho thấy sự tăng trưởng năng suất cao hơn làm tăng khả năng sinh lợi ngân hàng, hay nói cách khác, các ngân hàng có thể gia tăng khả năng sinh lợi của họ bằng cách cải thiện năng suất lao động thông qua việc tuyển dụng lao động chất lượng cao và giảm thiểu tổng số lao động

3.10 Trình trạng công nghệ thông tin và tác động của nó đến khả năng sinh lợi ngân hàng

Trong những năm gần đây, việc các NHTM đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp tiếp cận những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại Công nghệ thông tin là yếu tố đóng vai trò nòng cốt, là nhân tố tạo dựng một nền móng vững chắc giúp các ngân hàng đứng vững trong thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt Ngân hàng nào được trang bị tốt về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và chịu khó cập nhật công nghệ mới thường xuyên thì năng lực cạnh tranh và khả năng chiếm thị phần sẽ tăng lên đáng kể, giảm bớt được chi phí giao dịch, từ đó sẽ làm gia tăng khả năng sinh lợi

Sự gia tăng khả năng sinh lợi ròng do có được lợi thế chi phí và lợi thế cạnh tranh khi

Trang 15

Nguyễn Công Tâm – MFB3 15

ngân hàng tập trung đầu tư vào công nghệ thông tin đã được chứng minh qua nghiên cứu của Porter và Millar (1985)

Các yếu tố bên ngoài:

3.11 Thị phần và tác động của nó lên khả năng sinh lợi ngân hàng

Giả thuyết quyền lực thị trường tương đối (RMP – Relative Market Power) gợi

ý rằng các công ty có thị phần lớn và các sản phẩm khác biệt có thể thực hiện quyền lực thị trường và kiếm lợi nhuận không cạnh tranh (Berger, 1995a) Các ngân hàng với ưu thế thương hiệu và thị phần lớn có thể tăng giá sản phẩm, dịch vụ và thu được nhiều lợi nhuận hơn Athanasoglou và ctg (2006), Kosak và Cok (2008) đều tìm thấy tác động cùng chiều của thị phần lên khả năng sinh lợi của ngân hàng các nước Đông Nam châu Âu Trong khi đó, nghiên cứu của Guru và ctg (2002) tại Malaysia lại không tìm thấy bằng chứng cho thấy có mối quan hệ giữa thị phần và khả năng sinh lợi của ngân hàng

3.12 Mức độ tập trung thị trường và tác động của nó đến khả năng sinh lợi ngân hàng

Căn cứ vào giả thuyết quyền lực thị trường (MP), thị trường ngân hàng càng tập trung thì mức độ cạnh tranh càng giảm đi, và các ngân hàng với tính độc quyền cao có thể kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Nghiên cứu thực nghiệm của Nzongang và Attemnkeng (2006) đã cho thấy tác động cùng chiều của mức độ tập trung thị trường lên khả năng sinh lợi của các ngân hàng, kết quả trên đã ủng hộ cho giả thuyết SCP đối với thị trường ngân hàng ở Cameroon Athanosoglou và ctg (2006) cũng tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa mức độ tập trung và khả năng sinh lợi ngân hàng các nước Đông Nam Âu, đo lường bằng ROA

3.13 Lạm phát và tác động của nó đến khả năng sinh lợi ngân hàng

Khi lạm phát trong nền kinh tế tăng cao, chẳng những lợi nhuận của các doanh nghiệp mà cả lợi nhuận của ngân hàng cũng bị giảm sút Để đối phó với tình trạng lạm phát cao, thông thường các chính sách tài chính và tiền tệ thắt chặt sẽ được sử

Trang 16

Nguyễn Công Tâm – MFB3 16

dụng, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến quy mô và hiệu quả huy động vốn của ngân hàng, làm tăng chi phí vốn của ngân hàng Bên cạnh đó, lạm phát cao đẩy lãi suất gia tăng, doanh nghiệp kinh doanh khó khăn hơn nên khả năng trả nợ ngân hàng cũng giảm, tức nợ xấu ngân hàng có xu hướng gia tăng Cuối cùng, lợi nhuận của ngân hàng giảm sút Đa phần các nghiên cứu thực nghiệm tìm thấy tác động ngược chiều của lạm phát lên khả năng sinh lợi của ngân hàng, đó là các nghiên cứu của Molyneux

và Thornton (1992), Sufian và Chong (2008), Tuy nhiên, Athanosoglou và ctg (2006), Vong và Chan (2006) lại tìm thấy bằng chứng cho rằng lạm phát tác động cùng chiều đến khả năng sinh lợi ngân hàng tại các nước Đông Nam châu Âu và Ma Cau Họ cho rằng khi lạm phát cao, thu nhập của ngân hàng sẽ tăng nhanh hơn chi phí, và do đó lợi nhuận gia tăng

3.14 Tăng trưởng kinh tế và tác động của nó đến khả năng sinh lợi ngân hàng

Thông thường, khi nền kinh tế tăng trưởng cao, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sáng sủa hơn, do đó, khả năng trả nợ ngân hàng tăng lên làm giảm rủi ro tín dụng Bên cạnh đó, kinh tế tăng trưởng tốt khiến nhu cầu nhu cầu tín dụng tăng cao, nguồn tín dụng được quay vòng liên tục Những lý do trên khiến lợi nhuận ngân hàng gia tăng khi nền kinh tế tăng trưởng tốt, hay nói cách khác, do lĩnh vực ngân hàng khá nhạy cảm với sự phát triển chung của nền kinh tế nên khả năng sinh lợi của ngân hàng chịu sự tác động cùng chiều từ sự tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu của Guru và ctg (2002), Gul, Irshad và Zaman (2011) tìm thấy tác động cùng chiều của tăng trưởng kinh tế lên khả năng sinh lợi của ngân hàng Trong khi đó, Vong và Chan (2006), Sufian và Chong (2008) lại không tìm ra bằng chứng nào cho thấy tăng trưởng kinh tế có tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng tại Macao

và Philippines

3.15 Lãi suất và tác động của nó đến khả năng sinh lợi ngân hàng

Ramlall (2009) cho rằng tác động của lãi suất lên lợi nhuận ngân hàng chia thành hai kênh riêng biệt Thứ nhất, sự gia tăng mức lãi suất làm tăng thu nhập của ngân hàng dựa trên những tài sản mới Tuy nhiên, tốc độ điều chỉnh thu nhập là một

Trang 17

Nguyễn Công Tâm – MFB3 17

hàm của tốc độ điều chỉnh lãi suất Thứ hại, tác động trên xoay quanh lượng dư nợ cho vay và các chứng khoán nắm giữ Thật vậy, trong trường hợp lãi suất tăng, các ngân hàng ưu tiên tập trung vốn để cho vay nhiều hơn là đầu tư vào các chứng khoán thanh khoản Trong khi Molyneux và Thornton (1992) tìm thấy mối quan hệ cùng chiều thì Naceur (2003), Ramlall (2009) không tìm thấy mối quan hệ giữa lãi suất và

khả năng sinh lợi ngân hàng

3.16 Sự phát triển của thị trường chứng khoán và tác động của nó đến khả năng sinh lợi ngân hàng

Ở các nước phát triển, thị trường chứng khoán là nơi huy động vốn rất hiệu quả, không chỉ cho các ngân hàng mà còn cả với những doanh nghiệp khác Thị trường chứng khoán càng phát triển thì ngân hàng càng dễ dàng hơn trong việc tăng vốn để phục vụ cho các mục tiêu hoạt động và phát triển của mình Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán càng phát triển thì mức độ minh bạch thông tin càng cao, giúp ngân hàng nhanh chóng quản lý và cập nhật thông tin tài chính cần thiết của các doanh nghiệp, đây là điều hết sức quan trọng trong việc ra quyết định cho vay, giúp giảm thiểu rủi ro tín dụng và nâng cao khả năng sinh lợi cho ngân hàng Nghiên cứu của Sufian (2011) tại Hàn Quốc đã tìm thấy tác động cùng chiều của mức độ phát triển của thị trường chứng khoán lên khả năng sinh lợi của các ngân hàng, cho thấy trong giai đoạn nghiên cứu, thị trường chứng khoán Hàn Quốc là thị trường tương đối phát triển Các nghiên cứu khác của Naceur (2003), Sufian và Chong (2008), Gul và ctg (2011) cũng cho kết quả tương tự

Tóm lại, có tất nhiều yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi ngân hàng Chiều hướng và mức độ tác động của từng yếu tố thay đổi theo từng khu vực, từng quốc gia, từng giai đoạn nghiên cứu

Ngày đăng: 05/01/2022, 16:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. BSC - Công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (2011), “Báo cáo cập nhật ngành ngân hàng 6T.2011”, có thể download từ:http://www.bsc.com.vn/Reports/8275/bao-cao-cap-nhat-nganh-ngan-hang-6t-2011.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo cập nhật ngành ngân hàng 6T.2011
Tác giả: BSC - Công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam
Năm: 2011
2. Hoàng Trọng - Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), “Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS”, nhà xuất bản Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng - Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: nhà xuất bản Hồng Đức
Năm: 2008
3. Lê Thu Hằng – Đỗ Thị Bích Hồng (2010), “Định vị hệ thống ngân hàng Việt Nam so với các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới”, có thể tham khảo trên trang: http://www.sbv.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định vị hệ thống ngân hàng Việt Nam so với các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới
Tác giả: Lê Thu Hằng – Đỗ Thị Bích Hồng
Năm: 2010
4. Nguyễn Minh Kiều (2011), “Nghiệp vụ ngân hàng thương mại”, nhà xuất bản Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ ngân hàng thương mại”
Tác giả: Nguyễn Minh Kiều
Nhà XB: nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2011
5. Nguyễn Đức Tú (2010), “Đôi điều cần biết về mô hình Camels”, hiện có tại: http://www.vnba.org.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=6980&Itemid=134 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều cần biết về mô hình Camels
Tác giả: Nguyễn Đức Tú
Năm: 2010
6. SBV - Ngân hàng nhà nước Việt Nam, “Bộ chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn IMF”, có thể download từ:http://www.sbv.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn IMF
7. VCBS - Công ty chứng khoán Vietcombank (2011), “Báo cáo ngành ngân hàng 2010”, có thể download từ:http://www.vcbs.com.vn/Research/Report.aspx?report_type=2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo ngành ngân hàng 2010
Tác giả: VCBS - Công ty chứng khoán Vietcombank
Năm: 2011
8. Vũ Đình Ánh (2012), “Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng Việt Nam”, hiện có tại: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/kinh-te-thi-truong- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng Việt Nam
Tác giả: Vũ Đình Ánh
Năm: 2012
1. Al-Muharrami, S. and Matthews, K. (2009) “Market Power versus Efficient- Structure in Arab GCC Banking”, Cardiff Economics Working Papers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Market Power versus Efficient-Structure in Arab GCC Banking”
2. Athanasoglou, P., P., Brissimis, S., N. and Delis, M., D. (2005), “Bank specific, industry specific and macroeconomic determinants of bank profitability”, Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, Vol. 18, No Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bank specific, industry specific and macroeconomic determinants of bank profitability”, "Journal of International Financial Markets, Institutions and Money
Tác giả: Athanasoglou, P., P., Brissimis, S., N. and Delis, M., D
Năm: 2005
3. Athanasoglou, P., P., Delis, M., D. and Staikouras, C., K. (2006), “Determinants of bank profitability in the South Eastern European region”, MPRA Paper No.10274 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of bank profitability in the South Eastern European region
Tác giả: Athanasoglou, P., P., Delis, M., D. and Staikouras, C., K
Năm: 2006
4. Berger, A., N. (1995), “The Relationship Between Capital And Earnings In Banking”, Journal of Money, Credit and Banking, vol.27, No.2, pages 432-456 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Relationship Between Capital And Earnings In Banking”, "Journal of Money, Credit and Banking
Tác giả: Berger, A., N
Năm: 1995
5. Berger, A., N. (1995a). “The Profit-Structure Relationship in Banking: Test of Market-Power and Efficient-Structure Hypotheses,” Journal of Money, Credit and Banking, vol.27, pages 404-431 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Profit-Structure Relationship in Banking: Test of Market-Power and Efficient-Structure Hypotheses,” "Journal of Money, Credit and Banking
6. Bobáková, I.V (2003), “Raising The Profitability Of Commercial Banks”, BIATEC, vol.XI, pages 21-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Raising The Profitability Of Commercial Banks”, "BIATEC
Tác giả: Bobáková, I.V
Năm: 2003
7. Gul, S., Irshad, F. and Zaman, K. (2011), “Factors Affecting Bank Profitability in Pakistan”, The Romanian Economic Journal Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factors Affecting Bank Profitability in Pakistan”
Tác giả: Gul, S., Irshad, F. and Zaman, K
Năm: 2011
8. Guru, B., K., Staunton, J. and Shanmugam, B. (2002), “Determinants Of Commercial Bank Profitability In Malaysia”, University Multimedia Working Papers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants Of Commercial Bank Profitability In Malaysia”
Tác giả: Guru, B., K., Staunton, J. and Shanmugam, B
Năm: 2002
9. International Monetary Fund (2011), “Financial Soundness Indicators (FSIs) and the IMF”, hiện có tại: https://www.imf.org/external/np/sta/fsi/eng/fsi.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Soundness Indicators (FSIs) and the IMF
Tác giả: International Monetary Fund
Năm: 2011
10. Kotrozo, J. and Choi, S. (2006), “Diversification, Bank Risk and Performance: A Cross-Country Comparison”, Working paper Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diversification, Bank Risk and Performance: A Cross-Country Comparison”
Tác giả: Kotrozo, J. and Choi, S
Năm: 2006
11. Molyneux, P. and J. Thornton (1992), “Determinants Of European Bank Profitability: A Note”, Journal of Banking and Finance, Vol.16, pages 1173- 1178 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants Of European Bank Profitability: A Note”, "Journal of Banking and Finance
Tác giả: Molyneux, P. and J. Thornton
Năm: 1992
12. Nzongang, J. and Atemnkeng, J. (2006), “Market Structure and Profitability Performance in the Banking Industry of CFA countries: the Case of Commercial Banks in Cameroon”, Journal of Sustainable Development in Africa, vol.8, pages 01-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Market Structure and Profitability Performance in the Banking Industry of CFA countries: the Case of Commercial Banks in Cameroon”, "Journal of Sustainable Development in Africa
Tác giả: Nzongang, J. and Atemnkeng, J
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Top 10 tăng trưởng tài sản ngành ngân hàng - Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng các nước Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
ng Top 10 tăng trưởng tài sản ngành ngân hàng (Trang 19)
Bảng xếp hạng chỉ số lành mạnh ngân hàng và mức độ bảo vệ nhà đầu tư - Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng các nước Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng x ếp hạng chỉ số lành mạnh ngân hàng và mức độ bảo vệ nhà đầu tư (Trang 20)
Bảng hệ số CAR hệ thống ngân hàng các nước Đông Nam Á - Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng các nước Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng h ệ số CAR hệ thống ngân hàng các nước Đông Nam Á (Trang 21)
Bảng thống kê nợ xấu hệ thống ngân hàng các nước Đông Nam Á - Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng các nước Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng th ống kê nợ xấu hệ thống ngân hàng các nước Đông Nam Á (Trang 22)
Bảng thống kê ROA hệ thống ngân hàng các nước Đông Nam Á - Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng các nước Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng th ống kê ROA hệ thống ngân hàng các nước Đông Nam Á (Trang 23)
Bảng thống kê ROE hệ thống ngân hàng các nước Đông Nam Á - Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng các nước Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng th ống kê ROE hệ thống ngân hàng các nước Đông Nam Á (Trang 23)
Bảng tổng hợp các chỉ số cốt lõi cho các tổ chức nhận tiền gửi - Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng các nước Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng t ổng hợp các chỉ số cốt lõi cho các tổ chức nhận tiền gửi (Trang 25)
Bảng mô tả các biến - Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng các nước Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Bảng m ô tả các biến (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w