Tiếp theo, chúng tôi xây dựng một mô hình kinh tế lượng đơn giản xác định nguồn tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh/thành phố nhằm xác định và đánh giá vai trò của các khoản chi tiêu công đối
Trang 1BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP, TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ,
VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA Ở CÁC TỈNH/THÀNH PHỐ CỦA VIỆT NAM
TS Phạm Thế Anh†
I Lời giới thiệu
Kể từ khi tiến hành cải cách kinh tế vào cuối những năm 1980 đầu 1990 cho tới nay, Việt Nam
đã đạt được những thành tựu kinh tế đáng kể Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình đạt khá cao
so với các nước trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, bất chấp sự tăng trưởng ổn định này, Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với những thách thức trong việc đạt được mục tiêu quốc gia về tăng trưởng kinh tế trong dài hạn
Một trong những thách thức chính đó là việc duy trì sự tăng trưởng cân bằng và hội tụ về thu nhập giữa các khu vực Các khu vực đông dân và nghèo vẫn đang tụt hậu so với các khu vực giàu về tốc độ tăng trưởng kinh tế Điều này có xu hướng làm gia tăng sự bất bình đẳng và xói mòn những nỗ lực cải cách kinh tế, đồng thời gợi ý rằng các điều chỉnh tài khoá cần được thực hiện nhằm phân bổ các nguồn lực công khan hiếm theo cách tối ưu hoá tính hiệu quả của các khoản chi tiêu công, và thu hẹp khoảng cách về thu nhập giữa các vùng
Bài viết này được chia làm ba phần chính sau Trước tiên, chúng tôi khảo sát tình trạng bất bình đẳng về thu nhập giữa các tỉnh/thành phố của Việt Nam trong giai đoạn gần đây thông qua việc tính toán các chỉ tiêu về sự hội tụ/phân tán thu nhập Tiếp theo, chúng tôi xây dựng một mô hình kinh tế lượng đơn giản xác định nguồn tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh/thành phố nhằm xác định
và đánh giá vai trò của các khoản chi tiêu công đối với tăng trưởng kinh tế và sự hội tụ thu nhập giữa các tỉnh/thành phố Cuối cùng, bài nghiên cứu sẽ tóm tắt lại những kết quả của nghiên cứu, đưa ra những gợi mở chính sách, và hướng nghiên cứu trong tương lai về mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
II Đo lường bất bình đẳng thu nhập giữa các tỉnh/thành phố ở Việt Nam
1 Hai khái niệm về sự hội tụ thu nhập
Trước khi tiến hành phân tích thực trạng bất bình đẳng thu nhập, chúng ta phân biệt một cách tóm tắt hai khái niệm về sự hội tụ như trong Barro và Sala-i-Martin (1992) Khái niệm thứ nhất
về sự hội tụ, thông thường được gọi là sự hội tụ -, liên quan đến việc liệu trong một nước các tỉnh nghèo có tăng trưởng nhanh hơn các tỉnh giàu hay không Đây chính là một trong những dự đoán quan trọng của các mô hình tăng trưởng tân cổ điển như Solow (1956), Cass (1965), và Koopmans (1965), về việc các nước hoặc khu vực nghèo có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn các
Trang 2nước hoặc khu vực giàu Nếu dự đoán này là đúng thì theo thời gian, sẽ có sự hội tụ thu nhập bình quân đầu người giữa các nước hoặc giữa các khu vực
Nhân tố chính quyết định giả thuyết này đó là đặc tính lợi suất biên giảm dần của vốn trong các
mô hình tăng trưởng tân cổ điển Tức là, nếu các nước hoặc khu vực có cùng lựa chọn về tỉ lệ tiết kiệm và tiến bộ công nghệ, thì những nước hoặc khu vực nghèo – nơi có tỉ suất vốn/lao động thấp hơn – sẽ có sản phẩm biên của vốn cao hơn và do vậy, đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn trong quá trình chuyển đổi về trạng thái cân bằng dài hạn Kể từ khi xuất hiện các bài báo nổi tiếng của Barro (1991), Barro và Sala-i-Martin (1992), Sala-i-Martin (1996),… thì việc kiểm định mối quan hệ ngược chiều giữa tốc độ tăng trưởng và mức độ nghèo – đo lường theo mức thu nhập bình quân đầu người ở thời điểm ban đầu – đã trở nên phổ biến trong các nghiên cứu thực nghiệm về tăng trưởng kinh tế
Như trong Barro and Sala-i-Martin (1992), tham số phản ánh sự hội tụ, , được ước lượng dựa trên phương trình hồi quy giữa hai thời điểm bất kì t và 0 t0T sau:
0
0 0
,
, ,
T
i t T
i t i
i t
Trong đó y là mức thu nhập bình quân đầu người tại tỉnh/thành phố i, và i u là sai số ngẫu nhiên i
Các tỉnh/thành phố nghèo có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn các tỉnh/thành phố giàu nếu > 0
Nếu sự hội tụ - tồn tại thì các tỉnh/thành phố nghèo một cách tương đối hôm nay có thể không còn ở vị trí đó trong tương lai Trong khi đó, khái niệm hội tụ thứ hai, thường được gọi là sự hội
tụ - , liên quan đến sự phân tán thu nhập theo thời gian Nếu sự hội tụ - tồn tại thì sự chênh lệch về thu nhập giữa các tỉnh trong một nước sẽ giảm dần theo thời gian Sự phân tán thu nhập giữa các tỉnh/thành phố tại mỗi thời điểm có thể được tính bằng độ lệch chuẩn của thu nhập bình quân đầu người,
, 1
1
log
N
N
trong đót là trung bình mẫu của y i t,
2 Dấu hiệu thực nghiệm
Chúng tôi sử dụng thước đo tổng sản phẩm bình quân đầu người tính theo giá cố định của năm
1994 của 61 tỉnh/thành phố trong giai đoạn từ 2000-2008 để tính toán sự hội tụ β và σ ở trên Thước đo này tương đương với thước đo về tổng sản phẩm quốc nội và được báo cáo hàng năm
Trang 3bởi Tổng Cục Thống Kê (GSO) cho cho 61 tỉnh/thành phố.1 Tuy nhiên, chúng tôi loại bỏ tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu ra khỏi mẫu nhằm tránh sai lệch
Hình 1 trình bày biểu đồ về mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người trung bình giai đoạn 2000-2008 và mức thu nhập bình quân đầu người ở thời điểm năm 2000 Chúng ta thấy rằng hầu như không có mối quan hệ nào giữa hai biến số này, hệ số tương quan gần như bằng không, xấp xỉ 0,04 Biểu đồ đơn giản này cũng như kết quả ước lượng chính thức của phương trình (1) gợi ý cho chúng ta thấy rằng sự hội tụ - ở Việt Nam trong khoảng thời gian 2000-2008 là không tồn tại Hơn nữa, sự hội tụ - trình bày trong Hình 2 cũng cho thấy độ lệch chuẩn hay mức độ phân tán của thu nhập bình quân đầu người giữa các tỉnh/thành phố của Việt Nam có xu hướng tăng theo thời gian
Hình 1: Sự hội tụ β – khả năng san bằng khoảng cách thu nhập
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu của GSO
0 5 10 15 20 25 30 35
Thu nhập bình quân đầu người 2000 (log)
Trang 4Hình 2: Sự hội tụ σ – mức độ phân tán thu nhập
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu của GSO
Những dấu hiệu này cho thấy không có sự tồn tại của cả sự hội tụ - lẫn sự hội tụ - ở Việt Nam trong những năm vừa qua Các khu vực nghèo không có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn những khu vực giàu như hàm ý bởi mô hình tăng trưởng Solow Các tỉnh/thành phố giàu có thể ngày càng bỏ xa các tỉnh nghèo về thu nhập bình quân đầu người trong dài hạn Điều này có thể
là do giữa các tỉnh/thành phố có sự khác biệt lớn về tỉ lệ đầu tư, trình độ công nghệ, kĩ năng của người lao động, sự ưu đãi của thiên nhiên, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế,… và thậm chí là do sự phân bổ nguồn lực ngân sách nhà nước không hiệu quả trong việc hướng tới mục tiêu công bằng thu nhập và giảm bớt khoảng cách giàu nghèo Đồng thời, kết quả này cũng gợi ý rằng các điều chỉnh tài khoá cần được thực hiện nhằm phân bổ các nguồn lực công khan hiếm theo cách tối ưu hoá tính hiệu quả của các khoản chi tiêu, và thu hẹp khoảng cách về thu nhập giữa các vùng ở Việt Nam
Tiếp theo chúng tôi tiến hành tính toán ngũ phân vị thu nhập bình quân đầu người và biểu đồ phân bố tốc độ tăng trưởng nhằm thấy rõ hơn tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở các tỉnh/thành phố Bảng 1 trình bày ngũ phân vị mức thu nhập bình quân đầu người ở các tỉnh/thành phố của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2008 Những tính toán đơn giản cho thấy 20% số tỉnh nghèo nhất
có mức thu nhập bình quân đầu người chỉ là 2,53 triệu đồng/người/năm, bằng 1/3 thu nhập bình quân đầu người của 20% số tỉnh giàu nhất, và bằng 2/3 thu nhập bình quân đầu người của 20%
số tỉnh gần giàu nhất Ngoài ra, Bảng 1 cũng cho thấy mức tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của nhóm các tỉnh nghèo lại luôn thấp hơn tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người của các tỉnh giàu Điều này khẳng định lại sự không tồn tại của sự hội tụ β Mặc dù Việt Nam đang đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian vừa qua nhưng nhóm các tỉnh giàu đang ngày càng bỏ xa nhóm các tỉnh nghèo về mức thu nhập bình quân đầu người
0 0.5 1 1.5 2 2.5
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Trang 5Cụ thể, ngoại trừ Hà Nội, thành phố HCM và Bà Rịa Vũng Tàu, các tỉnh thành có mức thu nhập cao bao gồm Bình Dương, Đồng Nai, Hải Phòng, Đà Nẵng, và Quảng Ninh Đây là những tỉnh
có mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 7,5 triệu đồng/người/năm nhưng đồng thời cũng
có tốc độ tăng trưởng của biến số này lên tới trên 16,5%/năm trong giai đoạn 2000-2008 Đây cũng là các tỉnh/thành phố tập trung nhiều khu công nghiệp lớn, điều kiện tự nhiên ưu đãi, cũng như môi trường kinh doanh được cải thiện trong những năm qua Ngược lại, các tỉnh thành có mức thu nhập bình quân đầu người thấp như Hà Giang, Sơn La, Bắc Cạn, Lai Châu, và Bắc Giang có mức thu nhập bình quân đầu người trong giai đoạn trên chưa đến 2,5 triệu đồng/người/năm Các tỉnh này cũng có tốc độ tăng trưởng thấp tương đối so với các tỉnh khác, chỉ vào khoảng 12,4%/năm, do tụt hậu về công nghệ, kĩ năng lao động, môi trường kinh doanh cũng như do những khó khăn về điều kiện tự nhiên
Ngoài ra, và biểu đồ phân bổ mức tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người cho thấy hầu hết các tỉnh/thành phố có tốc độ tăng trưởng trung bình trong khoảng 13-17% Tuy nhiên, cũng có những tỉnh/thành phố có tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người rất thấp như Lai Châu hay Nam Định
Việc tìm hiểu nguyên nhân bất bình đẳng thu nhập giữa các tỉnh/thành phố là một thách thức lớn cho các nhà kinh tế cũng như các nhà hoạch định chính sách nhằm đưa ra những thay đổi giúp cho các tỉnh/khu vực tụt hậu phía sau tăng trưởng nhanh hơn Do vậy, tiếp theo chúng tôi sẽ cố gắng đưa ra một phân tích thực nghiệm khảo sát các nhân tố quyết định đến tăng trưởng ở các tỉnh/thành phố trong gần một thập kỉ qua Sau đó, dựa trên các kết quả thu được chúng tôi đánh giá so sánh hiện trạng của các biến giải thích cho tăng trưởng kinh tế, đặc biệt phân tích sâu đối với các biến chi tiêu ngân sách được cho là có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, theo các nhóm tỉnh/thành phố trong ngũ phân vị thu nhập bình quân đầu người Cuối cùng, bài báo sẽ cố gắng đưa ra những gợi ý thay đổi chính sách tài khóa nhằm hướng tới mục tiêu thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các tỉnh thành ở Việt Nam
Trang 6Bảng 1: Thu nhập bình quân đầu người và tăng trưởng ở các tỉnh 2000-2008
Nhóm 1 Trung bình 2.53 13.74 Nhóm 4 Trung bình 4.78 16.71
Nhóm 2 Trung bình 3.15 14.24 Nhóm 5 Trung bình 7.71 15.64
TNBQ: Thu nhập bình quân đầu người hàng năm của các tỉnh giai đoạn
2000-2008 (triệu đồng/người/năm)
Tăng trưởng: Tốc độ tăng trưởng trung bình của TNBQ (%)
Do có nguồn thu bất thường từ khai thác dầu thô nên tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu được loại bỏ khỏi mẫu nghiên cứu
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu của Tổng cục Thống kê
Nhóm 3 Trung bình 3.65 15.21
Trang 7Hình 3: Biểu đồ phân bố mức tăng trưởng 2000-2008
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu của Tổng cục Thống kê
III Nguồn tăng trưởng giữa các tỉnh/thành phố ở Việt Nam
1 Phương pháp ước lượng và số liệu
Trong phần này chúng tôi sử dụng mô hình hồi quy số liệu chéo đơn giản nhằm tìm ra các biến
số đóng vai trò quan trọng nhất đối với tăng trưởng ở các tỉnh/thành phố Việt Nam trong thời gian gần đây Các lý thuyết kinh tế chỉ ra rằng vốn vật chất, vốn con người, tiến bộ công nghệ, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, môi trường thể chế,… là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển Giống như Barro and Lee (1994), trong mô hình phân tích thực nghiệm xác định vai trò của các biến số khác nhau đối với tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người giữa các tỉnh/thành phố, các biến giải thích được sử dụng bao gồm: (i) biến phản ánh quy mô ban đầu của các tỉnh ví dụ như gdp bình quân đầu người tại thời điểm ban đầu của mẫu nghiên cứu (năm 2000) và; (ii) các biến kiểm soát ví dụ như chi tiêu ngân sách nhà nước bình quân đầu người tại các tỉnh, đầu tư trực tiếp nước ngoài bình quân đầu người, chỉ số phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các chỉ số phản ánh năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI),… Với mục tiêu tập trung phân tích vai trò của các biến chính sách tài khóa đối với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng dài hạn, thì biến chi tiêu ngân sách ở các tỉnh thành lại được chia theo chức năng đầu tư và tiêu dùng Các khoản chi tiêu đầu tư cũng được phân nhỏ theo các lĩnh vực khác nhau như giáo dục, đào tạo dạy nghề, khoa học công nghệ, giao thông,… Tương tự như vậy, chỉ số phản ánh năng lực cạnh tranh cấp tỉnh cũng được chia nhỏ theo các chỉ số thành phần nhằm xác định vai trò của mỗi chỉ số đối với tốc độ tăng trưởng thu nhập ở các tỉnh/thành phố
Do số liệu quyết toán ngân sách nhà nước ở các tỉnh/thành phố hiện chỉ có tới năm 2007 nên mô hình ước lượng được áp dụng với các số liệu trong giai đoạn 2000-2007 Các tỉnh chia tách sau năm 2004 được tính gộp lại, đồng thời ba tỉnh thành gồm Hà Nội, tp HCM, và Bà Rịa Vũng Tàu
0 5 10 15 20
Tốc độ tăng trưởng TNBQ đầu người 2000-2008
Trang 8được loại khỏi mô hình nhằm tránh sai lệch Mô tả về số liệu và nguồn được trình bày chi tiết trong Bảng 2 Phương pháp ước lượng là phương pháp hồi quy số liệu chéo đơn giản
Bảng 2: Mô tả số liệu
y TCTK Tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người hàng năm giai đoạn 2000-07 Thu nhập
bình quân đầu người được tính theo gdp/dân số
y00 TCTK Thu nhập bình quân đầu người năm 2000
fdi TCTK Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bình quân đầu người hàng năm giai đoạn 2000-07
g BTC và TCKT Tổng chi tiêu chính phủ bình quân đầu người hàng năm giai đoạn 2000-07
gi BTC và TCTK Tổng chi đầu tư của chính phủ bình quân đầu người giai đoạn 2000-07 Trong đó có
các khoản chi cơ bản sau:
gi1 Chi đầu tư an ninh quốc phòng
gi2 Chi đầu tư giáo dục & đào tạo
gi3 Chi đầu tư y tế
gi4 Chi đầu tư khoa học & công nghệ
gi5 Chi đầu tư khác
gc BTC và TCTK Tổng chi thường xuyên của chính phủ bình quân đầu người giai đoạn 2000-07 Trong
đó có các khoản chi cơ bản sau:
gc1 Chi thường xuyên an ninh quốc phòng
gc2 Chi thường xuyên giáo dục & đào tạo
gc3 Chi thường xuyên y tế
gc4 Chi thường xuyên khoa học & công nghệ
gc5 Chi thường xuyên khác
gc6 Chi trợ giá các mặt hàng chính sách
sit Chỉ số này phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và được tính toán dựa trên số liệu
của TCTK Tham khảo thêm cách tính biến này trong Phạm Thế Anh (2009)
pci VCCI & VNCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Được xây dựng bởi phòng Thương mại & Công
nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án Nâng cao Năng lực Việt Nam (VNCI) bắt đầu kể từ năm 2006 Do không có được số liệu này từ năm 2000 nên trong mô hình chỉ số này được tính là trung bình của hai năm 2006 và 2007 PCI gồm 10 chỉ số thành phần khác nhau từ pci1 đến pci10 nhằm đánh giá môi trường kinh doanh và chính sách phát triển của khu vực tư nhân ở các tỉnh/thành phố Các chỉ số này càng cao càng phản ánh môi trường kinh doanh tốt hơn Chỉ số này giúp giải thích tại sao trong cùng một quốc gia một số tỉnh/thành phố lại đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn những tỉnh/thành phố khác
pci1 VCCI & VNCI Chi phí gia nhập thị trường
pci2 VCCI & VNCI Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong việc sử dụng đất
pci3 VCCI & VNCI Tính minh bạch và tiếp cận thông tin
pci4 VCCI & VNCI Chi phí về thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước
Pci5 VCCI & VNCI Chi phí không chính thức
Pc6 VCCI & VNCI Ưu đãi đối với DNNN (Môi trường cạnh tranh)
pci7 VCCI & VNCI Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh
pci8 VCCI & VNCI Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân
pci9 VCCI & VNCI Đào tạo lao động
pci10 VCCI & VNCI Thiết chế pháp lý
Trang 92 Kết quả ước lượng
Chúng tôi thực hiện các bước hồi quy khác nhau nhằm tìm ra những biến số có khả năng giải thích nhất cho tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh/thành phố của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2007
Ban đầu, trong hồi quy (1) tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người (y), được hồi quy theo log của mức thu nhập bình quân đầu người của năm 2000 (logy00), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài bình quân đầu người (fdi), tổng chi ngân sách nhà nước bình quân đầu người (g), và chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (pci) Ngoại trừ fdi, hầu hết các biến này đều không có khả năng giải thích cho y
Do vậy, các bước tiếp theo trong hồi quy (2) và (3) chúng tôi thực hiện hồi quy y theo các biến
số thành phần của tổng chi tiêu ngân sách nhà nước bình quân đầu người g, và các biến số thành
phần của chỉ số năng lực cạnh tranh Chúng tôi thử với tất cả các biến giải thích trong Bảng 2, biến nào không có ý nghĩa sẽ được loại trừ dần Kết quả ước lượng cuối cùng được trình bày trong hồi quy (3) của Bảng 3
Bảng 3: Kết quả hồi quy đối với tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người
Số quan sát: 58
Biến giải thích Hồi quy (1) Hồi quy (2) Hồi quy (3)
log(gdp00) 0.00 (0.91)
Trong ngoặc là giá trị p_value
Bảng 4: Kiểm định sau ước lượng của hồi quy (3)
Kiểm định phương sai sai số thay đổi
F-statistic: 1.64 Prob F(6,51): 0.16 F-statistic: 0.83 Prob F(1,55): 0.38
Obs*R-squared: 9.38 Prob Chi-Square(6): 0.15 Obs*R-squared: 0.84 Prob Chi-Square(1): 0.36
Trang 10Kiểm định tự tương quan của sai số
Breusch-Godfrey LM Test
F-statistic: 0.36 Prob F(2,49): 0.70
Obs*R-squared: 0.85 Prob Chi-Square(2): 0.66
Kết quả hồi quy cho thấy biến giải thích logy00 có tham số ước lượng được là không có ý nghĩa
thống kê tại mọi mức ý nghĩa truyền thống Kết quả này khẳng định lại kết luận không có sự hội
tụ của thu nhập bình quân đầu người giữa các tỉnh/thành phố của Việt Nam Tức là những tỉnh nghèo không có khả năng tăng trưởng nhanh hơn các tỉnh giàu nhằm thu hẹp khoảng cách trong dài hạn Lý do ở đây có thể là do hàng loạt sự khác biệt về tiến bộ công nghệ, vốn con người, điều kiện tự nhiên,… giữa các tỉnh/thành phố trong cả nước mà các biến số trong mô hình không
kiểm soát được Ngoài ra, tham số ước lượng được của biến sit cũng không có ý nghĩa thống kê,
phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thế mạnh của tỉnh/thành phố chưa được thực hiện tốt để có thể tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong thời gian của mẫu nghiên cứu
Tham số ước lượng được của hai biến fdi và gi5 mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê ở mức
ý nghĩa 5% Điều này hàm ý những tỉnh/thành phố thu hút được càng nhiều dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và có các khoản đầu tư “khác” càng lớn từ ngân sách nhà nước thì đạt được tốc
độ tăng trưởng kinh tế càng cao Kết quả này là phù hợp với các lý thuyết tăng trưởng trong quá trình chuyển đổi của nền kinh tế về trạng thái cân bằng dài hạn
Tuy nhiên, ngoại trừ khoản đầu tư “khác”, các khoản đầu tư vào an ninh quốc phòng, giao thông vận tải, giáo dục & đào tạo, y tế,… từ ngân sách nhà nước đều không có ý nghĩa thống kê trong hồi quy Kết quả này cho thấy có thể là do các khoản chi đầu tư từ ngân sách nhà nước không có hiệu quả, hoặc có thể là do các khoản chi này chủ yếu được thực hiện theo hướng ưu tiên hơn cho những tỉnh có tốc độ tăng trưởng thấp
Khoản chi tiêu dùng duy nhất từ ngân sách nhà nước có ý nghĩa thống kê trong hồi quy (3) là
khoản chi trợ giá cho các mặt hàng chính sách gc6 Tham số ước lượng được mang dấu âm và có
ý nghĩa thống kê ở mức 6% Đây nhiều khả năng là do vấn đề nội sinh của mô hình và kết quả này nên được hiểu theo chiều ngược lại Tức là ở những tỉnh có tăng trưởng thu nhập thấp thì nhà nước thường xuyên phải thực hiện các khoản chi trợ giá các mặt hàng chính sách nhiều hơn nhằm giảm bớt khó khăn cho địa phương Tuy nhiên, đây cũng có thể là một bằng chứng về các khoản chi tiêu phúc lợi có thể làm giảm động cơ lao động và hướng nguồn lực vào những lĩnh vực không hiệu quả
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh tổng hợp pci không có nghĩa thống kê trong việc giải thích
cho tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh Lưu ý rằng mẫu nghiên cứu của chúng tôi là 2000-2007, tuy nhiên chỉ số này chỉ được bắt đầu thực hiện vào hai năm cuối do vậy có thể không phản ảnh chính xác môi trường kinh doanh của các tỉnh trong cả giai đoạn Hơn nữa, chỉ số tổng hợp có thể san lấp sự chênh lệch giữa các chỉ số thành phần và không phản ánh được mối tương quan