1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Về dân chủ và giáo dục: Tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăng-ghen và J.Dewey

20 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 633,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong suốt cuộc đời đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp công nhân và ước mơ về một xã hội tương lai tốt, đẹp hơn cho tất cả mọi người, Mác và Ăng-ghen đã cùng phát triển nhiều tư tưởng

Trang 1

Về dân chủ và giáo dục: Tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăng-ghen và J.Dewey

Th.S Hoàng Thị Thúy An Viện Triết học - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam Trích dẫn: Hoàng Thị Thúy An (2018), Về dân chủ và giáo dục: Tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăng-ghen và J.Dewey, ​Kỷ yếu hội thảo quốc tế Tư tưởng của C.Mác về mối quan hệ giữa công bằng xã hội với dân chủ và ý nghĩa hiện thời của nó , Vĩnh Phúc, 2018

1 Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen về giáo dục và dân chủ

C.Mác và Ph.Ăng-ghen là những nhà tư tưởng lớn của nhân loại Trong suốt cuộc đời đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp công nhân và ước mơ về một xã hội tương lai tốt, đẹp hơn cho tất cả mọi người, Mác và Ăng-ghen đã cùng phát triển nhiều tư tưởng sâu sắc, còn nguyên giá trị tới ngày hôm nay, như học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết hình thái kinh tế-xã hội, học thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp Trong những phân tích về sự hình thành xã hội giai

cấp và những mâu thuẫn nội tại của nó, Mác và Ăng-ghen từng đề cập tới tính chất của giáo

dục, nội dung giáo dục và vai trò c ​ủa nhà nước đối với giáo dục trong xã hội tư sản cận đại

Ganesha Somayaji trong​C.Mác và lý thuyết giáo dục cho biết, Mác đã bàn luận về giáo 1 dục khi phân tích sự hình thành của cơ chế lao động tiền lương, đặc biệt là lao động tiền lương của trẻ em trong xã hội tư sản Amarilio Ferreira Jr và Marisa Bitta lập luận trong ​Giáo dục từ cách tiếp cận Mác xít: tiếp cận dựa trên Mác và Gramsci , đối với Mác và Ăng-ghen, đặc điểm 2 của giáo dục không chỉ là quá trình hình thành và tái tạo tri thức, mà còn là quá trình nhân văn hóa con người, để con người trở thành một phần tất yếu của đời sống cộng đồng Tuy nhiên, đặc điểm này của giáo dục lại không thể được hiện thực hóa và thể hiện đúng mục đích của nó trong các xã hội tồn tại sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Sở hữu tư nhân làm tha hóa bản chất con

1 ​ Genesha Somayaji (no year), ​K.Marx and the theory of education​ (online), source:

http://epgp.inflibnet.ac.in/epgpdata/uploads/epgp_content/S000033SO/P000300/M014863/ET/145864398014ET.p df

Genesha Somayaji là giáo sư chuyên ngành xã hội học tại trường ĐH Goa, Ấn Độ Xem thêm về tác giả này tại http://grfdt.com/ScholarDetails.aspx?TabId=4387

2 ​ Amarillio Ferreira Jr and Marisa Bittar (2008), Education from the marxist perspective: an approach based on marx and gramsci (online) ​ , in ​Interface (Botucatu)​ vol.12 no.26 Botucatu July/Sept 2008, source:

http://www.scielo.br/scielo.php?pid=S1414-32832008000300014&script=sci_arttext&tlng=en

Amarillio Ferreira Jr và Marisa Bittar là giáo sư chuyên ngành giáo dục học tại Khoa Khoa học giáo dục, ĐH Sao Carlos, bang Sao Paolo, Brazil

Xem thêm về nhóm tác giả tại: https://www.researchgate.net/profile/Marisa_Bittar3 ​ và

https://www.researchgate.net/profile/Amarilio_Ferreira_Jr

Trang 2

người, đồng thời làm tha hóa mục đích của giáo dục Một đặc điểm khác nữa của giáo dục được

Mác và Ăng-ghen cùng quan tâm được Glenn Rikowski trong ​C.Mác và giáo dục của tương lai 3

chỉ ra, giáo dục có mối liên hệ chặt chẽ với việc làm và sản xuất xã hội, bởi việc làm trong các

công xưởng sản xuất là một hình thức giáo dục tồn tại trong xã hội tư sản Dù không thực sự thể hiện một cách có hệ thống và toàn diện những suy tư của mình về

giáo dục, nhưng rải rác trong các tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã hé lộ cho hậu

thế những ý tưởng cơ bản của mình về giáo dục, cụ thể như: Đầu tiên, ​tính chất của nền giáo dục chịu ảnh hưởng của tính chất của xã hội đương

thời, đặc biệt là sự ảnh hưởng của các quan hệ kinh tế và chính trị thống trị Trong ​Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản , C.Mác chỉ ra, trong xã hội tư bản, do nắm giữ tư liệu sản xuất nên giai cấp

tư sản đồng thời quyết định đối tượng được thụ hưởng giáo dục, thụ hưởng đến mức nào và loại

giáo dục hay tri thức nào dành cho những nhóm đối tượng nhất định Ví dụ, vì giai cấp công

nhân và con em họ là nhóm đối tượng tham gia lao động trực tiếp trong quá trình sản xuất xã

hội, loại tri thức dành cho họ chỉ nên đảm bảo nhiệm vụ lao động trong nhà xưởng Đó là những

tri thức số học và kỹ năng nghề nghiệp cụ thể, thay vì tri thức chung và tổng quát hơn của các

môn như ngôn ngữ, hình học hay địa lý, lịch sử Mác viết: “Thế nền giáo dục của các ông, chẳng phải cũng do xã hội quyết định đó sao? Chẳng phải do những quan hệ xã hội trong các

ông nuôi dạy con cái các ông, do sự can thiệp trực tiếp hay gián tiếp của xã hội thông qua nhà

trường, quyết định gì? ​Người cộng sản không bịa đặt ra tác động xã hội đối với giáo dục, họ

chỉ thay đổi tính chất của sự giáo dục ấy và kéo giáo dục ra khỏi ảnh hưởng của giai cấp thống

trị mà thôi.” 4 Tiếp nữa, ​nội dung giáo dục , theo Mác, nên bao gồm các nội dung liên quan tới trí lực,

thể lực và kỹ nghệ của thời đại, tương ứng với nền sản xuất công nghiệp để có thể phát triển con

người toàn diện Ông viết: “Giáo dục bao hàm ba điều sau: giáo dục kỹ nghệ, thể chất và trí tuệ”

3 ​ Glenn Rikowski (2004), Marx and the Education of the Future (online), in ​Policy Futures in Education​, Volume 2, Numbers 3 & 4, 2004, source: ​ http://journals.sagepub.com/doi/pdf/10.2304/pfie.2004.2.3.10 Glenn Rikowski là Tiến sĩ, học giả nghiên cứu tại Khoa Khoa học xã hội và chính trị trị học, ĐH Lincoln, Anh Quốc Xem thêm về tác giả này tại: https://www.researchgate.net/profile/Glenn_Rikowski 4 C.Mác và Ph.Ăng-ghen, ​C.Mác và Ph.Ănghen toàn tập , ​tập 4​, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.620

Trang 3

và “Nền giáo dục tương lai, nó sẽ kết hợp lao động sản xuất với trí dục và thể dục đối với tất

5 cả những trẻ em trên một lứa tuổi nào đấy, coi đó không chỉ là một phương pháp để làm tăng

thêm nền sản xuất xã hội mà còn là một phương pháp duy nhất để sản xuất ra những con người

phát triển toàn diện nữa” Tuy nhiên, Mác nhận thấy một sự thật là, trong các trường học dành6

cho giai cấp công nhân trong xã hội tư sản, luôn tồn tại sự tách biệt của các nội dung giáo dục

Nguyên nhân của sự tách biệt này có nguồn gốc từ sự phân công lao động trong xã hội Lao

động của giai cấp công nhân chủ yếu là lao động tay chân nên họ chỉ cần được giáo dục về kỹ

nghệ Con cái của các gia đình công nhân cũng tương tự, chỉ cần học những gì dùng để làm,

những tri thức không thực dụng cho công việc trong nhà máy thì không được học tập, giáo dục

thể chất cũng không cần được coi trọng Mác đưa ra giải pháp khắc phục tình trạng này là giai

cấp công nhân cần phải giành được quyền thống trị của mình đối với sản xuất xã hội, và bước

đầu tiên để giành quyền thống trị đó là giành lấy dân chủ Khi giai cấp công nhân giành được

quyền lực chính trị và thiết lập nhà nước của giai cấp mình, sự phân chia giữa các nội dung giáo

dục sẽ không còn tồn tại, xã hội sẽ có những trường học giáo dục kỹ nghệ phát triển 7 Cuối cùng, khi bàn về ​vai trò ​của nhà nước ​đối với giáo dục, trong ​Phê phán Cương lĩnh Gotha (1875), Marx phê phán luận điểm của Đảng dân chủ xã hội Đức SPD về nhà nước

đóng vai trò là nhà giáo dục nói chung Mác đòi hỏi, chúng ta cần phân biệt nhà nước với vai

vai trò là người bảo trợ giáo dục với vai trò là người giáo dục Ông viết: “Một nền " ​giáo dục quốc dân do nhà nước đảm nhiệm " đó là điều hoàn toàn đáng vứt bỏ Dùng một đạo luật chung

5 ​Trích theo: ​ Amarillio Ferreira Jr and Marisa Bittar (2008), Education from the marxist perspective: an approach based on marx and gramsci (online) ​ , in ​Interface (Botucatu)​ vol.12 no.26 Botucatu July/Sept 2008, source: http://www.scielo.br/scielo.php?pid=S1414-32832008000300014&script=sci_arttext&tlng=en 6 C.Mác và Ph.Ăng-ghen, ​C.Mác và Ph.Ănghen toàn tập , ​tập 47​, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995,

tr.668 7 ​Diễn giải thêm và kết nối các mảnh ghép rời rạc trong ý tưởng của C.Mác về giáo dục kỹ nghệ (polytechnical education), Stephen Castle và Wiebke Wuestenberg cho rằng: “Giáo dục kỹ nghệ là giáo dục bậc cao cho tất cả mọi người Giáo dục kỹ nghệ khắc phục sự phân tách giữa công

việc tay chân và công việc đầu óc: giáo dục kỹ nghệ là vô nghĩa nếu một người dành toàn bộ thời gian của mình chỉ

để làm những công việc đơn thuần đầu óc hoặc đơn thuần tay chân Giáo dục kỹ nghệ xóa bỏ sự phân biệt, tách rời

giữa học và làm, giữa nhà trường và công xưởng; mọi trẻ em nên tham gia vào sản xuất xã hội từ những năm tháng

đầu đời; mọi người lớn nên có cơ hội để tiếp tục học tập, cả ở nơi làm việc lẫn bất cứ nơi đâu Mọi người phải tham

gia vào quá trình lên kế hoạch và ra quyết định, ngay khi giáo dục kỹ nghệ cung cấp cho mọi người nhận thức về

mục đích xã hội và các vấn đề kỹ nghệ, thì sẽ không có bất kỳ sự biện minh nào cho việc cá nhận bị loại khỏi sự

lên kế hoạch và ra quyết định: một xã hội với giáo dục kỹ nghệ không thể nhưng là một xã hội dân chủ.” Trích theo: ​ Glenn Rikowski (2004), Marx and the Education of the Future (online), in ​Policy Futures in Education​ , Volume 2, Numbers 3 & 4, 2004, source: http://journals.sagepub.com/doi/pdf/10.2304/pfie.2004.2.3.10 ​ )

Trang 4

để quy định những kinh phí cho các trường học bình dân, quy định trình độ chuyên môn của

nhân viên giáo dục, quy định những môn giảng dạy, v.v và dùng các viên thanh tra nhà nước để

giám sát, như ở Mỹ, việc thi hành những quy định ấy của pháp luật - đó là một cái gì hoàn toàn

khác với việc chỉ định nhà nước làm người giáo dục nhân dân! Ngược lại ​cần phải gạt bỏ mọi

ảnh hưởng của chính phủ cũng như của giáo hội đối với nhà trường ” Thêm nữa, khi đặt ra yêu8

cầu về nhiệm vụ của người cộng sản trong nhà nước xã hội chủ nghĩa tương lai với những

cương lĩnh hành động cụ thể, Mác chỉ ra, một trong số đó là hành động vì giáo dục, vì một nền

giáo dục công phổ cập và miễn phí cho tất cả trẻ em: “10 Giáo dục công cộng và không mất

tiền cho tất cả các trẻ em Xoá bỏ việc sử dụng trẻ em làm trong các khu công xưởng như hiện

nay Kết hợp giáo dục với sản xuất vật chất, 9

Trong khi ​những suy tư của Mác và Ăng-ghen về giáo dục mới dừng lại ở mức độ ý

tưởng sơ khai trong quá trình phân tích đời sống giai cấp công nhân trong xã hội tư sản, thì tư

tưởng của hai ông về dân chủ lại được phát triển theo chiều hướng đa dạng Dân chủ không 10

chỉ là: (1) Hình thức nhà nước, (2) Quyền lợi của nhân dân, (3) Nguyên tắc dân chủ trong quản

lý tổ chức, (4) Tinh thần dân chủ (4) Tuy nhiên, tôi muốn quay về những ý tưởng đầu tiên của

C.Mác về dân chủ, được trình bày trong tác phẩm ​Phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen​, nhằm tìm ra cách thức kết nối giáo dục và dân chủ Trong tác phẩm này, Mác viết: “Chế độ dân

chủ là câu đố đã được giải đáp của mọi hình thức chế độ nhà nước Ở đây, chế độ nhà nước -

không chỉ tự nó, xét theo bản chất của nó, mà còn xét theo sự tồn tại của nó, theo tính hiện thực

của nó - ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện

thực, và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân Chế độ nhà nước ở đây xuất hiện

đúng với chân tướng của nó, - tức là xuất hiện với tính cách là sản phẩm tự do của con người

( ) ​Chế độ dân chủ xuất phát từ con người và biến nhà nước thành con người được khách thể

hóa ( ) ​Chế độ dân chủ cũng vậy, nó là bản chất của bất kỳ chế độ nhà nước nào, là con người

được xã hội hóa coi là hình thức đặc thù của chế độ nhà nước ( ) Dưới chế độ dân chủ, không

8 C.Mác và Ph.Ăng-ghen, ​C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập , ​tập 19​, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995,

tr.50 9 C.Mác và Ph.Ăng-ghen, ​C.Mác và Ph.Ănghen toàn tập , ​tập 4​, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.628

10​Phạm Văn Đức chủ biên (2017), Thực hành dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền , NXB Chính

trị quốc gia Sự thật, Hà Nội

Trang 5

phải con người tồn tại vì luật pháp, mà luật pháp tồn tại vì con người; ở dây sự tồn tại của con

người là luật pháp, trong khi đó thì dưới những hình thức khác của chế độ nhà nước, con người

lại là tồn tại được quy định bởi luật pháp Dấu hiệu đặc trưng cơ bản của chế độ dân chủ là như

vậy.” 11 Qua luận điểm trên, ta có thể thấy rằng, trong những ý tưởng đầu tiên khi mới bước chân

vào địa hạt triết học, đối với Mác, ​dân chủ là bản chất của con người ​Con người ở đây là

những con người hiện thực, thể hiện mình qua lao động và giao tiếp xã hội với các thành viên

khác trong cộng đồng Dân chủ là chính bản thân mỗi chúng ta, là bản chất của mỗi tồn tại

người, và nhà nước là hình thức biểu hiện của dân chủ về mặt thể chế trên phương diện xã hội

Nhà nước là sự khách quan hóa bản chất dân chủ của con người, là một phần của mỗi cá nhân,

thay vì là một khách thể bên ngoài tác động và chi phối con người Đây có thể coi là một điểm

khác biệt rõ rệt trong tư tưởng của Mác về nhà nước so với chủ nghĩa tự do cổ điển Đối với chủ

nghĩa tự do cổ điển, nhà nước là một trung gian bên ngoài con người cá nhân, hình thành vì một

ý chí chung (general will) để kiểm soát cá nhân và điều tiết đời sống cộng đồng chung Như vậy, rõ ràng là, khi cho rằng dân chủ là bản chất của tồn tại người, Mác đã bước

một bước tiến xa trong tư tưởng nhân loại Nếu dân chủ không chỉ là một hình thức tổ chức nhà

nước mà là phần sâu kín của bản chất con người, thì làm cách nào để bản chất đó được bộc lộ

một cách toàn diện và phù hợp nhất, nhận được sự thừa nhận tối đa của xã hội Do điều kiện cấp

thiết của cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân vì một xã hội tốt, đẹp hơn cho tất cả mọi người,

Mác không tiếp tục phát triển ý tưởng “dân chủ là bản chất của tồn tại người” và cách thức để

hiện thực hóa bản chất đó Thay vào đó, ông chuyển sang sự phân tích dân chủ là một hình thái

chính quyền mà giai cấp công nhân cần phải giành được trong giai đoạn đầu tiên theo đuổi lý

tưởng cộng sản chủ nghĩa Tuy nhiên, những lớp hậu thế của Mác và Ăng-ghen, có người đã

tiếp tục đi trên con đường mà Mác đã đặt dấu chân đầu tiên, để khẳng định ý nghĩa của dân chủ

với tư cách là bản chất của tồn tại người và chỉ ra cách thức để hiện thực hóa cũng như xã hội

hóa bản chất đó, thông qua giáo dục 2 Quan điểm của J.Dewey về giáo dục và dân chủ 11 C.Mác và Ph.Ăng-ghen, ​C.Mác và Ph.Ăng-ghen toàn tập , ​tập 1​, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.349-350

Trang 6

John Dewey (1859-1952) là một trong những triết gia, nhà sư phạm hàng đầu được

UNESCO công nhận là có tầm ảnh hưởng đối với những tiến bộ của nền giáo dục nhân loại

trong thế kỷ XX Các tác phẩm chính gây tiếng vang của Dewey có thể kể đến là ​Nhà trường và

xã hội (1899), ​Cách ta nghĩ (1909), ​Dân chủ và giáo dục (1916), ​Kinh nghiệm và giáo dục

(1938) Trọng tâm trong tư tưởng giáo dục của Dewey là những phân tích về giáo dục dân chủ

(democratic education) mà mục đích giáo dục là sự hòa nhập giữa kinh nghiệm loài (văn hóa,

thể chế nói chung) với kinh nghiệm riêng của từng cá nhân trong quá trình sống và tương tác

với con người và môi trường xung quanh Cụ thể hơn, trong bối cảnh nước Mỹ thế kỷ XX là sự

hội nhập giữa giá trị dân chủ của toàn xã hội và các giá trị riêng biệt của con người cá nhân Bàn về bản chất và vai trò của giáo dục, Dewey cho rằng, bản chất của giáo dục là quá

trình liên tục tái tổ chức, tái kiến tạo và biến đổi kinh nghiệm Kinh nghiệm bao gồm kinh 12

nghiệm loài và kinh nghiệm cá nhân Kinh nghiệm loài là những phong tục, tập quán, niềm tin,

thiết chế xã hội, căn tính văn hóa của toàn bộ tập thể, cộng đồng; còn kinh nghiệm cá nhân bao

gồm năng lực, thói quen, sở thích, niềm tin của từng cá nhân cụ thể Trong giáo dục, hai loại

kinh nghiệm này giao thoa, hòa quyện và hội nhập để đồng thời làm tăng tiến và phát triển nhận

thức, tri thức, hành vi (hay kinh nghiệm, theo cách chung nhất) của cả cá nhân lẫn cộng đồng

Vai trò của giáo dục là (1) phương tiện duy trì tính liên tục về mặt xã hội của kinh nghiệm và 13

(2) “quá trình hình thành dạng thức xã hội được thừa nhận” Tính liên tục về xã hội của kinh 14

nghiệm là sự biểu hiện của bản chất tái kiến tạo kinh nghiệm của giáo dục, nhưng giáo dục còn

là quá trình giúp “cái tôi” của bản thân mỗi người trở thành “cái ta” chung của cộng đồng, để

mỗi người ý thức được trách nhiệm của bản thân mình trong đời sống xã hội nói chung, và “cái

ta” cũng hàm chứa những “cái tôi” để tự làm phong phú và đa dạng hơn chính bản thân mình

Khi đó, “cá nhân trở thành một người biết chia sẻ hoặc là cộng sự trong hoạt động chung sao

cho cá nhân ấy coi thành bại của cộng đồng cũng là thành bại của chính mình” Vì vậy, hai 15

hình thức giáo dục là giáo dục có chủ đích và giáo dục không có chủ đích cần luôn song hành

với nhau Giáo dục có chủ đích được thực hiện qua giáo dục nhà trường, ở đó, cá nhân (cụ thể là

12​Hoàng Thị Thúy An (2014), Quan niệm của John Dewey về dân chủ trong giáo dục , luận văn Thạc sĩ triết học,

Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội, tr.52

13 ​Hoàng Thị Thúy An (2014), sdd, tr.49

14 ​Trích theo Hoàng Thị Thúy An (2014), sdd, tr.51

15 ​Trích theo Hoàng Thị Thúy An (2014), sdd, tr.51

Trang 7

trẻ em) có thể giao tiếp, quan tâm tới nhau một cách vô tư và tự nhiên nhất, không chịu ảnh

hưởng của sự phân biệt giàu-nghèo hay phân tầng xã hội mà người lớn gây ra Giáo dục không

chủ đích là giáo dục xã hội nói chung, diễn ra trong đời sống hàng ngày khi con người cùng

chung sống với nhau Chia sẻ ý tưởng của Mác về dân chủ là bản chất của tồn tại người, Dewey khẳng định

d​ân chủ là một giá trị thuộc phương thức sống của con người trong xã hội Giá trị nội sinh,

thuộc về bản chất này cần phải luôn tồn tại trong chính bản thân con người và mọi khía cạnh

của đời sống con người, thay vì là một thứ gì đó ngoại sinh, tách rời nhân cách, nhu cầu và hứng

thú của cá nhân Ông viết: “Dân chủ phải luôn được hiện hữu trong mọi thế hệ, mọi năm và mọi

ngày, trong mọi quan hệ đời sống từ cá nhân này tới cá nhân khác, trong mọi dạng thức và thể

chế xã hội” Dân chủ cần tồn tại và hiện hữu ở khắp mọi nơi, từ con người cá nhân cho tới các 16

quan hệ dân sự Dân chủ cần phải “trở thành một giá trị đạo đức phổ quát thuộc tầm văn hóa của

cả một cộng đồng và cả những cá nhân trong cộng đồng đó” Theo tôi, đây có thể coi là ý 17

tưởng trọng tâm của khái niệm “dân chủ hóa” của triết học chính trị-xã hội J.Dewey, ngụ ý sự

chuyển hóa từ thể chế toàn trị sang một thể chế chính trị dân chủ hơn với hạt nhân là sự chuyển

hóa trong từng bản thân cá nhân thành viên của thể chế đó Từ việc kết nối dân chủ với giáo dục, Dewey đặt ra thêm một vai trò nữa của giáo dục,

một vai trò quan trọng không kém hai vai trò được kể tới ở trên Đó là, ​phát lộ, định hình và

phát triển đặc trưng tính cách dân chủ của từng cá nhân ​, giúp cá nhân sống có trách nhiệm

trong sự hợp tác với các thành viên khác trong cộng đồng, có tư duy linh hoạt và phương pháp

tư duy khoa học để sống và ứng xử có bản lĩnh trước những thay đổi không ngừng của kinh tế

và xã hội, đồng thời có những kỹ năng nghề nghiệp cụ thể, quán xuyến kiến thức cả trên

phương diện lý thuyết lẫn thực hành để có thể tham gia vào quá trình sản xuất và vận hành xã

hội.​Mối quan hệ giữa dân chủ với giáo dục được Dewey đặc biệt nhấn mạnh trong luận điểm:

“Dân chủ bao giờ cũng tôn sùng giáo dục một chính quyền dựa vào phổ thông đầu phiếu thì không thể thành công nếu người bầu ra và tuân lệnh chính quyền ấy không được giáo dục Bởi

​xã hội dân chủ ​bao giờ cũng bác bỏ nguyên lý của quyền lực bên ngoài, vì thế nó ​buộc phải

tìm ra quyền lực thay thế nằm bên trong khuynh hướng nhân cách và mối hứng thú tự nguyện,

16 ​Trích theo Hoàng Thị Thúy An (2014), sdd,, tr.46

17 ​Hoàng Thị Thúy An (2014), sdd, tr.46

Trang 8

chỉ có giáo dục mới có thể tạo ra được những điều đó Nền dân chủ là cái còn hơn cả một hình thái chính quyền, trên hết, nó là một phương thức của đời sống liên kết, của kinh nghiệm chung được chia sẻ ” 18

Dân chủ là cốt lõi trong triết lý giáo dục của John Dewey Dân chủ và giáo dục có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Giáo dục giúp “đào luyện” những con người dân chủ, những người

mà kiểm soát xã hội không đến từ quyền lực bên ngoài (cụ thể là nhà nước); trái lại xuất phát từ chính bản thân mỗi người, đến từ sự sáng suốt và đánh giá phản biện của trí tuệ tự do, kết hợp với tinh thần trách nhiệm với cuộc sống riêng và đời sống chung, cùng với sự tôn trọng và khoan dung với những khác biệt và dị biệt trong cuộc sống Hơn thế nữa, “lý tưởng dân chủ trong giáo dục tác động tới tính chất và nội dung của giáo dục dân chủ, tới sự thống nhất giữa nội dung và phương pháp giáo dục, ngược lại, vì dân chủ được nâng lên thành một giá trị đạo đức, một môi trường văn hóa nhân văn nên cần có giáo dục dân chủ để truyền đạt giá trị đạo đức ấy” 19

3 Từ tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăng-ghen và J.Dewey tới hiện trạng giáo dục Việt Nam

Thứ nhất, về tính chất của nền giáo dục và vai trò của nhà nước đối với giáo dục

Theo báo cáo về giáo dục Việt Nam năm 2015 của Liên hợp quốc, từ năm 2000, Việt 20 Nam đã đạt mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học và tăng cường chăm sóc trẻ em ở bậc mầm non Giáo dục công là miễn phí cho bậc tiểu học Mức học phí tương đối thấp đối với bậc mầm non công lập (khu vực thành thị từ 60.000-300.000 đồng, khu vực nông thôn từ 30.000-120.000 đồng, khu vực miền núi từ 8.000-60.000 đồng) Mức học phí tương đối thấp như vậy góp phần 21 thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học và đảm bảo tính chất giáo dục toàn dân của nền giáo dục nước nhà Tuy nhiên, mức học phí như vậy vẫn gây khó khăn cho những gia đình thuộc diện nghèo ở các vùng nông thôn và miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có kinh tế đặc biệt khó khăn Nhận thức được thực trạng đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề xuất Quốc hội sửa đổi Luật Giáo dục, bổ sung quy định không thu học phí đối với trẻ mầm non 5

18​John Dewey (1916), ​Dân chủ và giáo dục , Phạm Anh Tuấn dịch, NXB Tri thức, Hà Nội, 2008, tr.113

19 ​Hoàng Thị Thúy An (2014), sdd, tr.46

20 Ministry of Education and Training (2014), ​Vietnam National Education for all: 2015 review​ (online), nguồn:: http://unesdoc.unesco.org/images/0023/002327/232770e.pdf

21 Anh Phương, ​Không thu học phí trẻ mầm non 5 tuổi, học sinh THCS công lập (online), nguồn:

https://news.zing.vn/khong-thu-hoc-phi-tre-mam-non-5-tuoi-hoc-sinh-thcs-cong-lap-post875635.html

Trang 9

tuổi, học sinh trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục công lập, hỗ trợ đóng học phí cơ sở ngoài

công lập đối với trẻ em, học sinh diện phổ cập giáo dục Đây là một trong các bước đi đảm bảo 22

quyền được học tập của trẻ em đến từ mọi tầng lớp dân cư trong giáo dục, đồng thời khẳng định

tính chất của nền giáo dục Việt Nam được quy định trong Luật Giáo dục 2005 là: “Điều 3: Nền

giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện

đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng ” và hiện thực hóa một 23

trong những cương lĩnh hành động cộng sản chủ nghĩa là giáo dục miễn phí cho mọi trẻ em mà

C.Mác đã đặt ra cho người cộng sản Không chỉ đảm bảo tính chất nhân dân và công bằng xã hội của nền giáo dục bằng văn

bản luật , nghị định và các thông tư dưới luật hướng dẫn cụ thể trách nhiệm và nghĩa vụ của24

các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập, vai trò của nhà nước với tư cách là người bảo trợ

cho các hoạt động giáo dục còn được thể hiện qua số lượng chi tiêu công dành cho giáo dục qua

các năm Theo báo cáo của Tổ chức giáo dục liên hợp quốc , tỷ lệ chi tiêu công cho giáo dục25

theo phần trăm GDP và GNP của Việt Nam tăng đều qua các năm, từ 2009 đến 2012, tương ứng

3.57% năm 2009 và 5.73% năm 2012 và tiếp tục tăng ở các năm tiếp theo Tỷ lệ này nằm ở 26

mức cao so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới , tuy nhiên do cơ cấu giá trị nền kinh 27

tế ở quy mô nhỏ, nên thực chất đầu tư công cho giáo dục của Việt Nam vẫn tương đối khiêm

tốn Dẫu vậy, cơ cấu chi ngân sách nhà nước dành cho giáo dục tăng đều qua các năm (thống kê

22 Anh Phương, ​Không thu học phí trẻ mầm non 5 tuổi, học sinh THCS công lập (online), nguồn: https://news.zing.vn/khong-thu-hoc-phi-tre-mam-non-5-tuoi-hoc-sinh-thcs-cong-lap-post875635.html Nguồn: https://news.zing.vn/khong-thu-hoc-phi-tre-mam-non-5-tuoi-hoc-sinh-thcs-cong-lap-post875635.html 23 Quốc hội (2005), Luật Giáo dục (online), nguồn: http://www.moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail.aspx?itemid=18148 24 ​Luật đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ học tập của công dân: “Điều 5: Mọi công dân không phân biệt dân

tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học

tập.​Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành Nhà nước và

cộng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập, tạo điều kiện để những người có năng khiếu phát triển tài năng

Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội

đặc biệt khó khăn, đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi, người tàn tật, khuyết tật và đối tượng được hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình.”

Quốc hội (2005), Luật Giáo dục (online), nguồn:

http://www.moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail.aspx?itemid=18148

25 Ministry of Education and Training (2014), ​Vietnam National Education for all: 2015 review​ (online), nguồn: http://unesdoc.unesco.org/images/0023/002327/232770e.pdf

26 Xem thêm: Ministry of Education and Training (2014), ​Vietnam National Education for all: 2015 review

(online), nguồn: http://unesdoc.unesco.org/images/0023/002327/232770e.pdf

27 Xem thêm: Ministry of Education and Training (2014), ​Vietnam National Education for all: 2015 review

(online), nguồn: http://unesdoc.unesco.org/images/0023/002327/232770e.pdf

Trang 10

từ năm 2010 tới 2017) Nếu như năm 2010, tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục trong tổng số chi28

tiêu công là 12,05%, tăng lên cao nhất là 15,83% và đạt 14,84% năm 2017 Cơ cấu chi ngân 29

sách này tương đương số tiền: Bảng: Tỷ lệ chi ngân sách nhà nước (tỷ đồng) cho giáo dục so với tổng chi ngân sách từ năm

2010-2017 Nguồn: Tổng cục thống kê (https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=715) Không chỉ chính quyền trung ương tăng chi ngân sách hàng năm cho giáo dục, các chính quyền địa phương cũng tăng chi ngân sách hàng năm cho giáo dục Cơ cấu chi (ở cả trung ương

và địa phương) theo ngân sách công cho giáo dục tương ứng là chi lương và phụ cấp cho đội

ngũ giáo viên và nhân viên trong ngành giáo dục; chi đầu tư xây dựng cơ bản các cơ sở giáo

dục; chi mua sắm, sửa chữa đồ dùng, trang thiết bị dạy học và chi các khoản trợ cấp khác Tỷ lệ

chi lương và phụ cấp cho giáo viên chiếm tỷ trọng cao nhất ở cả cấp trung ương và địa phương

Trong đó tỷ lệ chi ở bậc tiểu học chiếm tỷ trọng cao nhất, tương ứng 63% vào năm 2013, bậc

giáo dục đại học chiếm tỷ trọng thấp nhất, tương ứng 20% năm 2013, kế đến là trung cấp

chuyên nghiệp chiếm 21% Trong khi chi mua sắm, sửa chữa đồ dùng, trang thiết bị dạy học ở30

tất cả các cấp (giáo dục trước khi đến trường, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở, giáo

dục phổ thông trung học, trung học chuyên nghiệp, giáo dục đại học) là ổn định như nhau, ở

mức 3% chi tiêu công Như vậy, ta có thể thấy được, cho đến thời điểm năm 2013, giáo dục tiểu

học với mục tiêu phổ cập giáo dục toàn dân vẫn là bậc học nhận được nhiều ưu tiên hơn cả, đặc

28 Trước năm 2010, chi ngân sách dành cho giáo dục nằm trong tổng chi cho sự nghiệp khoa học, công nghệ và bảo

vệ môi trường

29Tổng cục thống kê (2017), Tỷ lệ % chi ngân sách nhà nước cho giáo dục so với tổng chi ngân sách từ năm

2010-2017​ , ​ https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=715

30 Ministry of Education and Training, General Statistical Office, Unesco Institute for Statistics (2016), E​ducation

financing in Vietnam 2009-2013 ​ (online), nguồn: http://uis.unesco.org/sites/default/files/vietnam-nea-report.pdf

Ngày đăng: 05/01/2022, 16:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w