PHÂN TÍCH NGÀNH Vào cuối thế kỷ 19 Thị trường bia Việt Nam ra đời, 2 cơ sở sản xuất chủ yếu là Nhà máy bia Sài gòn hiện nay là Tổng Công ty Bia – Rượu – Nước Giải Khát Sài Gòn -Sabeco và
Trang 1CÔNG TY CỔ PHẦN BIA – RƯỢU – NƯỚC GIẢI KHÁT SÀI GÒN
A PHÂN TÍCH NGÀNH
Vào cuối thế kỷ 19 Thị trường bia Việt Nam ra đời, 2 cơ sở sản xuất chủ yếu là Nhà máy bia Sài gòn (hiện nay là Tổng Công ty Bia – Rượu – Nước Giải Khát Sài Gòn
-Sabeco) và Nhà máy Bia Hà Nội (hiện nay là Tổng Công ty Bia – Rượu – Nước Giải Khát
Hà Nội - Habeco) Đến nay đã có nhiều đổi mới và phát triển, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, tuy nhiên vẫn chịu sự chi phối của 2 tổng công ty lớn
Thị trường bia Việt Nam từ chỗ chỉ có 2 cơ sở sản xuất bia chính đến nay đã phát triển tới 129 cơ sở sản xuất bia nằm rải rát ở 43 tỉnh, thành phố Sản lượng bia tăng đều đặn mõinăm do thói quen tiêu thụ bia ngày càng phát triển và được ưu chuộng tại Việt nam Tính đến 2015, tổng sản lượng sản xuất tại Việt Nam là 4,6 tỷ lít, trở thành quốc gia lớn thứ 8 thế giới và thứ 3 Châu Á, chỉ sau Trung Quốc và Nhật Bản Bên cạnh đó lượng tiêu thụ biacủa Người Việt Nam đạt 3,8 tỷ lít, đạt mức tiêu thụ cao nhất Đông Nam Á, thứ 3 Châu Á
và thứ 11 toàn thế giới
Với tiềm năng vô cùng lớn như vậy hấp dẫn nhiều tập đoàn Ngoại gia nhập vào thị trường Bia Việt Nam, khiến thị trường trở nên vừa sôi động vừa gay gắt
I Hiện trạng ngành
• Về Cơ sở: Hiệp hội Bia-Rượu-NGK Việt Nam (VBA) thống kê đến năm 2016 trên cả nước
có 129 cơ sở sản xuất bia nằm trên 43 tỉnh, thành phố Thị trường bia trong nước tuy có sốlượng cơ sở sản xuất lớn, nhưng hầu hết chịu sự quản lý của hai tổng công ty là TổngCTCP Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) và Tổng CTCP Bia - Rượu - Nướcgiải khát Hà Nội (Habeco), khiến cho sức mạnh chi phối toàn ngành sản xuất bia Việt Namgần như nằm trong tay Sabeco và Habeco
• Về thương hiệu: 4 thương hiệu lớn Sabeco, Habeco, Heineken và Carlsberg chiếm hơn 90%thị phần toàn ngành Ngoài ra còn có sự phân bố thương hiệu theo vùng: Sabeco chiếmlĩnh khu vực miền Nam, Carlsberg sở hữu 100% thương hiệu bia Huế hiện diện nhiều nhất
ở miền Trung, Habeco dẫn đầu thị trường miền Bắc và Heineken thì phủ sóng rộng rãi tạimiền Trung và miền Nam 10% còn lại của thị trường thuộc về các công ty bia nước ngoài
Trang 2mới gia nhập ngành như Sapporo và AB-Inbev, Masan Brewery , Sư Tử Trắng tiêu thụnhiều nhất ở khu vực Tây Nam Bộ Các thương hiệu đang cạnh tranh nhau gay gắt để mởrộng thị trường ở các vùng xa nhầm tăng thêm thị phần trong ngành.
• Về phân khúc sản phẩm: Sabeco và Habeco thống lĩnh phân khúc bình dân và trung cấp;trong khi đó phân khúc bia cao cấp lại thuộc về các hãng bia ngoại Vì FTA được kí kếtkhiến cho thuế nhập khẩu bia giảm mạnh, thu nhập cá nhân và xu hướng tiêu dùng cá nhântăng, thêm vào đó là thị hiếu chuộng hàng ngoại, hay thay đổi nên bia ngoại, bia nhập khẩuchiếm ưu thế Điều đó dẫn đến giai đoạn 2011-2015, thị phần của Sabeco và Habeco không
có chuyển biến tăng trong khi thị phần của Heineken, Carlsberg, Sapporo và các hãng biangoại tăng lên qua các năm Điều đó gây áp lực lên các thương hiệu bia trong nước đòi hỏiphải nâng cấp chất lượng, mẫu mã và chùng loại sản phẩm để củng cố lại vị thế của mình
• Thị phần ngành bia Việt Nam
Nguồn: Euromonitor International 2012-2015
• Theo số liệu từ Euromonitor International, trong giai đoạn 2012-2015, thị phần của cácthương hiệu bia quen thuộc ở Việt Nam không có nhiều thay đổi Sabeco vẫn là thươnghiệu bia được sử dụng nhiều nhất ở Việt Nam với 44,9% thị phần Bên cạnh đó, Habecochủ yếu chiếm lĩnh ở khu vực miền Bắc chiếm 17,8% Về thị phần tiêu thụ của các hãngbia ngoại, Heineken có sản phẩm được tiêu thụ nhiều nhất chiếm 15,9% Thương hiệuquen thuộc còn lại là Carlsberg được tiêu thụ nhiều nhất tại khu vực duyên hải Bắc Trung
Bộ (từ Thanh Hóa tới Thừa Thiên Huế) chiếm 6,7% tổng lượng bia tiêu thụ trong nước
• Về phân khúc sản phẩm: được chia làm 3 phần khúc chính: bia cao cấp, bia trung cấp và biabình dân
Phân khúc & mức giá
Một số thương hiệu bia
nổi tiếng Cao cấp (≥
35.000)
Heineken, Tiger, Sapporo,Budweiser, Saigon Special,Saigon Lager, Trúc Bạch…
10.42%
Trung cấp (21.000 – Bia 333, Huda, Larue, Thabrew, 58.62%
Trang 335.000) Sư Tử Trắng, bia Hà Nội…
• Các sản phẩm bia cao cấp thường được tiêu thụ ở tầng lớp trung lưu, thu nhập từ mức trungbình trở lên, tiêu thụ chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, tính đến năm 2015 chiếm 10,42% tổng sản lượng bia tiêu thụ tại Việt Nam Các thương hiệu như Heineken, Sapporo,Carlsberg, AB-Inbev… được người tiêu dùng nhận diện là các thương hiệu đại diện cho chất lương và địa vị xã hội
II Nhà cung cấp và các đối thủ trong ngành
1 Nhà cung cấp:
• Do đặc điểm của địa hình và khí hậu của Việt Nam không thích hợp để xây dựng vùng nguyên liệu lúa mạch nên hầu như là nhập khẩu 100%, nên vị thể của các doanh nghiệp biatrong nước cả hiện tại và tương lai đều yếu hơn so với các nhà cung cấp nguyên liệu Cạnh tranh mạnh mẽ trong ngành khiến các doanh nghiệp chủ động tìm kiếm các nhà cung cấp nguyên liệu tốt trên thị trường và ổn định , khiến cho sức mạnh các nhà cung cấp được củng cố
• Do lúa mạch, malt và hoa bia đều là các loại nguyên liệu tự nhiên, biến động trong nguồn cung malt và hoa bia chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi điều kiện thời tiết tại các vùng trồng nguyên liệu Nên nguồn cung hoa bia thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu hụt, không đủ thỏa mãn tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của cầu Chính vì nguồn cung thấp hơn so với cầu, sức mạnh trả giá của nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào cho ngành bia càng vững chắc, khiến cho giá nguyên liệu tăng cao, ảnh hưởng đến biên lợi nhuận của toàn ngành
2 Đối thủ cạnh tranh trong ngành:
• Rào cản gia nhập ngành cao do mức độ tập trung của ngành cao (90% thị phần thuộc về 2 hãng bia lớn_Sabeco và Habeco) Ngoài ra độ phân phối và mức độ hiện diện của các hãngbia lớn rất lớn nên các công ty mới sẽ có nguy cơ bị đào thải cao Ngoài ra thói quen của Người tiêu dùng Việt Nam là thường xuyên sử dụng những sản phẩm quen thuộc, lâu đời nên các Công ty mới gia nhập ngành cần đầu tư mạnh cho Marketing thương hiệu và cố gắng có được chỗ đứng trong nhận thức của người tiêu dùng
• Các hãng bia thường ký hợp đồng với các điểm bán on-trade như nhà hàng, khách sạn, quán bar… trong đó họ có quyền độc quyền bán và tổ chức các hoạt động khuyến mại, quảng
Trang 4cáo và tiếp thị các loại bia do công ty sản xuất tại các địa điểm này Đổi lại là cam kết ưu đãi, chiết khấu hàng bán hoặc “thưởng” cho đối tác một khoản tiền mặt được thanh toán trong thời hạn hiệu lực hợp đồng Do các hợp đồng có tính độc quyền giữa nhà sản xuất vàcác điểm bán on-trade, các địa điểm này không thể bán các loại bia của hãng khác Điều này khiến cho rủi ro đến từ các đối thủ gia nhập ngành thấp đi, do hầu hết các kênh phân phối trên thị trường đều đã bị “phong tỏa” bởi các hãng bia đang hoạt động trong ngành Khiến cho các công ty mới vô cùng khó khăn trong việc tìm kiếm những kênh phân phối.
III Đặc điểm của Khách hàng:
• Khách hàng trong phân khúc bia trung cấp và bình dân rất nhạy cảm về giá, đặc biệt là do thói quen tiêu thụ bia với lượng lớn trong mỗi dịp “nhậu” với mục đích uống nhiều để say Các sản phẩm bia ở phân khúc này cũng có độ phủ rộng tại cả thành thị và nông thôn, khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận bất cứ lúc nào Do vậy, người tiêu dùng có thể dễ dàng chuyển sang sử dụng một sản phẩm của hãng bia khác khi loại bia mà họ hay sử dụng tăng giá Điều này làm cho sức mạnh trả giá của người mua ở phân khúc bình dân và trung cấp tương đối cao, và các hãng bia thường gặp khó khăn khi đưa ra các quyết định tăng giá bán, mặc dù chi phí nguyên liệu đầu vào tăng trong các năm gần đây và thuế TTĐB đang trong lộ trình tăng 5% mỗi năm cho đến 2018
• Ở phân khúc cao cấp, do hiện tại mức độ đa dạng về sản phẩm ở phân khúc này chưa cao, nhận thức của người tiêu dùng về các thương hiệu vẫn còn thấp, nên loại bia phổ biến nhất trong phân khúc này vẫn là bia Heineken và Tiger Do xu hướng chuộng bia cao cấp để thểhiện đẳng cấp xã hội, mức độ nhạy về giá của phân khúc này thấp hơn các phân khúc bình dân và trung bình Cộng thêm việc các hãng bia ngoại khác ngoài Heineken mới chỉ gia nhập thị trường Việt Nam vài năm gần đây nên mức độ hiện diện chưa cao, ít được người tiêu dùng biết đến, khiến cho sức mạnh trả giá của người mua ở phân khúc cao cấp là rất thấp
Kết luận:
Mức độ cạnh tranh trong ngành bia đang ở mức tương đối cao với áp lực đến từ nhiều phía Đầu tiên là việc nguồn cung nguyên liệu đầu vào phụ thuộc phần lớn vào hoạt động
Trang 5nhập khẩu khiến cho các hãng bia trong ngành chịu rủi ro lớn từ biến động giá nguyên liệu
và rủi ro tỷ giá Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành cũng đang ở mức rất cao.Cuộc chiến giành thị phần và việc các doanh nghiệp đang cùng nhắm đến phân khúc cao cấp sẽ khiến cho cạnh tranh ngày càng gia tăng Không những thế, thị trường Việt Nam còn đang là đích nhắm của nhiều hãng bia ngoại chưa gia nhập ngành và việc cắt giảm thuế nhập khẩu bia qua các FTA sẽ càng làm cho thị trường bia Việt trở nên hấp dẫn Rủi ro từ các sản phẩm thay thế không quá đáng lo ngại khi bia tiếp tục là loại đồ uống có cồn được lựa chọn tiêu dùng nhiều nhất tại Việt Nam và văn hóa này chưa có dấu hiệu dịchchuyển lớn trong thời gian tới Về sức mạnh trả giá, phân khúc bia trung cấp có đối tượng khách hàng chủ yếu thuộc tầng lớp lao động nhạy cảm với giá hơn các khách hàng trong phân khúc cao cấp Điều này khiến cho các doanh nghiệp tập trung trong phân khúc bình dân, trung cấp gặp khó khăn khi giá bán tăng do thuế TTĐB tăng, ảnh hưởng đến lợi nhuậncủa các hãng bia trong ngành
IV Xu hướng phát triển trong tương lai
1 Xu hướng tiêu thụ Bia – rượu – nước giải khát tại thị trường Việt Nam
Theo Tổng cục Thống kê cũng cho biết, GDP đầu người tại Việt Nam năm 2017 đạt đến 2,385 USD (tăng gần 170 USD so với năm 2016) Đồng thời, mức thu nhập hàng tháng cũng như chi tiêu cho thức uống của người Việt ngày càng cao Trong năm 2016, mức tiêu thụ thức uống của người Việt Nam đạt đến 82 tỷ lít và dự kiến sẽ tăng lên 109 tỷ lít vào năm 2020, tương đương mức tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 6%
Theo báo cáo thị trường của Nielsen về ngành sản xuất hàng tiêu dùng nhanh năm
2017, các loại đồ uống (bao gồm bia, nước giải khát, nước uống tăng lực, nước uống thể thao, nước lọc đóng chai, nước uống dinh dưỡng, nước trái cây, trà túi lọc, trà chai, cà phê chai/lon, cà phê) đóng góp nhiều nhất cho doanh số của ngành, khoảng 41%, và mức tăng trưởng trung bình đạt 9,2%/năm Cơ cấu tiêu dùng này được dự đoán sẽ không thay đổi trong những năm tới
Trong nhóm đồ uống có cồn, mặt hàng bia vẫn giữ ưu thế là thức uống phổ biến Theo báo cáo của Hiệp hội Bia - rượu - nước giải khát Việt Nam, năm 2017 lượng bia các loại
Trang 6tiêu thụ trên cả nước đạt hơn 4 tỉ lít, tăng 6% so với năm 2016 Mặc dù nhiều doanh nghiệpvẫn than khó khi mức thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng bia đã tăng lên 60% từ năm
2017 và tiếp tục tăng lên 65% từ đầu năm 2018 nhưng với lượng tiêu thụ liên tục gia tăng, doanh số và lợi nhuận của các công ty ngành bia vẫn tăng
Đáng chú ý, lượng rượu bia trung bình sử dụng trên thế giới không tăng trong vòng mộtthập niên qua, trong khi ở VN lại tăng trưởng theo chiều "thẳng đứng" Thống kê cho thấy, năm 2008 VN mới đứng thứ 8 châu Á về tiêu thụ bia, nhưng 8 năm sau (2016) đã trở thànhquốc gia tiêu thụ nhiều thứ 3 trong khu vực, sau Nhật Bản và Trung Quốc
Xu hướng tiêu thụ sắp tới của ngành bia thế giới tập trung vào phân khúc bia cao cấp, trào lưu bia thủ công và xu hướng đa dạng trải nghiệm uống Cùng với đó là mối quan tâm của người tiêu dùng đối với sức khỏe ngày càng gia tăng sẽ thúc đẩy sự ra đời và phát triểncủa các sản phẩm bia ít/không cồn
Đây cũng chính là lý do khiến thị trường bia nói riêng, đồ uống nói chung của Việt Nam luôn được đánh giá tiềm năng trong mắt các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Ngày nay, người tiêu dùng quan tâm đến sức khỏe nhiều hơn, họ hạn chế sử dụng các thức uống có cồn hay có ga Thay vào đó, họ chuyển sang dùng các thảo mộc, thức uống từthiên nhiên tốt cho sức khỏe Tuy nhiên, quan tâm về sức khỏe không có nghĩa là người Việt tiêu thụ ít thức uống có cồn hơn – đặc biệt là bia Việt Nam là quốc gia có lượng lượng bia tiêu thụ đầu người cao nhất Đông Nam Á Uống bia cùng bạn bè và đồng nghiệpđược xem như là hoạt động giao lưu xã hội, hỗ trợ cho việc kinh doanh không thể thiếu trong văn hóa người Việt
Xu hướng cao cấp hóa (premiumisation) ngày càng rõ khi người tiêu dùng Việt đang chuyển sang tiêu thụ các loại thức uống giá trị cao hơn, điển hình nhất là thị trường bia – rượu Theo ông Mikio Masawaki, Tổng Giám đốc Sapporo Vietnam, tốc độ phát triển của phân khúc bia cao cấp ngày càng tăng, có thể đạt đến 20% vào năm 2020
Trang 72 Xu hướng tiêu thụ ngành Bia – rượu – nước giải khát tại thị trường Thế giới
Theo ước tính của tổ chức nghiên cứu Technavio, ngành bia thế giới được dự đoán sẽtăng trưởng với tốc độ chậm với CAGR vào khoảng 2% trong giai đoạn 2016-2020, vớiđộng lực tăng trưởng chủ yếu đến từ các khu vực còn nhiều tiềm năng là châu Phi và châu
Á Thị trường bia tại các quốc gia đang phát triển, với tốc độ gia tăng dân số cao, tỷ trọngdân số trẻ và người trong độ tuổi lao động lớn như Nigeria, Saychelles, Gabon, Việt Nam,
Ấn Độ… sẽ là những nơi thu hút đầu tư, nhập khẩu và có lượng tiêu thụ bia tăng trưởngnhanh nhất Thị trường ngành bia thế giới vẫn duy trì mức độ tập trung cao vào một số tậpđoàn bia đa quốc gia như AB Inbev, Heineken, Carlsberg… Tuy nhiên, song song đó sẽ là
sự trỗi dậy của các đối thủ cạnh tranh đến từ địa phương trong phân khúc bia thủ công vàcác đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài trong phân khúc bia cao cấp nhập khẩu Về phânkhúc sản phẩm, các dòng bia premium và super-premium đang dần trở thành lựa chọn củangười tiêu dùng, đặc biệt là phân khúc super-premium được dự kiến sẽ tăng trưởng gấp balần sản lượng hiện tại cho tới năm 2020 Phương thức đóng gói sản phẩm cũng ảnh hưởngrất nhiều đến hành vi người tiêu dùng Bia đóng chai đòi hỏi chi phí vận chuyển và bảoquản cao hơn; ngược lại, bia lon lại có lợi thế hơn đối với hai loại chi phí này và có khảnăng bảo vệ bia khỏi nhiệt độ cao của môi trường bên ngoài Vì vậy, nhu cầu và thị phầnbia lon với xu hướng tăng mạnh trong các năm gần đây được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trongthời gian tới
- Hiệp hội Bia – Rượu – Nước Giải Khát Việt Nam
II Những quy định pháp lý quản lý và điều chỉnh thị trường Bia Việt Nam
Trong thực tế, ngành đồ uống có cồn nói chung và ngành bia nói riêng được đánh giá làngành hàng gây tác động tiêu cực đến sức khỏe của người tiêu dùng và an ninh xã hội Đặcbiệt, Việt Nam lại là cái tên thuộc top những quốc gia tiêu thụ rượu bia nhiều nhất trên thếgiới Ngoài ra, hằng năm số vụ tai nạn giao thông và các tệ nạn xã hội xuất phát từ ảnh
Trang 8hưởng của rượu bia tại Việt Nam là rất cao (gần 40%) Chính vì thế, Chính phủ và các tổchức xã hội đã có những biện pháp, hoạt động nhằm hạn chế việc sử dụng rượu bia nhưtăng cường giáo dục về tác hại của rượu bia, tăng thuế tiêu thụ đặc biệt,… Dưới đây làmột số quy định pháp lý:
• Thông tư 45/2010/TT-BYT: Ban hành quy chuẩn kĩ thuật quốc gia đối với các sản phẩm đồ uống có cồn, kèm thông tư QCVN 6-3:2010/BYT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với các sản phẩm đồ uống có cồn
• Thông tư 164/2013/TT-BTC: Ban hành biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu ưu đãi theo danh mục mặt hàng chịu thuế
• Quyết định số 244/QĐ-TTg: Về chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2020
• Thông tư 175/2014/TT-BTC: Quy định việc quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước thực hiện công tác phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn
• Luật số 70/2014/QH13: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, có hiệu lực từ ngày 1/1/2016 Biểu thuế tiêu thụ thụ đặc biệt có lộ trình như sau:
Từ 1/1/2016 đến hết ngày 31/12/2016: thuế suất 55%
Từ 1/1/2017 đến hết ngày 31/12/2017: thuế suất 60%
Trang 9III Các hiệp định thương mại tự do ảnh hưởng đến ngành bia Việt Nam:
Gần như 100% nguyên liệu đầu vào dùng để sản xuất bia đều được nhập khẩu Tuy nhiên, nhờ vào các hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là các nước châu Âu, Úc, Trung Quốc đã giúp giảm thuế nhập khẩu của các nguyên liệu như malt, hoa bia, men bia từ các quốc gia cùng ký kết hiệp định
Theo như Thông tư số 164/2013/TT-BTC Ban hành Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục mặt hàng chịu thuế, thuế suất nhập khẩu của malt, hoa bia
và men bia lần lượt là 5%, 5% và 7% Với các hiệp định TMTD kể trên, thuế suất nhập khẩu nguyên liệu cho ngành bia đã được giảm xuống đáng kể, với mức thấp nhất là 0%, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất bia trong nước nhập được nguyên liệu với giá thấp hơn, giảm thiểu được chi phí trong khâu đầu vào
Trang 10Mặt khác, việc tự do hóa thương mại cũng mang lại nhiều thách thức mới cho các doanh nghiệp sản xuất bia trong nước Cụ thể, khi các FTA được ký kết và các hàng rào bảo hộ được gỡ bỏ, Việt Nam, với lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, chi phí sảnxuất và nhân công thấp, trở nên vô cùng hấp dẫn đối với các nhà đầu tư ngoại, thu hút ngàycàng nhiều nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI) đổ vào trong nước Điều này tạo áp lực cạnh tranh gay gắt lên các doanh nghiệp bia nội địa, có phần thua kém hơn về năng lực tài chính, kinh nghiệm quản lý, công nghệ sản xuất… so với các hãng bia khác như Heineken,Carlsberg, AB-Inbev… Bên cạnh đó, thuế nhập khẩu bia vào Việt Nam cũng được cắt giảmthông qua một số FTA xuống chỉ còn 5% (chi tiết xem tại bảng dưới) Sắp tới đây, theo cam kết trong Hiệp định TMTD Việt Nam – EU (28) dự kiến có hiệu lực trong năm 2018, Việt Nam sẽ xóa bỏ thuế quan (thuế nhập khẩu còn 0%) theo lộ trình 10 năm Điều này đồng nghĩa với việc bia nhập khẩu sẽ đổ bộ mạnh mẽ vào thị trường Việt Nam trong nhữngnăm sắp tới, đặc biệt là các loại bia từ thị trường EU, gia tăng thêm áp lực cạnh tranh cả vềchủng loại và chất lượng sản phẩm cho ngành.
Trang 11Hoạt động xuất khẩu bia của Việt Nam cũng sẽ có cơ hội phát triển, đặc biệt là sang thị trường các nước ASEAN, Trung Quốc (với thuế suất nhập khẩu 5%) và châu Âu (nhờ vào hiệp định EVFTA, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang EU được sự kiến sẽ tăng
khoảng 10% đến năm 2025) Điều này càng khiến cho Việt Nam trở thành một thị trường hấp dẫn trong mắt các hãng bia ngoại, với mục tiêu lấy Việt Nam làm bàn đạp để phát triển
và bành trướng ra toàn khu vực Đông Nam Á và Châu Á – Thái Bình Dương
1 Dân số:
Theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp quốc, dân số Việt Nam là 95.592.777 người vào ngày 20/01/2018 chiếm 1,27% dân số Thế giới, đứng thứ 14 trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ Tính đến thời điểm hiện tại có gần đến 70% dân số có độ tuổi
từ 15-64 tuổi, trong đó có 34,4% là nam và 34,5% là nữ
Dân số đại diện cho các lực lượng kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến doanh số bán bia Theomột nghiên cứu gần đây, mức tiêu thụ bia của người Việt Nam là 44 lít/người/năm, hầu hết người tiêu dùng bia thường xuyên nằm trong độ tuổi từ 15 -64 tuổi Và Việt Nam cũng đã
ở trong thời kỳ dân số vàng trong suốt 29 năm qua với tỷ lệ người trong độ tuổi lao động (15-64 tuổi) luôn ở mức cao hơn 50% tổng dân số Do đó, sản lượng bia tiêu thụ đã tăng qua các năm
Trang 12Dựa vào biểu đồ trên, cho thấy từ năm 2016 trở đi, dân số Việt Nam sẽ có xu hướng giàhóa đi, độ tuổi trên 64 tuổi tăng lên, lượng bia tiêu thụ tại Việt Nam co nguy cơ giảm đi Vìthế để tăng doanh thu, lợi nhuận, các công ty bia nội địa nên đẩy mạnh xuất khẩu.
2 Thu nhập
Chỉ số GNI/người (thu nhập quốc dân bình quân đầu người) tại Việt Nam liên tục tăng trong giai đoạn 1991-2017, từ mức 110 USD/người trong năm 1991 lên 2385 USD/người năm 2017 Tốc độ tăng trưởng của chỉ số GNI/người tại nước ta dao động trong khoảng 4%-6% giai đoạn 2000-2017 Cũng theo dự báo của Tổng cục Thống kê Việt Nam, số người có thu nhập được xếp vào tầng lớp trung lưu theo chuẩn quốc tế (có sức mua > 15 USD/ngày) được dự kiến sẽ chiếm một nửa dân số Việt Nam vào năm 2035 thay vì chỉ chiếm 11% như hiện tại Theo nghiên cứu của tổ chức Nielsen, Việt Nam kết thúc năm
2016 với chỉ số niềm tin người tiêu dùng cao, trở thành quốc gia đứng thứ 5 về mức độ lạc quan trên thế giới Cũng theo nghiên cứu này, người Việt tuy có chỉ số tiết kiệm cao nhất thế giới (76% thu nhập dành cho tiết kiệm) nhưng cũng sẵn sàng chi tiêu cho các hoạt động giải trí bên ngoài Như vậy, triển vọng tích cực về tình hình tài chính cá nhân, sự lạc quan của người tiêu dùng cùng với xu hướng chi tiêu ngày càng nhiều cho các hoạt động giải trí bên ngoài sẽ là động lực kích thích tăng trưởng trong tiêu thụ bia, đặc biệt là qua các kênh On-trade
Trang 13C PHÂN TÍCH CÔNG TY
I Giới thiệu công ty
Tổng Công ty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn, tên giao dịch Sabeco (Saigon Beer-Alcohol-Beverage Joint Stock Corporation) - là một doanh nghiệp cổ phần
tại Việt Nam
Mặc dù là công ty cổ phần nhưng Nhà nước vẫn nắm gần 90% vốn điều lệ doanh nghiệp này và Bộ Công Thương đóng vai trò là người đại diện phần vốn Nhà nước tại Sabeco (2016) Tháng 12/2017, công ty con của tỷ phú Thái Charoen Sirivadhanabhakdi làCông ty TNHH Vietnam Beverage mua trọn 53,59% cổ phần nhà nước chào bán tại
Sabeco với giá tiền là 4,8 tỷ USD
Từ mức sản lượng khiêm tốn 21,5 triệu lít vào năm 1977, sau 39 năm phát triển, đến năm 2016, Bia Sài Gòn đã đạt mức sản lượng tiêu thụ 1,59 tỷ lít Đến nay , dù trên thị trường đã xuất hiện rất nhiều thương hiệu bia nổi tiếng trên thế giới, nhưng Bia Sài Gòn vẫn đang là thương hiệu Việt dẫn đầu thị trường bia Việt Nam và đang trên đường chinh phục các thị trường khó tính như Đức, Mỹ, Nhật, Hà Lan…
II Lịch sử hình thành công ty
Tiền thân của công ty là một xưởng bia nhỏ do ông Victor Larue, một người Pháp tại
Đông Dương, lập ra tại Sài Gòn vào năm 1875
Năm 1910, xưởng phát triển thành một nhà máy hoàn chỉnh, sản xuất bia, nước ngọt và
nước đá
Năm 1927, nhà máy chính thức sáp nhập vào hệ thống hãng BGI của Pháp.
Năm 1977, được Công ty Rượu Bia Miền Nam quản lý và được đổi tên thành Nhà máy
Bia Sài Gòn
Trang 14Năm 1993, Nhà máy Bia Sài Gòn trở thành Công ty Bia Sài Gòn sau khi sáp nhập lần
lượt các Nhà máy Nước đá Sài Gòn, Nhà máy Cơ khí Rượu Bia và Nhà máy Nước khoáng Đakai
Năm 2003, Tổng Công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (SABECO) được thành
lập, trên cơ sở Công ty Bia Sài Gòn và tiếp nhận các thành viên mới là Công ty Rượu BìnhTây, Công ty Nước giải khát Chương Dương, Nhà máy Thủy tinh Phú Thọ và Công ty Thương mại Dịch vụ Bia - Rượu - NGK Sài Gòn
Năm 2008, chuyển đổi mô hình hoạt động qua quá trình cổ phần hóa, Tổng Công ty cổ
phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn được thành lập
Năm 2016, SABECO chính thức niêm yết cổ phiếu trên SGDCK TP.HCM, mã chứng
khoán: SAB
III SẢN PHẨM
SABECO chuyên sản xuất và kinh doanh các sản phẩm bia, rượu và nước giải khát với
cơ cấu doanh thu có bia chiếm tỉ trọng lớn nhất (98% năm 2016) và phần còn lại là rượu và nước giải khát
Bia Sài Gòn đã phát triển 8 dòng sản phẩm là bia chai Saigon Lager 450, bia chai Saigon Export, bia chai Saigon Special , bia chai Saigon Lager 355, bia chai 333
Premium, bia lon 333, bia lon Saigon Special, bia lon Saigon Lager
Về mảng rượu và nước giải khát, SABECO nổi tiếng với nước Sá xị và Rượu Bình Tây
Sản phẩm Tỷ lệ phần trăm