Biến đổi đô thị từ quan điểm toàn cầu: Các nguyên tắc tái thiết thành thành phố Paul James Các đô thị đã luôn luôn có vai trò quan trọng với những tiến trình toàn cầu hóa và thay đổi
Trang 1Paul James, ‘Biến đổi đô thị từ quan điểm toàn cầu: Các nguyên tắc tái thiết thành thành phố’ in Phạm Quang Minh, Nguyễn Văn Sửu, Ang May Ien, and Gay Hawkins, eds, Toàn cầu hóa và biến đổi đô thị ở Việt Nam đương đại, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2016
Biến đổi đô thị từ quan điểm toàn cầu:
Các nguyên tắc tái thiết thành thành phố
Paul James
Các đô thị đã luôn luôn có vai trò quan trọng với những tiến trình toàn cầu hóa và thay đổi toàn cầu, trong quá khứ và hiện tại Các
đô thị là trung tâm của những đế chế, ít nhất là vào giai đoạn mà
người La Mã tuyên bố gửi thành La Mã và thế giới (urbis et orbis)
rằng: Thành phố La Mã chính là Hòn ngọc của Thế giới Vào thế kỷ
16 Thành phố Seville chứng kiến sự trở lại của chiếc thuyền buồm
Victoria, chiếc thuyền chở những con người đầu tiên đi vòng quanh
thế giới Kể từ thế kỷ 19 tới đầu thế kỷ 20, Thành phố London là trung tâm của một đế chế đã chiếm lĩnh hơn một phần tư diện tích lãnh thổ trên trái đất Sử dụng cách gọi tên tương tự của Đế chế Tây Ban Nha, London tuyên bố mình là thủ phủ của một đế chế nơi mặt trời không bao giờ lặn Dù một số tác giả gợi ý rằng ‘những thành phố toàn cầu’
là hiện tượng của thế kỷ 21 và chúng có được vị thế toàn cầu chủ yếu nhờ sự dịch chuyển nguồn vốn tài chính, quá trình toàn cầu hóa các thành phố đã tăng mạnh từ rất lâu rồi Tuy nhiên, dù toàn cầu hóa và
đô thị hóa đã giao thoa với nhau trong nhiều thế kỷ, có một số thay đổi đã tạo ra chuyển biến về chất trong từ bốn tới năm thập niên qua
Thứ nhất, về sinh thái, đã có sự biến đổi dân số về lâu dài và
rộng khắp trên khắp toàn cầu của xu hướng sinh sống ở đô thị Xu hướng tập trung người dân ở thành thị đã nhảy vọt về chất từ thế kỷ
20 sang giai đoạn hiện tại Tiến trình đô thị hóa này song hành với mức độ gia tăng khí thải nhà kính khổng lồ, tập trung vào các đô thị
Ở Úc, hai đô thị Melbourne và Sydney chiếm 40% tổng dân số Ở
Trang 2Việt Nam, hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh chiếm gần 20% dân
số cả nước Dù lượng khí thải nhà kính ở Hà Nội và Hồ Chí Minh là tương đối thấp so với Melbourne và Sydney, lượng khí thải hẳn sẽ tăng gấp 3 vào năm 2030 trừ khi người ta thực hiện những biện pháp giảm khí thải mạnh mẽ Nghiên cứu của Chương trình Định cư Con người LHQ cho rằng trong những thập niên sau hầu như toàn bộ tăng trưởng dân số thế giới sẽ diễn ra ở đô thị với những hệ quả lớn về áp lực cơ sở hạ tầng.1
Thứ hai, về kinh tế, các thành phố từ London và New York tới
Hà Nội và Sydney trở thành nút thắt của những hệ thống tài chính tư bản quốc gia và toàn cầu, với tất cả những căng thẳng giữa các quy
mô khác nhau bắt nguồn từ chủ nghĩa khu vực đa cấp độ Khi sản xuất chuyển hướng từ nông nghiệp sang công nghiệp và sau đó là tới sản xuất dịch vụ, những thành phố trở thành trung tâm của sản xuất và trao đổi toàn cầu Từ lâu, các thành phố ở những nước nhỏ như Anh Quốc, Ư và Hà Lan đã trở nên giàu có nhờ những mạng lýới buôn bán
Sự chuyển hướng sang tập trung vào dòng chảy vốn tài chính trong suốt thế kỷ 20 còn diễn ra chóng mặt hơn, thu hút tất cả các thành phố vào tầm ảnh hưởng của mình bằng cách này hay cách khác
Thứ ba, về chính trị, các thành phố đã ngày càng ý thức hơn
trong việc tham gia vào mạng lưới giữa thành thị với nhau Những quan hệ liên thành thị xuyên biên giới quốc gia không phải là mới, nhưng việc nhấn mạnh vào xây dựng mạng lưới đã thay thế quan niệm
cũ hướng vào địa vị bằng quan niệm mới là các thành phố phải vươn mình ra môi trường toàn cầu Cũng như thế kỷ 19 được gọi là thế kỷ của những đế chế, và thế kỷ 20 là thế kỷ của những quốc gia-dân tộc, thế kỷ 21 được gọi là thế kỷ của những thành phố Tất cả các thành phố, với những cách thức và mức độ khác nhau, đều phải đối mặt với những hệ quả chính trị của toàn cầu hóa
1 Chương trình Định cư Con người LHQ, 2010, State of the World’s Cities
Trang 3Thứ tư, về văn hóa, các thành phố đã trở thành những nút thắt
chính trong quan hệ truyền thông kỹ thuật số trừu tượng vốn kết nối cấp độ địa phương và toàn cầu Điều này có nguồn gốc từ cuộc cách mạng trong phương tiện truyền thông điện tử, đặc biệt là trong Mạng Thông tin Toàn cầu (World Wide Web) và Internet Những thành phố
đã luôn là khu vực kết nối người lạ vào quan hệ tương tác trên đường phố, nơi buôn bán và quảng trường, nhưng điều này càng trở nên mạnh mẽ hơn khi những khu vực này được bao phủ bằng các lớp ý nghĩa lan tỏa mặc cho những gì diễn ra trên đường phố Đường phố và quảng trường đã xuất hiện lại như những khu vực đề người ta giao lưu văn hóa và giao lưu trong những lĩnh vực khác, nhưng giờ đây chúng
đã bộc lộ những lớp ý nghĩa mới mạnh mẽ hơn Mạng Thông tin Toàn cầu đã phác họa khu vực này thế nào? Làm sao mà du khách biết được khu vực này? Liệu khu vực này có lưu giữ được ‘nguyên gốc’ văn hóa trong khi thay đổi để đáp ứng những nhu cầu địa phương-toàn cầu không? Đây là những câu hỏi hầu như không đáng bận tâm với các nhà quy hoạch thị trấn một nửa thế kỷ trước
Tất cả những diễn biến trên đã để lại tác động sâu sắc với đời sống xã hội Trong tham luận này tôi muốn phân tích rõ hơn mỗi khía cạnh trong bốn khía cạnh nói trên của đời sống xã hội và cho thấy là mỗi trường hợp đều không có câu trả lời đơn giản Thay vào đó chúng
ta gặp phải những nghịch lý, khó khăn và thách thức đan xen nhau đòi hỏi ta phải có góc nhìn mới trong lựa chọn các phương án Trước hết tôi muốn vạch ra một số những nghịch lý ở đây Sau đó tôi sẽ sử dụng hướng tiếp cận tương tự để thiết lập một tập hợp quy tắc toàn diện nhằm cải thiện các đô thị Hướng tiếp cận tôi sử dụng được gọi là
‘Nghiên cứu Gắn kết’ Hướng tiếp cận này rất coi trọng quan niệm rằng đời sống xã hội là đa diện và không thể bị quy giản thành những toan tính kinh tế cũng như những mệnh lệnh toàn cầu thuần túy Bởi đời sống xã hội là phức tạp, đa chiều và khả biến, nghiên cứu kết nối đòi hỏi phải liên tục khám phá những mối giao thoa giữa rất nhiều điều kiện tồn tại có tính thời điểm và ngẫu nhiên – trong văn hóa, kinh
tế, chính trị và sinh thái Vì thế mà nghiên cứu kết nối là một cách để hiểu những tập hợp, cấu trúc, giao điểm, thay đổi và diễn tiến xã hội
Trang 4phức tạp Để thực hiện tốt nghiên cứu kết nối ta phải có năng lực mà Ien Ang gọi là ‘trí tuệ văn hóa’ (cultural intelligence) Ở đây, hướng tiếp cận này được sử dụng để chỉ ra những mâu thuẫn và nghịch lý
Bố cục của tham luận này sử dụng phép phân loại ‘Vòng tròn đời sống xã hội’ (Circles of Social Life) để trình bày thảo luận
Vòng tròn đời sống xã hội cho rằng tất cả những vấn đề phức tạp có
ảnh hưởng tới mọi khu vực của đời sống xã hội – khu vực kinh tế, sinh thái, chính trị và văn hóa (trang web
www.CircleofSustainability.org là một ví dụ của việc phát triển
phương pháp này) Ban đầu tôi sẽ phân chia những khu vực này để thuận tiện cho việc thảo luận, nhưng thực tế chúng có liên hệ mật thiết với nhau
Trang 5Tất nhiên là có thể bổ sung những khu vực khác – ví dụ, một
số hướng tiếp cận hiện nay bổ sung công nghệ, cơ sở hạ tầng hay tri thức vào các khu vực xã hội Nhưng điều này làm phức tạp thêm mọi thứ Chẳng hạn, việc bổ sung ‘công nghệ’ sẽ dẫn tới quá đề cao khu vực này, quá nhấn mạnh vào tầm quan trọng về phương pháp luận của những yếu tố vượt trội hiện nay như đổi mới công nghệ trong phát triển đô thị, trong khi đổi mới công nghệ đã được nhiều người đánh giá quá cao Ví dụ điển hình nhất hiện nay là quan điểm nhấn vào ‘các
đô thị thông minh’ Quan điểm này ưu tiên những ‘ngành công nghiệp tri thức’ như là khu vực tách rời và ưu việt của đời sống xã hội Trào lưu ưa chuộng các đô thị thông minh hiện nay có liên hệ mật thiết với
doanh thu kinh tế và tri thức-vị-lợi nhuận Vòng tròn đời sống xã hội
mở rộng những lĩnh vực như tri thức, cơ sở hạ tầng và công nghệ đồng thời nghiêm túc coi chúng như những thành phần của mô hình bốn khu vực mà không cô lập lĩnh vực nào Một số đổi mới công nghệ đã đem lại nhiều lợi ích, nhưng đáng tiếc là những hệ tư tưởng hiện nay
thường tôn sùng bản thân các phương tiện truyền thông và công nghệ
thông tin như thể số lượng càng nhiều thì sẽ càng tốt Trái lại ta cần
đánh giá mỗi hoạt động và mỗi khu vực của hoạt động xã hội dựa theo
những gì ta đã làm được thay vì dựa theo số lượng hoạt động
Sinh thái: Các đô thị như khu vực để thoát khỏi nghèo đói nông thôn hay những kẻ thực dân của hành tinh này
Có hai cách thức để mô tả sự tăng trưởng các đô thị Cách thứ nhất là khảo sát tiến trình di dân từ bên ngoài vào đô thị Theo đó thì
đô thị hóa là tiến trình người dân di chuyển vào các thành phố - từng
cá nhân một, từng gia đình một Chúng ta biết những người dân này là
ai Họ là những người nghèo trên thế giới, rời bỏ làng xã nông thôn và tìm kiếm kế sinh nhai ở các đô thị đang dần tư sản hóa Họ là những nông dân, rời bỏ đất đai, và đánh cược tài sản gia đình mình đổi lấy đời sống lương hưu nhàn hạ Họ là những thanh niên rời bỏ các thị trấn nghèo tài nguyên để đi tìm tương lai xán lạn Ở Việt Nam, như
Trang 6nhiều nơi khác trên thế giới, vấn nạn ở đây là khi chạy theo những cơ hội ở thành phố, họ đang đặt gánh nặng rất lớn lên cơ sở hạ tầng đô thị
Cách thứ hai để mô tả đô thị hóa là quan điểm có tính cấu trúc hơn Quan điểm này mô tả một mô hình tăng trưởng và mở rộng nhấn mạnh vào thay đổi xã hội, trong đó có thay đổi ở nông thôn Đây là tiến trình hai chiều:
- Các đô thị xâm chiếm nông thôn, lấn chiếm đất đai nông nghiệp trước đây; và
- Các khu vực nông thôn bị cuốn vào tiến trình máy móc hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp, và gia tăng tính hiệu quả kỹ
thuật-khoa học, nói cách khác là người ta đòi hỏi ít lao động ở nông thôn hơn và những phương thức sinh kế nông thôn sẽ gây
ra nhiều rủi ro hơn với người dân
Cả hai quan điểm trên, đô thị hóa như việc người dân di chuyển tới các thành phố hoặc sự tái tổ chức quan hệ giữa khu vực nông thôn và đô thị, đều chính xác Tuy nhiên, quan điểm đầu tiên đã quên mất thực tế là có những tiến trình lớn hơn thúc đẩy đô thị hóa: chủ nghĩa tư bản lan rộng toàn cầu, những hệ thống buôn bán tài chính, đòi hỏi công nghệ-khoa học, và các phương tiện truyền thông (Ngoài chủ đề một chút, có thể thấy là nhiều nhà bình luận cho rằng yếu tố cuối cùng trong các tiến trình đó – các phương tiện truyền thông – sẽ cho phép người ta giao tiếp với nơi làm việc từ nơi ở tại nông thôn, nhưng điều ngược lại đang xảy ra Tôi sẽ quay lại điểm này sau)
Trước sự lan rộng của những tiến trình này, và giả định rằng dân số thế giới đang tăng lên (chóng mặt), chúng tôi rút ra nghịch lý chính về sinh thái sau đây:
Đô thị đang là tâm điểm của những vấn đề sinh thái mà hành tinh này phải đối mặt, nhưng việc xây dựng phương thức sinh kế tích cực và bền vững ở đô thị là cách duy nhất để chúng ta duy trì đời sống
xã hội cho tới khi thế kỷ này kết thúc
Trang 7Trên thực tế, trong bối cảnh tăng trưởng dân số thế giới hiện nay, việc gia tăng mật độ nhà ở đô thị một cách bền vững cùng với nâng cao hiệu quả năng lượng và sử dụng ít tài nguyên là phương án
duy nhất Giờ đây chúng ta không thể cứu hành tinh này bằng cách
xây dựng trên những lô đất nhỏ, tự quản nữa Nếu không thay đổi những tính toàn khác, nếu chúng ta phân chia thế giới phi đô thị thành những lô đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu của dân số tư sản hóa trên thế giới, ta sẽ càng lâm vào khủng hoảng hơn Theo Ngân hàng Thế giới, Hoa Kỳ chỉ còn 0,49 héc ta đất nông nghiệp/một công dân, còn Trung Quốc chỉ có 0,08 héc ta và Việt Nam có 0,07 héc ta Nếu không có một cuộc cách mạng trong sinh kế của mình, những con số này sẽ khiến chúng ta bất lực trong tự quản lý đất đai.2
Kinh tế: Đô thị như những trung tâm của chủ nghĩa tư bản địa phương, quốc gia và toàn cầu
Cũng như ở khu vực sinh thái, chúng ta đối mặt với những mâu thuẫn và nghịch lý, ở khu vực kinh tế cũng tồn tại tình trạng tương tự Tôi chỉ muốn đề cập tới một nghịch lý liên quan tới những
áp lực sinh thái như biến đổi khí hậu và hủy diệt các giống loài:
Các đô thị đã trở thành những động lực của tăng trưởng kinh
tế, nhưng điều này diễn ra thông qua sự thống trị của một nhóm toàn cầu đơn lẻ-có đặc trưng là sản xuất tư bản chủ nghĩa, trao đổi tài chính tăng mạnh, và đòi hỏi kỹ thuật-khoa học-vốn là nguyên nhân chính khiến cho con người có nguy cơ lâm vào sự suy sụp toàn cầu
Trong những nghiên cứu khác, các đô thị trở thành địa bàn chính để con người sinh sống trong giai đoạn được gọi là Kỷ nguyên Loài người (Anthropocene) Chúng ta là nền văn minh con người đầu tiên có đủ khả năng kỹ thuật và công nghệ để từ bỏ những ý niệm trước đây về biên giới và giới hạn của hành tinh này
2 http://data.worldbank.org/indicator/AG.LND.ARBL.HA.PC truy cập lần cuối ngày
Trang 8Chính trị: Đô thị như những chủ thể trong các cơ chế mạng lưới toàn cầu
Hầu như bất cứ ai sống trong môi trường quản trị đô thị đều cho rằng xây dựng mạng lưới đô thị là giải pháp để đối phó với tính phức tạp của những thách thức toàn cầu-địa phương, đặc biệt khi quốc gia-dân tộc không còn giữ địa vị chắc chắn trên thế giới Nhìn chung, người ta cho rằng các mạng lưới là cách thức hiệu quả để kết nối Tuy nhiên, sự đề cao ‘xây dựng mạng lưới’ gắn liền với hai diễn biến mâu thuẫn nhau, trong số nhiều diễn biến khác Thứ nhất, người ta đã coi xây dựng mạng lưới là phương án thay thế tiến bộ cho các quan hệ quốc tế dựa vào quốc gia, nhưng những khả năng hợp tác liên thành phố vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào dạng quan hệ cũ đó Thứ hai, người
ta đã coi các mạng lưới là phương án thay thế tiến bộ cho những quan
hệ khép kín hơn, nhưng chúng cũng bị những cá nhân, tập đoàn và thành phố lợi dụng như công cụ tạo dựng ưu thế về địa vị và khả năng liên kết Trong một ý kiến hiếm có với hàm ý chỉ trích, Manuel Castells nói rằng: ‘những mạng lưới toàn cầu của các trao đổi bị lợi dụng để sàng lọc các cá nhân, nhóm, khu vực và thậm chí đất nước, tùy thuộc vào tầm quan trọng của họ trong những mục tiêu mà người
ta đặt ra trong mạng lưới ấy’.3
Văn hóa: Đô thị như những nút thắt của quan hệ truyền thông kỹ thuật số trừu tượng hơn
Ở trên tôi đã ghi chú rằng nhiều nhà bình luận cho rằng cuộc cách mạng truyền thông kỹ thuật số cho phép người ta giao tiếp với nơi làm việc từ những nơi ở tại nông thôn, nhưng dường như điều ngược lại đang diễn ra Những phương tiện truyền thông kỹ thuật số phát triển và khả năng kết nối ngày càng nhanh chóng với không gian
Trang 9nằm ngoài tầm với con người cũng liên hệ với sự đô thị hóa nhanh hơn Đây chỉ là một trong số nhiều vấn đề trong khu vực văn hóa Một vấn đề nữa là với nhiều người thì khả năng kết nối nhanh hơn đem lại cho họ cả cơ hội tương tác xã hội lẫn nguy cơ trở nên cô độc hơn
Ở đây tôi muốn chỉ ra một nghịch lý:
Đời sống xã hội càng phải trải qua trung gian là những công nghệ truyền thông và bị quy giản thành những lựa chọn tiêu dùng, thì người ta càng huyễn hoặc hóa sự gần gũi của đời sống cộng đồng mặt-đối-mặt
Tại rất nhiều thành phố trên thế giới, những quan hệ cộng đồng hiện nay đã trở thành thứ yếu hay thừa thãi, bị đóng khung trong những khoảnh khắc tách biệt của đời sống con người hay giây phút
mà người ta phải tập hợp lại Cư dân thành thị ngày càng có xu hướng gặp nhau để ngắm nhìn màn ảnh TV hay như người lạ trên đường phố,
đi lại song song với nhau và tiêu thụ những xu hướng lối sống như nhau Một nhóm những tác giả học thuật nổi tiếng đã ủng hộ diễn biến
này Cuốn sách Who’s Your City? của Richard Florida đã biến câu hỏi
thiết yếu của cuộc sống là ‘Bạn muốn sống ở đâu?’ thành một lựa chọn tiêu dùng Ông hỏi ngây thơ là tại sao người khác lại xem nhẹ
‘yếu tố nơi chốn,’: ‘Có thể vì rất ít người trong chúng ta không có đủ hiểu biết hay nền tảng trí tuệ để đưa ra những quyết định có cơ sở về địa điểm’.4 Nhưng ông sai lầm mất rồi – ‘địa điểm, địa điểm, địa điểm’ (location, location, location) là điệp khúc quen thuộc của bất cứ chương trình tư vấn nhà ở nào trên truyền hình phương Tây ngày nay Lấn chiếm đường phố và bỏ tiền vào mặt tiền đô thị đắt giá nào đó
hiện đang là cách thức phổ biến toàn cầu để hiểu biết về đất đai
4 Richard Florida, Who’s Your City? How the Creative Economy is Making Where to
Trang 10Trong bối cảnh những thách thức và phức tạp này, làm sao chúng ta có thể đề xuất một tập hợp toàn diện và hệ thống những nguyên tắc thay thế để cải thiện đô thị của mình?5
Hướng tới một tập hợp những nguyên tắc đô thị thay thế
Những đề xuất sinh thái
Cần phải xây dựng quan hệ chặt chẽ và gắn bó hơn giữa những khu định cư đô thị với tự nhiên:
1 Thiết kế các khu định cư đô thị theo nguồn năng lượng có thể tái tạo tại địa phương, được quy hoạch theo phạm vi rộng, và tất cả các công trình hiện nay được sửa sang lại để phục vụ sử dụng tài nguyên hiệu quả;
2 Khôi phụ lại trạng thái trước khi định cư của những đường kênh rạch, nếu có thể, bao bọc chúng bằng những không gian xanh tự nhiên;
3 Tăng cường hay củng cố những công viên sinh thái – trong đó
có những khu vực là môi trường sống của động vật và chim muông bản địa –trong khu vực đô thị, kết nối chúng với nhau bằng các dải cây xanh thẳng hàng;
4 Thiết kế những khu định cư đô thị thành các cụm vùng (regional cluster) dựa theo những giới hạn tự nhiên và tăng trưởng đô thị
rõ ràng để ngăn chặn tình trạng lộn xộn và tái lập ranh giới đô thị-nông thôn; và tập trung các khu tăng trưởng có mật độ đô thị cao vào các điểm nút giao thông công cộng;
5 Thiết kế vỉa hè để đi bộ, làn đường dành cho phương tiện thô sơ,
và hành lang cho phương tiện công cộng bền vững, ưu tiên không gian đường phố cho xe hơi; và kết nối những tuyến đường chuyên biệt này trong khắp thành phố
5 Xem Paul James, với Liam Magee, Andy Scerri và Manfred Steger, Urban