Các nhà tâm lý học Xô viết không phủ nhận ý nghĩa của các vấn đề được đặt ra của các dòng phái trên về tuổi thanh niên và thừa nhận những nghiên cứu chuyên biệt về các qúa trình tâm sinh
Trang 1CHƯƠNG 2 : NHỮNG ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN TÂM LÝ CƠ BẢN CỦA
THANH NIÊN SINH VIÊN (từ 19 đến 25 tuổi)
I Những điều kiện phát triển của thanh niên sinh viên:
1 Quan niệm về giai đoạn tuổi thanh niên:
Tuổi thanh niên là một hiện tượng xã hội rất phức tạp và là đối tượng nghiên cứu của nhiều quan điểm lý luận khác nhau, của các dòng phái khác nhau
- Dòng phái sinh vật phát sinh phân định tuổi thanh niên chủ yếu dựa trên sự chín muồi
về phương diện sinh vật của cơ thể (Đại diện nhà TLH Hall, A Gezell người Mỹ) A Gezell quan niệm lứa tuổi thanh niên là sự chuyển tiếp từ trẻ con sang người lớn và kéo dài từ 11 tuổi đến 21 tuổi Ở đây ông đã đồng nhất sự tăng trưởng ( sự chín muồi về sinh vật) và sự phát triển tâm lý
- Dòng phái xã hội phát sinh nghiên cứu thanh niên do ảnh hưởng của tâm lý học xã hội
( đại diện K Lêvin người Đức) quan niệm: hành vi con người vừa là chức năng của nhân cách và vừa là chức năng của hoàn cảnh xung quanh nó Tuy nhiên, những thuộc tính của nhân cách và thuộc tính của hoàn cảnh có quan hệ với nhau K.Lê vin coi sự mở rộng phạm vi sống của cá nhân, mở rộng phạm vi giao tiếp của nó, sự lệ thuộc nhóm và kiểu người mà nó định hướng vào là quá trình quan trọng nhất của lứa tuổi chuyển tiếp Hành
vi của thanh niên được quy định trước hết là tính quá độ về vị trí của nó
Ưu điểm cơ bản của quan niệm này là Lêvin đã coi thanh niên như hiện tượng tâm lý xã hội có liên quan đến sự phát triển tâm lý của cá nhân với sự thay đổi hoàn cảnh xã hội của nó Tuy nhiên quan niệm này còn rất trừu tượng và không xác định rõ giới hạn của thời kỳ quá độ từ trẻ em sang người lớn
- Dòng phái tâm lý phát sinh: dòng phái này không phủ nhận ý nghĩa của các dòng phái
nói trên nhưng xem xét tuổi thanh niên dựa vào trước hết là các quá trình tâm lý của cá nhân Hành vi con người được giải thích hoặc dựa vào các thuật ngữ về cảm xúc hoặc dựa vào năng lực nhận thức và trí tuệ, hoặc chỉ chú ý đến nhân cách nói chung E Erisơn
là đại biểu cho lý thuyết cảm xúc để xem xét tuổi thanh niên trên quan điểm phương pháp luận triết học là phát triển quan niệm phân tâm học của Z Phrớt Ông chia cuộc đời con người thành 8 giai đoạn và mỗi giai đoạn có thể thuận lợi hay khó khăn cho sự phát triển trong tương lai Giai đoạn 5 và 6 là lứa tuổi thanh niên được biểu hiện ở tình cảm độc đáo, ở cá tính và sự khác biệt vói những người khác và trong hoàn cảnh tiêu cực là tính mâu thuẫn, là cái tôi bị khuyếch tán, lu mờ, là tính không xác định về vai trò của cá nhân Phạm vi vai trò cần thực hiện được mở rộng, nhưng cá nhân không nắm vững chúng một cách nghiêm túc Erisơn cũng phân tích cơ chế hình thành tự ý thức, tình cảm mới có tính chất tạm thời hứng thú tình dục và cả những quá trình bệnh lý và các phương án phát triển của thanh niên Ơ giai đoạn thứ 6 tương đương với tuổi thanh niên sinh viên được xác định bởi những nhu cầu và khả năng gần gũi thân mật với người khác kể cả sự gần gũi về tình dục Tình thế ngược lại là tình cảm cách biệt, cô đơn…
Các công trình nghiên cứu của Esisơn cho nhiều tài liệu quan sát có giá trị về sự phát triển xúc cảm và tự ý thức ở thanh niên và các kiểu bệnh tâm thần đối với lứa tuổi này Tuy nhiên, ông vẫn chưa thể khắc phục được những nguyên tắc chung trừu tượng của
Trang 2thuyết phân tâm dựa trên cơ sở phát triển tình dục Esisơn ít chú ý đến trí tuệ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nội dung của quá trình tâm lý
Các nhà tâm lý học Xô viết không phủ nhận ý nghĩa của các vấn đề được đặt ra của các dòng phái trên về tuổi thanh niên và thừa nhận những nghiên cứu chuyên biệt về các qúa trình tâm sinh lý, sự phát triển tình dục, xúc cảm, trí tuệ, tự ý thức, giao tiếp…Nhưng họ cho rằng các lý luận về thanh niên nói trên đã có thiếu sót về phương pháp luận là xem xét từng yếu tố riêng rẽ của sự phát triển Do đó, họ nhấn mạnh rằng: một trong những quá trình riêng không quyết định sự phát triển nhân cách nói chung Hơn nữa chính các quá trình từng phần đó chỉ có thể được hiểu trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau trên cơ
sở nguyên tắc thống nhất ý thức và hoạt động
Vậy khái niệm tuổi thanh niên và giới hạn của nó là gì?
TLH lứa tuổi định nghiã tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu từ sự phát dục và kết thúc vào lúc bước vào tuổi trưởng thành
Nội dung tuổi thanh niên là những giai đoạn cuộc đời Đó là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ
em đến người lớn và bao gồm lứa tuổi từ 11 –12 đến 23 –25 tuổi và được chia ra làm 3 thời kỳ:
+ Tuổi thiếu niên ( từ 11-12 đến 14 –15 tuổi) là tuổi chín muồi về giới, là tiếp tục ở giai đoạn đầu tiên của quá trình xã hội hoá nhân cách, là tuổi có nhiều mâu thuẫn về phương diện tâm lý Nét tâm lý mới quan trọng nhất ở lứa tuổi này là cảm nghĩ là người lớn và nó thể hiện ở mức độ kỳ vọng mới về vị trí tương lai của thiếu niên
+ Tuổi thanh niên mới lớn ( từ 14 –15 đến 18 tuổi) là “ thế giới thứ ba” tồn tại giữa trẻ
em và người lớn đúng hoàn toàn với nghĩa đó Đây là thời kỳ trưởng thành của cơ thể, sự chín muồi sinh vật đã hoàn thành ở đa số thanh niên Hoàn cảnh xã hội của thanh niên không giống nhau Thanh niên là giai đoạn hoàn thiện quá trình xã hội hoá đầu tiên Tính chât trung gian của vị trí và vị thế xã hội của thanh niên xác định chính đặc điểm tâm lý của nó, nhiều thanh niên còn rất lo lắng những vấn đề được kết thừa từ tuổi thiếu niên như quyền tự trị thoát khỏi người lớn nhưng đồng thời nó có nhiệm vụ tự xác định nhân cách nên tuyệt nhiên không tách khỏi người lớn mà nó định hướng rõ ràng và xác định vị trí của mình trong thế giới người lớn Nhờ có sự phát triển năng lực và hứng thú trí tuệ
mà thanh niên học sinh có thể chọn nghề, phát triển tự ý thức, hình thành thế giới quan và quan điểm sống cả những định hướng tâm lý tình dục đưôc xác định
+ Thời kỳ thứ ba của lứa tuổi chuyển tiếp ( từ 18 đến 23 –25 tuổi) là tuổi thanh niên muộn Khác với tuổi thiếu niên còn thuộc thế giới trẻ con và thanh niên học sinh là tuổi trung gian giữa trẻ con và người lớn, ở lứa tuổi 18 –25 con người là người lớn cả về phương diện sinh vật và quan hệ xã hội Đương nhiên SV vẫn còn là đối tượng còn đang được tiếp tục giáo dục, nhưng xã hội đã nhìn nhận họ như một chủ thể có trách nhiệm của hoạt động sản xuất xã hội và đánh giá các kết quả hoạt động của họ theo chuẩn của “ người lớn” Học tập của sinh viên không phải để có học vấn chung mà là chuẩn bị cho một nghề nghiệp chuyên môn nhất định, nên có thể coi là một hoạt động lao động, thậm chí là loại lao động cực nhọc Các thuộc tính tâm lý xã hội ở SV không chỉ phụ thuộc vào nhóm lứa tuổi mà còn phụ thuộc vào vị trí nghề nghiệp trong xã hội Hầu hết SV còn phụ thuộc vào kinh tế của cha mẹ
2 Sự phát triển thể chất:
Trang 3- Trọng lượng não đạt tới mức tối đa ( khoảng 1400g) và chứa 14 –16 tỷ nơron vớichất lượng hoàn hảo ( Theo G.S Lê Quang Long: SV có thể tích luỹ 2/3 lượng tri thức của cuộc đời trong 6 –7 năm trên ghế trường đại học) Ơ lứa tuổi thanh niên sinh viên còn có nhiều yếu tố bẩm sinh di truyền đã được biến đổi dưới ảnh hưởng của điều kiện sống và giáo dục
- Là giai đoạn phát triển ổn định, đồng đều về hệ xương, cơ bắp, tạo ra nét đẹp hoàn mỹ
ở người thanh niên
- Các tố chất về thể lực: Sức nhanh, sức bền bỉ, dẻo dai, linh hoạt đều phát triển mạnh nhờ sự phát triển ổn định của các tuyến nội tiết cũng như sự tăng trưởng các hoóc môn nam và nữ
3 Vai trò xã hội của sinh viên:
- Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội
- Sinh viên là một tầng lớp xã hội, một tổ chức xã hội quan trọng đối với mọi thể chế chính trị
- Thanh niên sinh viên là nhóm người có vị trí chuyển tiếp, chuẩn bị cho 1 đội ngũ tri thức có trình độ và nghề nghiệp tương đối cao trong xã hội, là nguồn dự trữ chủ yếu cho đội ngũ những chuyên gia theo các nghề nghiệp khác nhau trong cấu trúc của tầng lớp trí thức xã hội
- Sinh viên là công dân thực thụ của đất nước với đầy đủ quyền hạn và nghĩa vụ trước pháp luật
- Sinh viên được xã hội coi là 1 thành viên chính thức, một người trưởng thành nhưng tính chất trưởng thành của SV có những nét đặc trưng riêng
Khái niệm trưởng thành về xã hội được một số nhà xã hội học, TLH nghiên cứu Đến nay những tiêu chí mà họ đưa ra không phải đã hoàn toàn thống nhất Nhìn chung, nhiều tác giả đề xuất các tiêu chuẩn để xét một người đã trưởng thành gồm:
- Có quyền công dân đầy đủ
- Kết thúc việc học tập ở nhà trường
- Có nghềnghiệp ổn định
- Lao động làm ra của cải vật chất
- Có cuộc sống độc lập, không phụ thuộc bố mẹ về kinh tế
- Xây dựng cuộc sống gia đình riêng ( lấy vợ, lấy chồng) Nhà TLH Pháp Bianka Zazzo đã nghiên cứu tuổi trưởng thành của thanh niên và đi đến kết luận: trình độ học vấn và vị trí xã hội của con người có ảnh hưởng đến sự trưởng thành của họ Những nghiên cứu của ông cho thấy: thanh niên nông thôn trưởng thành về mặt xã hội sớm hơn thanh niên công nhân Thanh niên sinh viên trưởng thành về mặt xã hội muộn nhất Lý do là càng tham gia lao động sản xuất thì tình cảm trách nhiệm, tình cảm nghĩa vụ càng hình thành sớm và càng nhanh chóng sống độc lập, tách khỏi sự phụ thuộc vào cha mẹ Theo một số công trình nghiên cứu, nếu lấy mốc từ tuổi dậy thì, thời gian trưởng thành sẽ được tính như sau:
- Với thanh niên công nhân: tuổi dậy thì cộng thêm 4,8 năm
- Với cán bộ kỹ thuật: tuổi dậy thì cộng thêm 6,4 năm
- Với các nhà chuyên môn: tuổi dậy thì cộng thêm 8,4 năm
Trang 4Như vậy, sự trưởng thành về mặt xã hội phải được xem xét như một quá trình có nhiều mức độ, có tính năng động và phụ thuộc vào yếu tố khác nhau trong những điều kiện hoàn cảnh rất cụ thể Trên quan điểm này, sự trưởng thành về mặt xã hội của SV có những nét đặc trưng khác với người trưởng thành ở cùng độ tuổi Điều này cần được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn mới có thể đi đến những kết luận khách quan
4 Các hoạt động cơ bản của thanh niên sinh viên:
4.1 Hoạt động học tập:
* Hoạt động học tập ở đại học là một loại hoạt động tâm lý được tổ chức một cách độc đáo
của SV nhằm mục đích có ý thức là chuẩn bị trở thành người chuyên gia phát triển toàn diện sáng tạo và có trình độ nghiệp vụ cao
* Đặc điểm chung của hoạt động học tập ở SV:
+ Có tính chất độc đáo về mục đích và kết quả hoạt động
+ Hoạt động diễn ra trong điều kiện có kế hoạch vì nó phụ thuộc vào nội dung, chương trình, mục tiêu, phương thức và thời hạn đào tạo
+ Phương tiện hoạt động là các thư viện với sách vở, phòng thực nghiệm với các thiết bị
bộ môn…
+ Tâm lý diễn ra trong hoạt động học tập của sinh viên với nhịp độ căng thẳng mạnh mẽ
về trí tuệ Họ phải chịu một áp lực cao thể hiện rất rõ trong các kỳ kiểm tra, thi, bảo vệ khoá luận, luận văn
+ Hoạt động học tập của sinh viên mang tính độc lập trí tuệ cao
+ Cốt lõi của hoạt động học tập của SV là sự tự ý thức về học tập của họ Tự ý thức về động cơ mục đích, biện pháp học tập, hiểu sâu sắc rằng chính mình là chủ thể của hoạt động nên bản thân phải là người tổ chức, định hướng, cụ thể hoá quá trình học tập Nhiệm vụ cơ bản của SV là giải thích các nhiệm vụ học tập do cán bộ giảng dạy và do chính mình đề ra; phải hoàn thiện các hành động học tập để biết cách học và học có hiệu quả; có nhiệm vụ tự kiểm tra và tự đánh giá kết qủa học tập
+ Hoạt động học tập của sinh viên bao gồm cả hoạt động ở trên lớp và ở ngoài lớp Hoạt động ở trên lớp theo một thời gian biểu nhất định nên sinh viên được thông báo trước để
có kế hoạch học tập, còn hoạt động ngoài lớp là sự hoàn thành một cách lôgíc các giờ học trên lớp Các hoạt động ngoài lớp trong thời gian tự do của sinh viên bộc lỗ rõ nét các sở trường, năng lực tổ chức và sự sáng tạo ở sinh viên
+ Hoạt động học tập của sinh viên có thể có xu hướng hẹp, nghĩa là sinh viên chỉ tập trung nghiên cứu các tài liệu cơ bản, muốn được đánh giá tốt…có thể là một hoạt động tích cực rộng rãi như muốn trao đổi với giáo viên, muốn tham gia vào hoạt động nhóm
…và có thể là một hoạt động sáng tạo ( hiểu sâu sắc mục đích học tập ở đại học, độc lập nghiên cứu tài liệu học tập, có óc phê phán, lập luận lô gíc chặt chẽ nên có nhữn ý kiến phát biểu độc đáo, sắc nét trong các buổi thảo luận…
Hoạt động học tập của sinh viên thực sự là loại lao động trí óc căng thẳng và là hoạt động quan trọng nhất trong quãng đời SV Tính chất của hoạt động không mang tính phổ thông mà mang tính chuyên ngành, phạm vi hẹp hơn, sâu sắc hơn, nhằm đào tạo những chuyên gia, những tri thức cho đất nước Cường độ hoạt động phụ thuộc vào nội dung và tính chất phức tạp của các nhiệm vụ, vào trình độ tri thức, vào các kỹ năng và kỹ xảo trí
Trang 5óc, vào động cơ và tâm thế chung của nhân cách sinh viên Vì vậy cần có sự động viên một cách có mục đích đối với sinh viên trong quá trình giảng dạy và phải có sự chỉ dẫn cần thiết nhưng không áp đặt đối với sinh viên
Các quá trình nhận thức diễn ra trong hoạt động học tập của sinh viên:
Trong hoạt động học tập của sinh viên các quá trình nhận thức luôn luôn diễn ra từ mức
độ đơn giản nhất là cảm giác đến mức độ cao là tư duy sáng tạo Đặc điểm quá trình nhận thưc ở sinh viên khác hẳn các lứa tuổi học sinh về sự phát triển, về tính chọn lọc cao và tính độc lập sáng tạo
- Tính chất chọn lọc trong tri giác của sinh viên rất cao SV chỉ tri giác những thông tin trong bài giảng hay trong tài liệu có liên quan đến hứng thú nhận thức, có ích cho hoạt động nghề nghiệp Tuy nhiên một số nghiên cứu cho thấy tốc độ tri giác ở SV còn rất
chậm
- Các quá trình trí nhớ thường diễn ra trong hoạt động học tập của SV Nhờ có trí nhớ,
SV tích luỹ được những kinh nghiệm những tri thức, những thông tin, những kỹ năng
cần thiết cho hoạt động của mình
- Quá trình tư duy diễn ra rất căng thẳng trong suốt quá trình học tập của SV Tư duy ở
SV gắn liền với các phẩm chất nhân cách độc lập Tư duy độc lập là khả năng cá nhân “ chuyển “ những phán đoán nảy sinh trong quá trình nắm vững tri thức vào những ý kiến
riêng và niềm tin riêng của mình Tư duy độc lập của SV biểu hiện ở mấy dấu hiệu sau:
+ Tự đặt ra vấn đề
+ Tự tìm các cách giải quyết vấn đề đó theo nhiều chiều, nhiều phướng thức khác nhau + Có ý chí theo đuổi mục đích đến cùng
+ Tự đánh giá kết quả tìm được
Phẩm chất tư duy sáng tạo cũng bộc lộ trong hoạt động học tập của SV Tư duy sáng tạo
có tính chất độc đáo, không rập theo khuôn mẫu, có tính chất mới lạ, khác thường về cách thử và sai, hoặc chọn ra phương án đơn giản nhất trong các phương án đã biết để giải quyết những nhiệm vụ tương tự
Đi kèm với quá trình nhận thức là trạng thái chú ý giúp cho quá trình phản ánh có hiệu quả hơn Ở lứa tuổi SV sức tập trung chú ý cao, khối lượng chú ý lớn và SV có khả năng chú ý tương đối bền vững và lâu dài nên SV có thể nghe giảng hay đọc sách trong thời gian liên tục từ 1 đến 2 giờ
Trong quá trình giảng dạy cần tạo ra các hoàn cảnh “ có vấn đề” để kích thích
tư duy và tưởng tượng sáng tạo ở SV, phát triển khả năng tư duy khái quát, trừu tượng cao qua các khái niệm chuyên môn của ngành khoa học nhất định Trong giảng dạy chú ý định hướng vào tương lai, nêu lên những vấn đề trong lĩnh vực khoa học và nghề nghiệp còn chưa giải quyết được để kích thích óc tò mò khoa học và tư duy sáng tạo ở SV
Quan hệ giữa phương pháp giảng dạy và các loại hành động trong hoạt động học tập của SV:
Hoạt động của SV bao gồm nhiều hành động nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập Tuỳ theo quan điểm giảng dạy và cách tác động sư phạm của người giảng viên mà SV có thái
độ phản ứng khác nhau Tuỳ theo cách giảng dạy mà có cách học khác nhau của SV trong quá trình đào tạo người chuyên gia Xảy ra 3 trường hợp:
Trang 6+ Trường hợp 1: SV coi mình chỉ là đối tượng tác động hình thành của nhà sư phạm, nên
họ sẽ tri giác một cách thụ động để lĩnh hội những tri thức có sẵn, từ bên ngoài Muốn nắm vững chúng, họ phải dùng cách thức bắt chước, ôn tập, rèn luyện và củng cố những quy tắc, những định lý có sẵn Trong trường hợp này người cán bộ giảng dạy sẽ chỉ dùng các phương pháp thông báo, mô tả, giải thích
+ Trường hợp thứ 2: Khi người sinh viên xem mình là chủ thể được hình thành do tác động của những hứng thú và mục đích riêng của cá nhân nên họ say mê, độc lập tìm tòi các thông tin và tích cực vận dụng chúng Các hànhh động học tập của họ nhằm thoả mãn những nhu cầu, hứng thú của bản thân Học tập trong trường hợp này mang tính sáng tạo những có tính chất tự phát và thiếu hệ thống các tri thức Ơ đây giảng dạy chỉ là kích thích các nhu cầu và hứng thú của sinh viên và do đó các PPGD là những phương pháp kích thích tính ham hiểu biết, tính ngạc nhiên, tính tò mò…của SV
+ Trường hợp thứ 3: Người SV thể hiện mình vừa là chủ thể và vừa là khách thể của hoạt động học tập Họ thực hiện việc tìm tòi và vận dụng các thông tin một cách có phương hướng Ơ đây, nhà sư phạm tổ chức các hành động của SV xuất phát từ yêu cầu bên ngoài từ các khả năng và mục đích của xã hội Do đó, các phương pháp được vận dụng và đặt ra các vấn đề, các nhiệm vu, là việc thảo luận, tranh luận
Như vậy ở trường hợp thứ 3 cho ta quan niệm hiện đại và đúng đắn về giảng dạy và học tập, nên cũng là cơ sở hợp lý cho việc sáng tạo các PPGD mới nhằm mục đích cuối cùng
là đào tạo những nhân cách sáng tạo ở người chuyên gia kiểu mới cho các ngành kinh tế quốc dân
4.2 Hoạt động NCKH:
Nghiên cứu khoa học là một hình thức giáo dục ở đại học, là một khâu trong quá trình học tập, là nhân tố tiến bộ xã hội phản ánh vào trường đại học trong thời kỳ cách mạng khoa học kỹ thuật Do những đòi hỏi bức bách đối với các chuyên gia tương lai nên hoạt động NCKH đang dần trở thành hình thái chính thức trong quá trình đào tạo và chiếm vị trí ngày càng quan trọng Nhà trường đại học cần hình thành ở họ những chức năng mới của người chuyên gia như:
- Cần phát triển tính sáng tạo hoạt động của họ
- Người chuyên gia ngày nay phải nắm vững phương pháp luận khoa học và các phương pháp nhận thức các hiện tượng mới nghĩa là hoạt động sáng tạo nghề nghiệp được gắn liền với hoạt động sáng tạo khoa học
- Thường xuyên mong muốn mở rộng nhãn quan khoa học bằng cách khai thác các tri thức khoa học thuộc các lĩnh vực tiếp cận
- Nắm vững một cách sáng tạo những thành tựu mới nhất của KH và kỹ thuật, luôn luôn hoàn thiện và tích luỹ tri thức
- Có khả năng thích ứng nhanh chóng khi giải quyết các vấn đề khoa học mới thường hay nằm ở phần “ giáp ranh” của các khoa học
* Vai trò: Hoạt động nghiên cứu khoa học của SV là phương pháp có hiệu quả nhất
trong việc đào tạo những người chuyên gia mới có chất lượng ở đại học Nó phát triển tối
ưu tư duy sáng tạo, những đặc điểm nhân cách, những kỹ xảo NCKH của người SV, cho phép thực hiện đào tạo những chuyên gia có sáng kiến, phát triển tính linh cảm khoa học,
tư duy sâu sắc, quan điểm sáng tạo đối với việc tiếp nhận các tri thức và thực hiện sử
Trang 7dụng chúng vào giải quyết các nhiệm vụ tổ chức, kỹ thuật, ứng dụng và các vấn đề khoa học
Hoạt động khoa học còn có tác dụng giáo dục sinh viên những kỹ năng làm việc cùng với những người khác
Đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên:
- Phải phục vụ cho mục đích học tập
- Nhận thức khoa học là những động cơ chủ yếu của hoạt động khoa học
- Hoạt động đó phải được tiến hành dưới sự hướng dẫn của CBGD của trường đại học
- Tính độc lập về nghề nghiệp; năng lực giải quyết sáng tạo các nhiệm vụ thực tiễn lúc bắt đầu hoạt động lao động của SV được hình thành trong quá trình hoạt động khoa học
- Hoạt động khoa học góp phần mở rộng những tri thức giúp SV giải quyết có kết quả những tình huống có tính chất nghề nghiệp, tổ chức …mà họ có thể sẽ gặp phải trong tương lai
Mục đích tham gia hoạt động khoa học của SV là nhằm hình thành tính độc lập nghề nghiệp ở họ, hình thành khả năng giải quyết một cách sáng tạo những nhiệm vụ thực tiễn khi bắt đầu lao động
Động cơ hoạt động khoa học của SV thể hiện ở chỗ: SV muốn hiểu ý nghĩa cá nhân và xã hội của hoạt động; muốn đóng góp sức mình vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn và khoa học; muốn tìm tòi khoa học, ham hiểu biết Nhiều SV tham gia NCKH để chuẩn bị cho hoạt động thực tiễn sau khi tốt nghiệp đại học
Hoạt động NCKH của SV làm tăng tính tích cực trí tuệ của họ, giúp họ nắm vững tài liệu một cách sáng tạo, phát triển tư duy khoa học, rèn luyện những phẩm chất nghề nghiệp quan trọng của nhân cách
4.3 Hoạt động chính trị – xã hội:
Hoạt động chính trị – xã hội là hoạt động đặc trưng ở lứa tuổi SV, là nhu cầu, nguyện vọng của SV Sự tham gia vào các hoạt động chính trị – xã hội vừa có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển nhân cách toàn diện của họ, vừa góp phần không nhỏ vào sự thành công của các thể chế xã hội
Hoạt động chính trị -xã hội của sinh viên được tiến hành qua nhiều hình thức đa dạng và phong phú từ tổ chức phong trào thi đua cuả SV và tổ chức Đoàn thanh niên CSHCM đến các hoạt động thực tiễn tham gia sản xuất, lao động công ích đóng góp xây dựng công trình công cộng nơi địa phương trường đóng
Hoạt động chính trị – xã hội của SV biểu hiện như là một sản phẩm của sự trưởng thành
về mặt xã hội Cũng như các hoạt động khác, việc tham gia hoạt động của SV được kích thích bởi nhiều động cơ khác nhau: như động cơ tự khẳng định và tự hoàn thiện nhân cách; muốn có ích cho người khác; có tình cảm trách nhiệm đối với các nhiệm vụ xã hội được giao, có trách nhiệm đối với nhóm, tập thể lớp, muốn thường xuyên được tiếp xúc với các bạn bè trong nhóm, lớp thông qua các công việc của khoa, của trường giao cho nhóm
Các loại hoạt động của SV có mối quan hệ lẫn nhau theo cấu trúc bên trong do kết quả giáo dục và quá trình thực hiện chúng Hoạt động học tập, xã hội NCKH và thực tiễn có những yếu tố chung ở mục đích (nắm vững nghề nghiệp, hình thành những phẩm chât và kinh nghiệm cần thiết) ở động cơ ( hứng thú nhận thức, tình cảm trách nhiệm…) ở quá
Trang 8trình thực hiện ( lĩnh hội và vận dụng những thông tin phù hợp, những nhiệm vụ thích hợp cho một loại hoạt động nào đó…) Mặc dù mỗi loại hoạt động được biểu hiện ở mức
độ nhất định về các phẩm chất, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo khác nhau của sinh viên nhưng chúng cũng hình thành nhân cách của họ, chuẩn bị cho học lao động, nghĩa là có sự thống nhất về kết quả giáo dục Những nghiên cứu được tiến hành khẳng định mối liên hệ đa dạng giữa các loạii hoạt động khác nhau của SV (trong phạm vi hứng thú, mục đích, kế hoạch, tự đánh giá, tính chất của sự tham gia hoạt động… )
Vậy hoạt động học tập, hoạt động xã hội và hoạt động khoa học của SV có sự thống nhất
Đó là phương thức chung để nắm vững nghề nghiệp, chúng là phương tiện tốt nhất để chiếm lĩnh hoạt động nghề nghiệp tương lai, hình thành những phẩm chất và kinh nghiệm cần thiết cho nghề đó
II Những đặc điểm tâm lý cơ bản của thanh niên sinh viên:
1 Sự thích nghi của sinh viên với cuộc sống và hoạt động mới:
Hoạt động học tập, hoạt động xã hội và môi trường sống của SV có những nét đặc trưng
và đòi hỏi khác về chất so với các lứa tuổi trước đó Để hoạt động học tập có kết quả, trong thời gian đầu ở trường ĐH – CĐ, SV phải thích nghi với hoạt động học tập, hoạt động xã hội cũng như các sinh hoạt trong đời sống tập thể SV Quá trình thích nghi này tập trung chủ yếu ở các mặt:
- Nội dung học tập mang tính chất chuyên ngành
- Phương pháp học tập mới mang tính chất NCKH
- Môi trường sinh hoạt mở rộng phạm vi quốc gia, thậm chí quốc tế
- Nội dung và cách thức giao tiếp với thầy cô giáo, bạn bè và các tổ chức xã hội phong phú, đa dạng
Các công trình nghiên cứu cho thấy cần có một thời gian nhất định để người SV làm quen, thích ứng với những vấn đề trên Khó khăn có tính chất bao trùm hơn vẫn là phải thích nghi được với nội dung, phương pháp học tập mới có tính chất NCKH và học nghề đối với những chuyên gia tương lai Mức độ thích nghi có ảnh hưởng trực tiếp đến thành công trong học tập của họ Những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình này là:
- Mâu thuẫn giữa ước mơ, kỳ vọng của sinh viên với khả năng, điều kiện để thực hiện
mơ ước đó
- Mâu thuẫn giữa mong muốn học tập, nghiên cứu sâu môn học mà mình yêu thích với yêu cầu phải thực hiện toàn bộ chương trình học theo thời gian biểu nhất định
- Mâu thuẫn giữa lượng thông tin rất nhiều trong xã hội hiện tại với khả năng và thời gian có hạn
Để phát triển, SV phải biết giải quyết các mâu thuẫn này một cách hợp lý Một mặt người SV phải tích cực hoạt động, biết sắp xếp, mặt khác việc tổ chức dạy và học ở các trường cần hỗ trợ giúp đỡ SV giải quyết các mâu thuẫn trên Xét đến cùng, nhân cách của mỗi SV sẽ được phát triển chính trong quá trình họ giải quyết được các mâu thuẫn một cách biện chứng
2 Sự phát triển về nhận thức, trí tuệ của sinh viên:
Bản chất hoạt động nhận thức của những người sinh viên trong các trường ĐH – CĐ
là đi sâu, tìm hiểu những môn học, những chuyên ngành khoa học cụ thể một cách
Trang 9chuyên sâu để nắm được đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp, quy luật của các khoa học
đó với mục đích trở thành những chuyên gia về các lĩnh vực nhất định
- Hoạt động nhận thức vừa gắn kết chặt chẽ với NCKH, vừa không tách rời hoạt động nghề nghiệp của người chuyên gia
- Hoạt động học tập của SV diễn ra một cách có kế hoạch, có mục đích, nội dung, chương trình, phương thức đào tạo theo thời gian 1 cách chặt chẽ
- Phương tiện hoạt động nhận thức của SV được mở rộng và phong phú với các thư viện, phòng đọc, phòng thực nghiệm, phòng bộ môn với những thiết bị khoa học cần thiết của từng ngành đào tạo
- Hoạt động học tập của SV mang tính độc lập, tự chủ và sáng tạo cao
- Hoạt động trí tuệ của SV vẫn lấy những sự kiện của các quá trình nhận thức cảm tính làm cơ sở,song các thao tác trí tuệ đã phát triển ở trình độ cao và đặc biệt có sự phối hợp nhịp nhàng, tinh tế và uyển chuyển, linh động tuỳ theo từng hoàn cảnh có vấn đề
- Phạm vi hoạt động nhận thức của sinh viên đa dạng: vừa rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, vừa phát huy việc học nghề một cách rõ rệt
- Hoạt động trí tuệ của SV vẫn lấy những sự kiện của các quá trình nhận thức cảm tính làm cơ sở,song các thao tác trí tuệ đã phát triển ở trình độ cao và đặc biệt có sự phối hợp nhịp nhàng, tinh tế và uyển chuyển, linh động tuỳ theo từng hoàn cảnh có vấn đề
3 Sự phát triển của động cơ học tập ở sinh viên:
-Động cơ là cái thúc đẩy con người hoạt động đạt mục đích nhất định
-Động cơ học tập là những hiện tượng, sự vật trở thành cái kích thích người sinh viên đạt kết quả nhận thức và hình thành phát triển nhân cách
-Các sự kiện, vật chất, hoàn cảnh hay hành động đều có thể trở thành động cơ nếu chúng liên quan đến nguồn gốc tích cực ( các nhu cầu) của con người Có thể có 3 nguồn gốc sau:
+ Nguồn gốc bên trong được xác định bởi nhu cầu của con người Trong hoạt động học tập có thể là nhu cầu thông tin, nhu cầu nhận thức, nhu cầu xã hội
+ Nguồn gốc bên ngoài: là những điều kiện xã hội của hoạt động sống, yêu cầu, hy vọng, khả năng có quan hệ tới con người Những yêu cầu của xã hội về hành vi và hình thức hoạt động + Nguồn gốc cá nhân xác định bởi hứng thú, mong muốn, tâm thế, niềm tin, thế giới quan, biểu tượng về bản thân…nguồn gốc này có giá trị tích cự trong việc tự hoàn thiện của nhân cách
Ba nguồn gốc trên được kết hợp rất khác nhau ở mỗi người và có tác động mạnh mẽ đến quá trình học tập, đến mục đích và kết quả học tập
Dựa vào mục đích học tập, các nhà tâm lý chia 5 loại động cơ chủ yếu: Động cơ xã hội, động cơ nhận thức khoa học, động cơ tự khẳng định và động cơ vụ lợi
- Động cơ xã hội thể hiện ở ý thức về các nhu cầu, các lợi ích xã hội, về các chuẩn mực và mục đích xã hội
-Động cơ nhận thừc – khoa học biểu hiện ở thái độ đối với chính qúa trình nhận thức, với nội dung của vấn đề được nghiên cứu
-Những động cơ nghề nghiệp bộc lộ ở chỗ: trình độ học vấn cao được xem là cơ sở chuẩn bị cho nghề nghiệp
-Những động cơ tự khẳng định là ý thức về những năng lực của mình và mong muốn được thể hiện chúng…
-Những động cơ vụ lợi hay những động cơ về cái có lợi cho riêng cá nhân
-Ngoài ra còn có những động cơ mang tính chất đồng nhất xã hội là do ảnh hưởng trực tiếp của
bố mẹ hay bạn bè
Trang 10Những nghiên cứu về động cơ học tập của SV cho thấy trong cấu trúc thứ bậc của động
cơ ở SV thường biểu hiện như sau:
+ Động cơ nhận thức xếp thứ nhất
+ Động cơ nghề nghiệp xếp vị trí thứ 2
+ Động cơ có tính xã hội ở vị trí thứ 3
+ Động cơ tự khẳng định ở vị trí thứ 4
+ Động cơ có tính cá nhân ở vị trí thứ 5
Tuy nhiên thứ bậc các động cơ có thể thay đổi trong quá trình học tập và ở SV có trình
độ học lực khác nhau
Theo nghiên cứu của AN Ghebơxơ, việc hình thành động cơ học tập của SV phụ thuộc vào 1 số yếu tố sau:
- Ý thức về mục đích gần và mục đích xa của hoạt động học tập
- Nắm vững ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của các tri thức do sinh viên lĩnh hội
- Nội dung mới của những tài liệu và thông tin khoa học được trình bày
- Lựa chọn được những bài tập phù hợp, gây được những hoàn cảnh có vấn đề, tạo được các mâu thuẫn trong quá trình dạy học
- Thường xuyên duy trì được không khí tâm lý nhận thức trong hoạt động học tập
•Một số điều kiện sư phạm bảo đảm cho sự vận hành và phát triển động cơ học tập của mỗi sinh viên trong “vùng tối ưu”:
- Cần làm phong phú các thành phần động cơ học tập của sinh viên
- Tăng cường độ kích thích của các động cơ tốt của hoạt động hôc tập trong lao động trí tuệ căng thẳng ở giảng đường cũng như trong công tác độc lập của SV ngoài giảng đường
- Cần phải tạo ra những điều kiện để duy trì và tăng cường các trạng thái có động cơ không chỉ
từ bài giảng này đến bài giảng khác mà còn trong suốt cả quá trình của một bài giảng
- Sự phát triển các động cơ không chỉ có sự gia tăng về số lượng các động cơ mà còn làm thay đổi tính chất chung của chúng, thay đổi sức kích thích, vai trò của 1 động cơ nào đó trong hoạt động học tập
-> Hiểu và quan tâm đến sự phát triển động cơ cho phép tổ chức tốt hoạt động học tập của SV
5 Đời sống xúc cảm, tình cảm của sinh viên:
Tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất của những loại tình cảm cao cấp như: tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ, những tình cảm này biểu hiện rất phong phú trong hoạt động và trong đời sống của sinh viên Thể hiện:
- Hầu hết SV biểu lộ sự chăm chỉ, say mê của mình đối với chuyên ngành và nghề nghiệp đã chọn
- SV là người yêu vẻ đẹp thể hiện ở hành vi, phong thái đạo đức, cũng như vẻ đẹp thẩm mỹ ở các sự vật, hiện tượng của thiên nhiên hoặc con người tạo ra Cá biệt
có những SV đã xây dựng được " triết lý" cho cái đẹp của mình theo chiều hướng khá ổn định
- Tình bạn cùng giới, khác giới ở tuổi SV tiếp tục phát triển theo chiều sâu Tình bạn đã làm phong phú thêm tâm hồn, nhân cách của SV rất nhiều
- Tình yêu ở tuổi SV đạt đến hình thái chuẩn mực cùng với những biểu hiện phong phú, đặc sắc của nó Đây là 1 loại tình cảm đặc biệt và cao cấp của con người, nó chín vào độ tuổi mà SV trải qua, nó rất đẹp, lãng mạn, đầy thi vị Song SV gặp phải