1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SOCIAL ENTERPRISE THE MODEL OF SUSTAINAB

14 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 319,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, các tổ chức xã hội của Việt Nam muốn tồn tại và phát triển thì cần phải thay đổi phương hướng hoạt động; và mô hình doanh nghiệp xã hội sẽ là hướng đi mới cho các tổ chức xã hội ở

Trang 1

SOCIAL ENTERPRISE, THE MODEL OF SUSTAINABLE

DEVELOPMENT FOR SOCIAL ORGANIZATIONS DOANH NGHIỆP XÃ HỘI, MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

CHO CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI

Dr Ngo Van Thao Saigon University

Abstract

Social work major of universities provides human resources with expertise in social work for social organizations However, the social organizations in certain limits such as: dependence on donors; unstable; lack of efficacy; and especially when foreign resources from the aid program for Vietnam in the coming years will be limitted because Vietnam has become the national average income Therefore, the Vietnam society organizations want to survive and develop must change their directions; and social enterprise model will be a new way for Vietnam social organizations in the future This article focuses on analyzing the difference between social enterprise with social organizations and traditional businesses; Differences of traditional business and social entrepreneurs; the differences between the social workers and social entrepreneurs As such as to determine the gap that social workers and social organizations must be updated to change the activity direction of social organizations as the social entreprises

Tóm tắt

Ngành công tác xã hội của các trường đại học cung cấp nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn về công tác xã hội cho các tổ chức xã hội Tuy nhiên, các tổ chức xã hội với những hạn chế nhất định như: phụ thuộc vào nhà tài trợ; thiếu tính ổn định; hiệu quả kém; và nhất là khi nguồn vốn từ các chương trình viện trợ nước ngoài cho Việt Nam trong những năm tới sẽ bị cắt giảm do Việt Nam thuộc vào nhóm các nước có thu nhập trung bình Do đó, các tổ chức xã hội của Việt Nam muốn tồn tại và phát triển thì cần phải thay đổi phương hướng hoạt động; và mô hình doanh nghiệp xã hội sẽ là hướng đi mới cho các tổ chức xã hội ở Việt nam trong những năm sắp tới Bài viết này tập trung phân tích sự khác biệt giữa doanh nghiệp xã hội với các tổ chức xã hội và doanh nghiệp truyền thống; những khác biệt giữa doanh nhân truyền thống với doanh nhân xã hội; giữa nhân viên xã hội với doanh nhân xã hội Từ đó xác định các khoảng trống mà các tổ chức

xã hội và nhân viên xã hội cần phải bổ sung để có thể duy trì chuyển hướng hoạt động của các tổ chức xã hội theo mô hình doanh nghiệp xã hội

Keywords: Social enterprise, Social entrepreneur, Social work;

Từ khóa: Doanh nghiệp xã hội, Doanh nhân xã hội, Công tác xã hội;

Trang 2

1 Khái niệm về doanh nghiệp xã hội và các tổ chức xã hội

1.1 Doanh nghiệp xã hội

Doanh nghiệp xã hội là hoạt động của một tổ chức được tạo lập ra nhằm thực hiện một giải pháp hay phương án kinh doanh cụ thể để đưa đến một giải pháp xã hội cụ thể cho chính các thành viên của tổ chức đó và cộng đồng Do đó, Doanh nghiệp xã hội bao gồm

sự đa dạng của các tổ chức có định hướng kinh doanh mà không theo đuổi mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận cho các chủ sở hữu Định nghĩa này nó bao trùm hợp tác xã, liên hiệp tín dụng, hỗ trợ xã hội

Theo điều 10 của Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2014 thì Tiêu chí, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội được qui định như sau:

1 Doanh nghiệp xã hội phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:

a) Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật này;

b) Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; c) Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hàng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký

2 Ngoài các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp theo quy định của Luật này, doanh nghiệp xã hội có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Duy trì mục tiêu và điều kiện quy định tại điểm (b) và (c) khoản 1 Điều này suốt quá trình hoạt động; trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động muốn chuyển thành doanh nghiệp xã hội hoặc doanh nghiệp xã hội muốn từ bỏ mục tiêu xã hội, môi trường, không

sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư thì doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật;

b) Chủ sở hữu doanh nghiệp, người quản lý của doanh nghiệp xã hội được xem xét tạo thuận lợi và hỗ trợ trong việc cấp giấy phép, chứng chỉ và giấy chứng nhận có liên quan theo quy định của pháp luật;

c) Được huy động và nhận tài trợ dưới các hình thức khác nhau từ các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các tổ chức khác của Việt Nam và nước ngoài để bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động của doanh nghiệp;

d) Không được sử dụng các khoản tài trợ huy động được cho mục đích khác ngoài bù đắp chi phí quản lý và chi phí hoạt động để giải quyết vấn đề xã hội, môi trường mà doanh nghiệp đã đăng ký

Mô hình doanh nghiệp xã hội đầu tiên hoạt động tại Việt Nam là hợp tác xã Tuy nhiên, doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam phát triển mạnh chủ yếu từ sự chuyển đổi của các tổ chức phi chính phủ hơn là sự phát triển của các hợp tác xã như mô hình ở các nước châu

Âu Hiện tại, các doanh nghiệp xã hội đang hoạt động dưới bốn loại hình pháp lý: doanh

Trang 3

nghiệp, hợp tác xã, trung tâm, câu lạc bộ - hiệp hội Trong số đó, trung tâm là hình thức được ưa chuộng hơn cả với 33%, loại hình doanh nghiệp đứng thứ hai với gần 30%, câu lạc bộ và hiệp hội chiếm khoảng 15% và hợp tác xã khoảng 10%(1) Hình thức trung tâm phổ biến vì dễ thành lập và có tính linh hoạt trong hoạt động Các doanh nghiệp xã hội Việt Nam hoạt động tương đối rộng trên khắp các lĩnh vực, giải quyết rất nhiều vấn đề từ việc làm, giáo dục, xóa đói, giảm nghèo cho tới các cộng đồng người bị thiệt thòi và bị cách ly Ba lĩnh vực phổ biến nhất là: đào tạo nghề và tạo công ăn việc làm, thủ công mỹ nghệ, dịch vụ chăm sóc sức khỏe

1.2 Tổ chức xã hội

Khái niệm tổ chức xã hội được xem như là một thành tố của cơ cấu xã hội; tổ chức xã hội chính là một hệ thống các quan hệ, tập hợp liên kết cá nhân nào đó để đạt được một mục đích nhất định (theo https://vi.wikipedia.org/wiki) Định nghĩa này nhấn mạnh đến hệ thống các quan hệ liên kết cá nhân chứ không phải chính tập hợp cá nhân trong các tổ chức và các quan hệ ở đây là các quan hệ xã hội Tổ chức xã hội dân sự là một tập hợp không đồng nhất những tổ chức xã hội không là Nhà nước, tự nguyện và không định hướng vào lợi nhuận Người ta còn gọi chúng là tổ chức phi chính phủ (NGO), tổ chức phi lợi nhuận (NPO)(2) Những mặt tích cực của các tổ chức xã hội trên thế giới được tổng hợp như sau:(3)

- Các cơ quan chính phủ và cứu trợ chính thức thường phải trãi rộng trên nhiều đối tượng

và nhóm mục tiêu, thì một tổ chức dân sự có khả năng chỉ tập trung vào vài hoạt động Vì thế nó có thể làm việc một cách tập trung và hiệu quả

- Các tổ chức xã hội thường đề cao triết lý “tham gia” trong làm dự án, khiến cho dự án

có tính hiện thực và người dân thấy như họ được làm chủ

- Các tổ chức xã hội có vai trò xúc tác làm cho người ra quyết định có thể nắm bắt được những quan điểm của người nghèo Những tổ chức này đóng vai trò là những kênh thúc đẩy dân chủ ở cơ sở

- Các tổ chức xã hội ít bị ràng buộc quá chặt vào những giáo điều phát triển như các tổ chức tài trợ chính thức và cơ quan chính phủ Nhân viên của họ thường năng động hơn với những thử nghiệm, tỏ ra thích nghi và sẳn sàng với những tiếp cận mới

Tuy nhiên, các tổ chức xã hội cũng còn một số hạn chế nhất định sau:

- Sự phụ thuộc vào nhà tài trợ: Hầu hết các tổ chức NGO đều phụ thuộc rất lớn vào nhà tài trợ (cá nhân và tổ chức) về cả sứ mệnh, phương hướng và địa bàn hoạt động vì họ không thể tự chủ về mặt tài chính;

1

Nguyễn Đình Cung (2012) Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam – khái niệm, bối cảnh và chính sách, Trung tâm hỗ trợ sáng kiến phục

vụ cộng đồng, tr.24

2,3

Bùi Thế Cường (2001) Các tổ chức xã hội ở Việt Nam

Trang 4

- Thiếu tính bền vững: Các dự án của NGO thường thiếu tính bền vững ngay trong cách tiếp cận cũng như khả năng có hạn của nguồn lực tài trợ Các dự án đều được xây dựng trên một số lượng nguồn lực nhất định, cho một số mục tiêu nhất định Do không tự làm sinh sôi nảy nở từ nguồn vốn ban đầu, cho nên dù đạt được mục tiêu hay không, các chương trình đều không thể kéo dài khi thời hạn chấm dứt, trừ khi chủ dự án kêu gọi được nguồn tài trợ mới để thực hiện chương trình nối tiếp Các dự án vốn đứt đoạn và có tính biệt lập; do đó hiệu quả xã hội mà các giải pháp xã hội của NGO đem lại thường không vượt quá phạm vi và thời hạn của dự án;

- Hiệu quả kém: Những đối tượng hưởng lợi không có động cơ để tự lập hay tạo cho bản thân một nguồn “vốn đối ứng” khi tiếp cận tài trợ, mà ngay cả các NGO trong nhiều trường hợp cũng không có động lực để hướng tới những giải pháp xã hội bền vững Không ít NGO trở thành công cụ giải ngân một cách bị động cho các nguồn tài trợ Trên thực tế, các nhóm đối tượng hưởng lợi cũng hiếm khi có cơ hội phản ánh trực tiếp tâm tư nguyện vọng, lợi ích của mình với nhà tài trợ Chính các NGO biến thành một rào cản vô hình giữa nhà tài trợ và đối tượng hưởng lợi;

- Xu hướng vốn tài trợ dành cho Việt Nam đang giảm dần: Khi nền kinh tế tăng trưởng tốt, đưa Việt Nam trở thành nước có mức thu nhập trung bình (năm 2010), cũng là lúc nguồn vốn tài trợ chính thức ODA và tư nhân đều bắt đầu xu hướng giảm Một số quốc gia và tổ chức đã công bố lộ trình rút dần các chương trình tài trợ ra khỏi Việt Nam

để dành cho các khu vực khác có nhu cầu hơn

Xét theo chiều hướng tích cực thì doanh nghiệp xã hội sẽ khắc phục được những hạn chế

mà các tổ chức xã hội gặp phải; nó thể hiện trong cách tiếp cận và tính sáng tạo trong phương án kinh doanh bền vững Tuy nhiên, doanh nghiệp xã hội cũng có những đặc điểm tương đồng với doanh nghiệp truyền thống và doanh nghiệp xã hội

2 So sánh doanh nghiệp xã hội với các tổ chức xã hội

Doanh nghiệp xã hội (DNXH) thường được so sánh với các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận và từ thiện Khái niệm Tổ chức phi chính phủ (NGO) ra đời sau Thế chiến II để nhấn mạnh tính trung lập, phân biệt với các tổ chức có sự tham gia và chịu ảnh hưởng của các chính phủ như Liên hợp quốc, WTO, EU Tổ chức phi lợi nhuận (NPO) lại phổ biến

ở Mỹ nhằm phân biệt với khu vực doanh nghiệp vì lợi nhuận Trong khi đó, Tổ chức thiện nguyện (philanthropy/ charity) để chỉ các chủ thể tài trợ vốn không hoàn lại cho các mục tiêu từ thiện Đây là ba loại hình tổ chức rất giống nhau nhưng không hoàn toàn trùng khớp Đối với DNXH, bản chất phi lợi nhuận (chính xác hơn là “không vì mục tiêu lợi nhuận”) cần được nhấn mạnh hơn cả; và do là doanh nghiệp nên nó cũng có những điểm tương đồng với doanh nghiệp truyền thống là phải có hoạt động sản xuất kinh doanh và

có lợi nhuận Do đó, cần có ranh giới giữa Doanh nghiệp xã hội với doanh nghiệp truyền thống và các tổ chức xã hội

Trang 5

2.1 Doanh nghiệp xã hội trong mối tương quan với Doanh nghiệp truyền thống và tổ chức phi chính phủ (NGO)

Từ khái niệm có thể nhận diện DNXH nằm ở chính giữa các doanh nghiệp và tổ chức NGO truyền thống, là hai tổ chức gần gũi nhất đối với DNXH Nếu ở một cực là các doanh nghiệp hoạt động vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận tài chính, thì ở cực còn lại là các NGO được thành lập nhằm theo đuổi lợi ích xã hội thuần túy Ngày càng nhiều doanh nghiệp có nhận thức tốt hơn về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) và gắn kết các yêu cầu CSR vào hoạt động của mình Tuy vẫn đặt mục tiêu chủ đạo là tối đa hóa lợi nhuận, nhưng các doanh nghiệp cam kết thực hiện CSR coi các nguyên tắc đạo đức kinh doanh, bảo vệ môi trường, đóng góp cho cộng đồng là các nhiệm vụ đi kèm với hoạt động kinh doanh Ngược lại, một số NGO cũng xây dựng các ‘nhánh’ hoặc dự án cụ thể thực hiện một số hoạt động kinh doanh trong cơ cấu tổ chức của mình Các bộ phận này tuy không phải là hoạt động chính của tổ chức NGO nhưng là một trong những minh chứng cho sự năng động của NGO là vượt ra khỏi tính “thụ động” cố hữu trong quan hệ một chiều giữa nhà tài trợ và các NGO

Ở vị trí trung tâm, DNXH là mô hình kết hợp hài hòa cả hình thức và nội dung của hai loại hình tổ chức để lấy kinh doanh làm phương châm hoạt động chính, nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm giải quyết các vấn đề xã hội cụ thể

Mức độ thành công của một doanh nghiệp truyền thống thường được đánh giá số lượng lợi nhuận luôn được tiền tệ hóa chính xác ở trong báo cáo tài chính cuối năm Kết quả hoạt động của một tổ chức NGO có thể được đo lường bằng hiệu quả xã hội mà tổ chức này mang lại Tuy nhiên, đánh giá hiệu quả của một DNXH lại phải dựa trên cả hai hệ tiêu chí về giá trị xã hội và kinh tế Đây là điều mà hơn ai hết, các doanh nhân xã hội sáng lập và nhà đầu tư xã hội luôn thấu hiểu đối với DNXH của mình, nhưng nó là đặc điểm

mà công chúng và người làm chính sách cần nâng cao nhận thức về mô hình mới này

2.2 Doanh nghiệp xã hội và Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR)

DNXH thường được so sánh với phong trào Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) nên hay bị hiểu nhầm là CSR Trên thực tế, đây là hai khái niệm hoàn toàn khác biệt, DNXH là mô hình hoạt động, một là trào lưu, vận động xã hội CSR là một phong trào tự vận động, tự nâng cao nhận thức ở các doanh nghiệp để ràng buộc các hoạt động kinh doanh của mình theo các tiêu chuẩn đạo đức kinh doanh Phong trào CSR kêu gọi các công ty ứng xử một cách có trách nhiệm với người lao động, khách hàng, cộng đồng và môi trường như một “công dân của xã hội” Archie.B Carroll (1999) cho rằng “trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức tại một thời điểm nhất định” Xét về trách nhiệm cơ bản nhất, doanh nghiệp phải đảm bảo lợi nhuận, thu nhập cho người lao động,

và lợi tức cho cổ đông Thứ hai là tuân thủ các quy định pháp luật tại nơi doanh nghiệp đăng ký hoạt động nhưng đó mới chỉ là các trách nhiệm tối thiểu của mọi doanh nghiệp Trách nhiệm thứ ba, họ phải hoàn thành và cũng là tâm điểm của CSR là trách nhiệm về

Trang 6

đạo đức trong kinh doanh, điều kiện làm việc của công nhân, trong chất lượng sản phẩm

và dịch vụ, bảo vệ môi trường, lợi ích cộng đồng Cuối cùng, trách nhiệm từ thiện, vốn được coi là trách nhiệm không bắt buộc của doanh nghiệp Tuy nhiên, rất nhiều công ty lấy đây làm địa bàn chính để thể hiện CSR như một công cụ trong quan hệ cộng đồng, trong khi các trách nhiệm cơ bản lại chưa hoàn tất

Do đó, có thể thấy CSR và DNXH là hai khái niệm hoàn toàn độc lập Các doanh nghiệp cam kết CSR vẫn là các doanh nghiệp truyền thống, nên CSR chỉ làm cho các doanh nghiệp “tốt” lên mà không thay đổi bản chất và mô hình của doanh nghiệp Trong khi đó, DNXH lại là một mô hình hoạt động khác các doanh nghiệp truyền thống về bản chất

2.3 Doanh nghiệp xã hội và Thương mại công bằng (Fair Trade)

DNXH còn có nhiều điểm tương đồng với phong trào Thương mại công bằng (Fair Trade) Fair Trade là một phong trào xã hội có tổ chức, với cách tiếp cận dựa trên nguyên tắc thị trường, nhằm giúp các nhà sản xuất, người dân của các nước đang phát triển có được các điều kiện thương mại tốt hơn và phát triển bền vững hơn Phong trào Fair Trade vận động các công ty đa quốc gia như Nike, Gap, Nesle, Unilever từ bỏ các hành vi ép giá, tạo điều kiện thương mại công bằng hơn để các nhà sản xuất nhỏ lẻ và người dân nghèo ở các nước đang phát triển có điều kiện phát triển bền vững hơn, cùng hưởng lợi trong chuỗi giá trị đó

Phong trào Fair Trade được dẫn dắt bởi một số tổ chức NGO có quy mô toàn cầu như Fair Trade Label Organization (FLO) FLO thực hiện việc kiểm tra chất lượng, quy trình sản xuất để dán nhãn Fair Trade cho các sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn Thương mại công bằng Việc dán nhãn có thể giúp tiêu thụ các sản phẩm tốt hơn, bởi người tiêu dùng ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ ngày càng quan tâm hơn đến các tiêu chuẩn xã hội và môi trường của sản phẩm (moral consumerism)

3 So sánh doanh nhân xã hội với doanh nhân truyền thống và nhân viên xã hội

3.1 Doanh nhân xã hội với doanh nhân truyền thống

Doanh nhân xã hội cũng giống như doanh nhân kinh doanh truyền thống với các đặc điểm

cơ bản như: sử dụng tư duy kinh doanh kết hợp với tính kỹ luật, sự đổi mới và các quyết định để đạt được mục tiêu đề ra Nhưng không giống như doanh nhân kinh doanh, doanh nhân xã hội đóng góp vốn, khả năng huy động nguồn lực nhằm đầu tư cho cộng đồng không với hy vọng thu về lợi nhuận cho cá nhân Họ là người khởi xướng cho nỗ lực kinh doanh xã hội và tạo dựng thành công qua sự đổi mới xã hội và quá trình thay đổi xã hội Doanh nhân xã hội có vai trò trong việc hình thành giá trị xã hội và tạo dựng giá trị xã hội qua mô hình kinh doanh, nhằm giảm nghèo đói, cải thiện sức khỏe con người và giảm tác động của thay đổi khí hậu(4) Những điểm nổi bật của doanh nhân xã hội so với doanh nhân truyền thống bao gồm:

4

Đỗ Thị Đông –Đề xuất đào tạo tinh thần doanh nhân xã hội tại các trường đại học ở Việt Nam – Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam: vai trò của các trường đại học và các tổ chức nghiên cứu”, Tháng 3 năm 2015

Trang 7

- Họ phát hiện các vấn đề xã hội và tìm được mô hình kinh doanh từ xã hội, đưa sáng kiến vào thực tiễn mang lại hiệu quả tích cực cho bản thân và cộng đồng Chỉ có những con người gắn bó với cộng đồng, thậm chí là bản thân cũng thuộc nhóm đối tượng hưởng lợi của sáng kiến đó mới có thể phát hiện và thấu hiểu một vấn đề xã hội cụ thể;

- Tính cách của doanh nhân xã hội là sẳn lòng chia sẻ và kết nối, họ không câu nệ, và chính việc gắn bó với cộng đồng nên thấu hiểu và chia sẻ các vấn đề xã hội hay môi trường cụ thể như cô Mai Thúy Hằng từ mong muốn người sản xuất không lạm dụng hóa chất trong sản xuất nông sản và hướng họ sang sản xuất sản phẩm an toàn, nhằm đảm bảo sức khỏe cho người sản xuất, người tiêu dùng và thân thiện với môi trường nên thành lập công ty Xanhshop thông qua việc liên kết với các nhóm nông hộ sản xuất cây trồng vật nuôi theo tiêu chuẩn an toàn của công ty đề ra; tổ chức thu mua sản phẩm phân phối đến tận nhà cho người tiêu dùng tại Tp Hồ Chí Minh;

- Họ là những người có lòng trắc ẩn và mối quan tâm cao về xã hội hơn người khác, họ nhận thấy trách nhiệm của mình trong các vấn đề xã hội nên thường là những người tiên phong trong việc phát triển khai các sản phẩm hay dịch vụ như: các doanh nghiệp sản xuất nông sản hữu cơ, các sản phẩm phong cách, phải bỏ ra chi phí rất lớn để giáo dục khách hàng về sản phẩm mới của mình

3.2 Doanh nhân xã hội với nhân viên xã hội

Nhân viên xã hội là những người hành nghề công tác xã hội, theo wikipedia.org thì công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề

Với khái niệm trên thì có thể thấy nhân viên xã hội với vốn kiến thức về hành vi con người và

hệ thống xã hội, mà thiếu đi các kiến thức như: phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua giải pháp hay sáng kiến kinh doanh, thiếu và yếu về năng lực quản lý điều hành, thể hiện ở các mặt như: phát triển sản phẩm dịch vụ xã hội có định hướng thị trường, năng lực marketing, năng lực quản lý tài chính, tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh

4 Các vấn đề xã hội ở Việt Nam và khả năng chuyển đổi các tổ chức xã hội thành doanh nghiệp xã hội

4.1 Các vấn đề xã hội ở Việt Nam

- Xóa đói giảm nghèo và chênh lệch giàu nghèo

Theo số liệu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tính đến cuối năm 2014, Việt

Trang 8

Nam còn 6% hộ nghèo (giảm 2,0% so với năm 2013) Riêng tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo vẫn còn ở mức 33,2% (giảm 5% so với năm 2013) Tuy nhiên, theo chuẩn nghèo mới thì số hộ nghèo và cận nghèo của cả nước ở mức 20% (Theo chuẩn nghèo của Bộ lao động đề xuất cho giai đoạn 2016 – 2020; khu vực thành thị là dưới 1,3 triệu đồng/tháng

và khu vực nông thôn là 1triệu đồng/người/tháng; dự báo khu vực thành thị là 11,23% và khu vực nông thôn là 20,61%) 5 Như vậy, có thể ước tính số hộ nghèo của Việt Nam giai đoạn (2015-2020) lên tới mứ 4,27 triệu hộ Do đó, giảm tỷ lệ đói nghèo một cách bền vững tiếp tục là một trong những thách thức cơ bản của Việt Nam trong thời gian tới

- Người khuyết tật

Theo ước tính của Bộ Lao Động – Thương binh - Xã hội đến năm 2015 cả nước có khoảng 6,7 triệu người khuyết tật, chiếm gần 7,8% dân số cả nước Trong đó, 69% số người khuyết tật đang ở độ tuổi lao động, nhưng chỉ có 30% số người này có việc làm và thu nhập ổn định Do đó, trợ giúp người khuyết tật học nghề và tìm việc làm phù hợp với điều kiện thể trạng cho họ là vấn đề nan giải đối với các tổ chức xã hội trong tình hình hiện nay và cả những năm sau này

- Người mãn hạn tù

Mỗi năm có hàng chục nghìn phạm nhân được ân xá và chấp hành xong hình phạt Trong

số họ đa phần không có trình độ tay nghề và các doanh nghiệp lại không sẳn lòng tiếp nhận lực lượng lao động này nên tỷ lệ tái phạm ở Việt Nam là 27% ( trong khi trung bình ở khu vực từ 15-20%) Nhóm đối tượng này rất cần được hỗ trợ về việc làm, nghề nghiệp, tư vấn pháp luật, hòa nhập cộng đồng

- Người nhiễm HIV/AIDS

Tính đến ngày 31 tháng 05 năm 2015(6), Việt Nam có khoảng 227.144 người chung sống với HIV/AIDS, và hơn 12.000 người bị nhiễm mới mỗi năm Chi phí mất việc và mất tay nghề đối với cả người lao động và doanh nghiệp là rất lớn Do vậy, cả hai đối tượng đều cần được tư vấn, truyền thông và tạo việc làm mới

- Bảo trợ trẻ em

Theo tạp chí Gia đình và trẻ em (04/12/2015), tính đến 2013 cả nước có khoảng 1,5 trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: trong đó có 200.000 trẻ em khuyết tật và nhiễm chất độc hóa học; 176.00 trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa, bị bỏ rơi; 16.650 trẻ em nhiễm HIV/AIDS; 500.000 trẻ em bị tự kỷ và thiểu năng trí tuệ; 83.000 trẻ em là nạn nhân của thảm họa, thiên tai Các tổ chức xã hội có thể tham gia rất nhiều mảng trong lĩnh vực này như tư vấn, đại diện, dạy học, dạy nghề, tạo sân chơi, kết nối thông tin, cung cấp nhà ở, quần áo, thức ăn, chăm sóc y tế

5 Bùi Lan, Chuẩn nghèo mới: Hộ nghèo, cận nghèo có thể chiếm 20%, www:thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/xa-hoi/2015-07-31/

6 Lý Văn Sơn, Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam; www.hiv.thuathienhue.gov.vn ngày 31/07/2015

Trang 9

- Chăm sóc người cao tuổi: Theo số liệu thống kê thì lượng người cao tuổi ở Việt Nam

đang tăng nhanh hơn bất kỳ nhóm dân số nào Tỷ lệ dân số cao tuổi từ mức 6,5% (2009)

đã tăng lên 7,1% (2014)7 Đáng chú ý, tỷ lệ người cao tuổi không có vợ, không có chồng (cô đơn) lên tới 61,0%, và trong các phân nhóm tỷ lệ người cao tuổi nữ giới luôn cao hơn

so với nam giới Có thể dự báo vấn đề dân số già hóa cũng sẽ là một trong những vấn đề

xã hội lớn của Việt Nam trong thời gian tới Bên cạnh đó có đến 14,8% dân số (tương đương 12 triệu người) mắc một trong những bệnh về sức khỏe tâm thần thuộc 10 loại bệnh tâm thần thường gặp (Cục bảo trợ xã hội, 2015) và những đối tượng này đang cần sự giúp đỡ chuyên nghiệp

- Người di cư từ nông thôn ra các khu công nghiệp và đô thị(8): số lao động di cư nội địa năm 2012 là 6,57 triệu người và dự báo đến năm 2019 sẽ là 8 triệu người (Tổng cục thống kê) Người lao động di cư thường gặp những khó khăn trong cuộc sống, đặc biệt là trong thời gian đầu của di cư Khó khăn mà họ thường gặp là khó khăn về nhà ở, phương tiện đi lại, nuôi dạy con cái, hưởng thụ sự trợ giúp từ phía Nhà nước, tiếp cận các dịch vụ an sinh

xã hội cho người nghèo, hộ khẩu Báo cáo nghiên cứu của Actionaid (2009) tại các khu công nghiệp nằm trên địa bàn của ba thành phố lớn (Hà Nội, Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh) cho thấy, người lao động di cư thường không có bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nghề nghiệp hay tai nạn lao động; không thể tự bảo vệ mình khỏi những rủi ro về sức khỏe và an toàn bản thân Nhiều người lao động di cư do không có hợp đồng lao động hoặc có hợp đồng không rõ ràng và bất lợi cho họ, ít có cơ hội bảo vệ bản thân trước những tranh chấp kinh

tế với chủ thuê lao động Nhiều doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước, đã thuê lực lượng lao động không có nghề theo mùa vụ để làm việc mà không ký hợp đồng Mặc khác, một số đối tượng di cư để lại bố mẹ lớn tuổi, con cái còn nhỏ đang cần người lớn chăm sóc, đã tạo thêm gánh nặng cho các địa phương và cộng đồng nơi có nhiều lao động

di cư

4.2 Khả năng chuyển đổi của các tổ chức xã hội thành các doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam

Mặc dù mỗi tỉnh thành của Việt nam hiện nay đều có các trung tâm bảo trợ xã hội thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ cho các đối tượng yếu thế, có điều kiện khó khăn như trẻ

mồ côi, bị bỏ rơi, người già cô đơn không nơi nương tựa, người khuyết tật hoặc người tâm thần Nhưng các cơ sở này hầu hết đều thực hiện các hoạt động mang tính cứu trợ xã hội dưới dạng nuôi dưỡng tập trung mà ít có các hoạt động hỗ trợ cộng đồng “Mái ấm tình thương tre xanh (GBWS= Green Bamboo Warm Shelter ) là một dự án của Tổ Chức Chăm Sóc Trẻ Em Thành Phố Hồ Chí Minh Ra đời từ năm 1992 Mái ấm nhắm đến việc giúp các thanh, thiếu niên đường phố có một mái ấm, và hòa nhập lại với gia đình và xã hội nhưng số lượng trẻ em được nuôi dạy tập trung hiện nay khá khiêm tốn và mái ấm cũng chưa có được tài trợ ổn định để có kế hoạch tiếp nhận thêm trẻ em đường phố mới

dù hiện tại cũng có nhiều đối tượng thuộc nhóm này cần được mái ấm cưu mang” Trong khi ở một số cơ sở khác thì trọng tâm ưu tiên lại nhằm vào phục hồi mà thiếu đi các kế

7 Tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên – Tổng cục Thống kê

8 Lê Văn Sơn, Lao động di cư nội địa ở Việt Nam

Trang 10

hoạch, hỗ trợ và theo dõi đối tượng tái hòa nhập cộng đồng, cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, tham vấn tâm lý và hỗ trợ những người dễ bị tổn thương “Trung tâm Chữa bệnh-Giáo dục-Lao động xã hội Bến Tre ra đời năm 2010 tại ấp Tân An, xã Tân Xuân, Ba Tri Trung tâm được xây dựng trên diện tích 9,8 ha, gồm: khu hành chính; khu học viên sân thể thao, khu vực đất dành cho lao động, sản xuất… Đối tượng vào trung tâm là phạm phải tệ nạn mại dâm và nghiện hút ma túy, Người cai nghiện bắt buộc (thời hạn 2 năm), mỗi tháng được Nhà nước hỗ trợ tiền ăn Người cai nguyện tự nguyện, gia đình phải đóng tiền cho chí phí điều trị và ăn uống Hàng ngày, học viên học tập, sinh hoạt nhóm và lao động sản xuất theo hướng dẫn của giáo viên Trong giờ nghỉ, học viên được xem tivi, nghe loa truyền thanh phát các chương trình phòng, chống ma túy, AIDS Những học viên chấp hành tốt nội quy, được cán bộ quản lý phân công làm tổ trưởng, nhóm trưởng và hàng tuần đều có bình bầu học viên tốt theo tổ, nhóm để làm căn cứ đánh giá, xếp loại cho

“ra trường” trước hạn Mỗi học viên đều được mở “sổ tiết kiệm”, ghi chép cập nhật các khoản thu (từ tiền gia đình gửi vào hoặc tiền có được do trồng rau cải), chi (mua các vật dụng sinh hoạt cần thiết) Do trung tâm chỉ tập trung vào cắt cơn mà chưa có hoạt động đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho các đối tượng của mình nên sau khi cai nghiện xong thì các đối tượng này rất khó có thể tái hòa nhập cộng đồng và nguy cơ tái nghiện rất cao” Bên cạnh các dịch vụ xã hội của khu vực công thì hiện tại ở Việt Nam cũng có những mạng lưới của các tổ chức phi chính phủ cung cấp các hoạt động và nguồn lực trợ giúp các nhóm cá nhân, cộng đồng yếu thế Dù có những khác biệt nhất định của hai khu vực này nhưng phần lớn họ cũng gặp khó khăn về mặt tài chính do phụ thuộc vào nguồn vốn dự án, phạm vi và thời gian hoạt động hạn chế Do đó, các dịch vụ của các trung tâm này chưa thật sự giải quyết tận gốc vấn đề xã hội phát sinh mà còn khiến gánh năng cho ngân sách phải chi trả nhưng chất lượng dịch vụ không được cải thiện; còn thiếu các mô hình cung cấp dịch vụ xã hội dựa vào cộng đồng, hướng tới cộng đồng sử dụng dịch vụ sẽ chi trả hoàn toàn hay một phần chi phí dịch vụ, phần còn lại do ngân sách Nhà nước hay

từ nguồn vốn từ xã hội hóa(9)

Do dịch vụ xã hội là hoạt động không thể thiếu trong nền kinh tế và bản chất của nó dù mang tính xã hội cao nhưng nó cũng mang tính kinh tế bên trong Tính kinh tế ở đây do dịch vụ xã hội là đối tượng của kinh tế học dịch vụ trên cả khía cạnh vĩ mô và vi mô Xét trên khái cạnh vi mô do dịch vụ xã hội là một bộ phận hợp thành ngành kinh tế dịch vụ của đất nước mà trong chiến lược phát triển của quốc gia phải nhắm đến; trong khi ở tầm

vi mô thì một đơn vị cung ứng dịch vụ xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, có cạnh tranh, nên luôn phải đặt ra và giải đáp các câu hỏi: Cần tạo ra dịch vụ gì, dịch vụ cho ai và

tổ chức cung ứng dịch vụ đó như thế nào? Xét trong mức độ lợi ích của doanh nghiệp thì dịch vụ xã hội có thể là đối tượng kinh doanh, nếu nó mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp; trong khí xét ở góc độ người tiêu dùng thì bất kỳ ai sử dụng dịch vụ cũng phải trả tiền có thể là trả trực tiếp hay gián tiếp (gián tiếp có thể từ nguồn ngân sách hay các nguồn viện trợ nhân đạo - từ thiện) Do đó, các tổ chức xã hội với vai trò là cung ứng các

9

Phạm Văn Hảo – Thực trạng cung cấp dịch vụ công tác xã hội ở nước ta hiện nay

Ngày đăng: 05/01/2022, 16:10

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w