MỞ ĐẦU Toàn cầu hóa đang là xu thế lớn tác động một cách trực tiếp sâu rộng tới các lĩnh vực đời sống xã hội của các quốc gia, dân tộc trong đó có lĩnh vực văn hóa. Xét về bản chất, toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới. Xu thế của toàn cầu hóa bắt nguồn từ sự phát triển của các lực lượng sản xuất từ tính chất xã hội của lực lượng sản xuất trên phạm vi quốc tế. Trong các xã hội xa xưa, các quốc gia dân tộc tồn tại tương đối biệt lập, ít có quan hệ với nhau. Nhưng cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự tăng tiến của sản xuất và trao dổi hàng hóa, sự mở rộng thị trường, thì các mối quan hệ cũng dần vượt ra khỏi ranh giới quốc gia, hình thành các mối quan hệ quốc tế và cũng từ đó, quá trình quốc tế hóa được bắt đầu. Quá trình quốc tế hóa được đẩy mạnh đặc biệt với sự ra đời của Chủ nghĩa Tư bản từ thế kỷ 16. Những phát kiến về địa lý, những cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa, sự phát triển đại công nghiệp, sự phát triển sản xuất nhờ áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ, sự mở rộng thị trường quốc tế, mở rộng giao lưu quốc tế đã phá vỡ tính chất cát cứ, biệt lập trong phạm vi quốc gia, mở rộng phạm vi hoạt động kinh tế. Quá trình toàn cầu hóa đã được dự báo từ khi Chủ nghĩa Tư bản ra đời, lúc bấy giờ được gọi là quá trình quốc tế hóa. Hơn 150 năm trước đây, Mác và Ăngghen đã viết trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới, thay cho tình trạng cô lập trước kia của cá địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những mối quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến của các dân tộc”. Theo xu hướng chung của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đây không phải là mục tiêu nhiệm vụ nhất thời mà còn là vấn đề mang tính chất sống còn đối với sự phát triển của cả dân tộc, hay ảnh hưởng trực tiếp đến sự hưng thịnh của một quốc gia. Tuy nhiên để thực hiện hiệu quả và đạt được những thành công trong quá trình toàn cầu hóa cần phải có sự nghiên cứu cụ thể để hiểu hơn về quá trình toàn cầu hóa và bản chất của toàn cầu hóa. Do vậy, với tư cách là sinh viên chuyên ngành chủ nghĩa xã hội em xin chọn đề tài “Bản chất của toàn cầu hóa hiện nay và ý nghĩa của việc nghiên cứu đối với quá trình nhận thức và thực hiện hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay” làm tiểu luận kết thúc môn học của mình.
Trang 1TIỂU LUẬNMÔN: TOÀN CẦU HÓA VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
BẢN CHẤT CỦA TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ THỰC HIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT
NAM HIỆN NAY
Trang 2MỞ ĐẦU
Toàn cầu hóa đang là xu thế lớn tác động một cách trực tiếp sâu rộngtới các lĩnh vực đời sống xã hội của các quốc gia, dân tộc trong đó có lĩnh vựcvăn hóa Xét về bản chất, toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ nhữngmối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cảcác khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới Xu thế của toàn cầuhóa bắt nguồn từ sự phát triển của các lực lượng sản xuất từ tính chất xã hộicủa lực lượng sản xuất trên phạm vi quốc tế Trong các xã hội xa xưa, cácquốc gia dân tộc tồn tại tương đối biệt lập, ít có quan hệ với nhau Nhưngcùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự tăng tiến của sản xuất vàtrao dổi hàng hóa, sự mở rộng thị trường, thì các mối quan hệ cũng dần vượt
ra khỏi ranh giới quốc gia, hình thành các mối quan hệ quốc tế và cũng từ đó,quá trình quốc tế hóa được bắt đầu Quá trình quốc tế hóa được đẩy mạnh đặcbiệt với sự ra đời của Chủ nghĩa Tư bản từ thế kỷ 16 Những phát kiến về địa
lý, những cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa, sự phát triển đại côngnghiệp, sự phát triển sản xuất nhờ áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ,
sự mở rộng thị trường quốc tế, mở rộng giao lưu quốc tế đã phá vỡ tính chấtcát cứ, biệt lập trong phạm vi quốc gia, mở rộng phạm vi hoạt động kinh tế.Quá trình toàn cầu hóa đã được dự báo từ khi Chủ nghĩa Tư bản ra đời, lúcbấy giờ được gọi là quá trình quốc tế hóa Hơn 150 năm trước đây, Mác và
Ăng-ghen đã viết trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Đại công nghiệp
đã tạo ra thị trường thế giới, thay cho tình trạng cô lập trước kia của cá địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những mối quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến của các dân tộc”.
Theo xu hướng chung của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước cốgắng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Đây không phải là mục tiêu nhiệm vụnhất thời mà còn là vấn đề mang tính chất sống còn đối với sự phát triển của
cả dân tộc, hay ảnh hưởng trực tiếp đến sự hưng thịnh của một quốc gia Tuy
Trang 3nhiên để thực hiện hiệu quả và đạt được những thành công trong quá trìnhtoàn cầu hóa cần phải có sự nghiên cứu cụ thể để hiểu hơn về quá trình toàncầu hóa và bản chất của toàn cầu hóa
Do vậy, với tư cách là sinh viên chuyên ngành chủ nghĩa xã hội em xin
chọn đề tài “Bản chất của toàn cầu hóa hiện nay và ý nghĩa của việc nghiên cứu đối với quá trình nhận thức và thực hiện hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay” làm tiểu luận kết thúc môn học của mình.
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY
1.1 Khai niệm toàn cầu hóa
Theo nghĩa rộng, toàn cầu hoá là một hiện tượng, một quá trình, một xu
thế liên kết trong quan hệ quốc tế làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về nhiềumặt của đời sống xã hội (từ kinh tế, chính trị, an ninh, văn hoá đến môitrường, v.v…) giữa các quốc gia Nói một cách khác,“Toàn cầu hoá là quátrình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụthuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới,làm nổi bật hàng loạt biến đổi có quan hệ lẫn nhau mà từ đó chúng có thể phátsinh một loạt điều kiện mới.”
Theo nghĩa hẹp, toàn cầu hoá là một khái niệm kinh tế chỉ quá trình
hình thành thị trường toàn cầu làm tăng sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhaugiữa các nền kinh tế quốc gia Biểu hiện của toàn cầu hoá có thể dưới dạngkhu vực hoá – việc liên kết khu vực và các định chế, các tổ chức khu vực, hay
cụ thể, toàn cầu hoá là “quá trình hình thành và phát triển các thị trường toàncầu và khu vực, làm tăng sự tương tác và tuỳ thuộc lẫn nhau, trước hết vềkinh tế, giữa các nước thông qua sự gia tăng các luồng giao lưu hàng hoá vànguồn lực (resources) qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thànhcác định chế, tổ chức quốc tế nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tếquốc tế
1.2 Lịch sử ra đời và hình thành của toàn cầu hóa
Xu thế của toàn cầu hóa bắt nguồn từ sự phát triển của các lực lượngsản xuất từ tính chất xã hội của lực lượng sản xuất trên phạm vi quốc tế.Trong các xã hội xa xưa, các quốc gia dân tộc tồn tại tương đối biệt lập, ít cóquan hệ với nhau Nhưng cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sựtăng tiến của sản xuất và trao dổi hàng hóa, sự mở rộng thị trường, thì các mối
Trang 5quan hệ cũng dần vượt ra khỏi ranh giới quốc gia, hình thành các mối quan hệquốc tế và cũng từ đó, quá trình quốc tế hóa được bắt đầu
Quá trình quốc tế hóa được đẩy mạnh đặc biệt với sự ra đời của Chủnghĩa Tư bản từ thế kỷ 16 Những phát kiến về địa lý, những cuộc chiếntranh xâm chiếm thuộc địa, sự phát triển đại công nghiệp, sự phát triển sảnxuất nhờ áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ, sự mở rộng thị trườngquốc tế, mở rộng giao lưu quốc tế đã phá vỡ tính chất cát cứ, biệt lập trongphạm vi quốc gia, mở rộng phạm vi hoạt động kinh tế Quá trình toàn cầuhóa đã được dự báo từ khi Chủ nghĩa Tư bản ra đời, lúc bấy giờ được gọi làquá trình quốc tế hóa
Hơn 150 năm trước đây, Mác và Ăng-ghen đã viết trong Tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản: “Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới, thay cho tình trạng cô lập trước kia của cá địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp,
ta thấy phát triển những mối quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến của các dân tộc”
Chính Mác đã chia quá trình quốc tế hóa tư bản chủ nghĩa thành haigiai đoạn:
Giai đoạn lệ thuộc một cách hình thức của thế giới, trước hết là của cácdân tộc “ngoại vi” vào chủ nghĩa tư bản và giai đoạn lệ thuộc thực sự của cảthế giới vào Chủ nghĩa tư bản Ở giai đoạn đầu, từ thế kỷ 16 chủ yếu là quốc
tế hóa lĩnh vực thông vốn, việc chiếm dụng giá trị thặng dư toàn cầu chủ yếuthông qua buôn bán và chiến tranh của chủ nghĩa thực dân cũ Vào giai đoạnsau, theo Mác, Chủ nghĩa tư bản đã đưa cả thế giới vào một hệ thống phânchia lao động quốc tế Và cũng từ đó, quá trình quốc tế hóa không ngừng pháttriển với những cột mốc lớn: Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, từ nhữngnăm 80 tới nay, xu thế quốc tế hóa được gọi bằng một tên mới là toàn cầu hóa(Globalization) Một trong những xu hướng mới toàn cầu hóa hiện nay (chẳnghạn: Kinh tế là việc sáp nhập và hợp nhất các công ty thành các tập đoàn lớn,nhất là các công ty khoa học kỹ thuật, công nghệ nhằm tăng khả năng cạnh
Trang 6tranh trên thị trường trong và ngoài nước Ví dụ: Vào thập niên 90, các vụ sápnhập đã lên đến 2500 tỷ USD Ở Mỹ, năm 1998, Exon đã sáp nhập Mobile trịgiá 86 tỷ USD; Travelers Group sáp nhập Citi Corp trị giá 73,6 tỷ USD; SBCsáp nhập Communications Americantech trị giá 72,3 tỷ USD; Bell Atlanticsáp nhập GTE trị giá 71,7 tỷ USD; AT&T sáp nhập Media online trị giá 63 tỷUSD ) Vào đầu những năm 2000, các cuộc cạnh tranh và sáp nhập các tậpđoàn lớn đã diễn ra gay gắt và quyết liệt với quy mô chưa từng có Ví dụ:Công ty truyền thông hàng đầu thế giới American Online (AOL) đã quyếtđịnh mua lại công ty thông tin giải trí thông tin đại chúng lớn nhất thế giớiTime Wanner với giá khoảng 160 tỷ USD, đổi tên mới là AOL Time, có tổnggiá trị trên thị trường là 360 tỷ USD và doanh thu hàng năm đạt lên tới 30 tỷUSD.
Một nguyên nhân trực tiếp và đồng thời cũng là biểu hiện của xu thếtoàn cầu hóa là sự tác động mạnh mẽ của các công ty tư bản độc quyền xuyênquốc gia Theo số liệu của UNCTAD, trong những thập niên 90 đã có 53 ngàndoanh nghiệp hoạt động xuyên quốc gia với 450 ngàn cơ sở sản xuất và chiếmgần 2/3 tổng khối lượng buôn bán trên toàn thế giới, kiểm soát 2/3 thươngmại thế giới, 4/5 nguồn vốn đầu tư trực tiếp ở nước ngoài và 9/10 kết quảnghiên cứu và chuyển giao công nghệ trên thế giới
Một đặc trưng cơ bản của toàn cầu hóa nữa đó là sự phát triển nhanhchóng của quan hệ kinh tế thương mại và chu chuyển trên phạm vi quốc tế.Hiện nay riêng thị trường tư bản quốc tế có tổng mức vốn luân chuyển lên tới
400 ngàn tỷ USD trong một ngày, thị trường này trao đổi khối lượng vốn caohơn mức vốn của tổng tất cả các ngân hàng trên thế giới
Trong quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa, nổi lên xu hướng liên kếtkinh tế dẫn đến sự ra đời của tổ chức kinh tế, chính trị, thương mại, tài chínhquốc tế và khu vực như: Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Quỹ tiền tệquốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Liên minh Châu Âu (EU), Hiệp hộicác nước Đông Nam Á (ASEAN), khu thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA),
Trang 7Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), thị trường tự doNam Mỹ (Mercosur)
Cũng trong quá trình toàn cầu hóa về kinh tế đã tác động mạnh mẽ đếnchính trị dẫn đến sự ra đời của các tổ chức chính trị quốc tế như Liên hợpquốc và các tổ chức của nó như UNDP, UNFPA, UNESCO, UNICEP,INCTAD, FAO đang tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của các nước trênphạm vi toàn cầu Cùng với sự hình thành các tổ chức chính trị quốc tế, quátrình toàn cầu hóa đã hình thành luật pháp quốc tế như công ước quốc tế vềluật biển năm 1982, tuyên bố thế giới về nhân quyền, công ước LHQ vềquyền trẻ em mà Việt nam là nước tham gia ký kết sớm nhất châu Á
Trang 8CHƯƠNG II BẢN CHẤT CỦA TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY
2.1 Toàn cầu hóa là xu hướng phát triển khách quan của nhân loại, các quốc gia và dân tộc
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất đã dẫn đến một xu thếlớn đang chi phối sự phát triển của thế giới hiện đại, đó là quá trình toàn cầuhóa Toàn cầu hóa (tiếng Anh là Globalization), xét về bản chất là quá trìnhgia tăng mạnh mẽ những mối liên hệ ảnh hưởng, tác động lẫn nhau trên tất cảcác lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, chính trị giữa các quốc gia, các dântộc trên toàn thế giới Trong các nội dung trên thì toàn cầu hóa kinh tế vừa làtrung tâm, vừa là động lực thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa các lĩnh vực khác
Về bản chất, toàn cầu hóa kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt độngkinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia và khu vực, tạo ra sự tùy thuộc lẫnnhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động phát triển hướng tới một nềnkinh tế thế giới hội nhập và thống nhất Những đặc điểm chủ yếu của toàn cầuhóa kinh tế là :
Tự do hóa các yếu tố của tái sản xuất xã hội mang tính toàn cầu đượcthể hiện qua tự do hóa thương mại đang trở thành nội dung quan trọng củaquá trình toàn cầu hóa kinh tế Bằng chứng là, mục tiêu của hầu hết các thểchế kinh tế thương mại song phương và đa phương, đặc biệt là WTO, đều tậptrung giải quyết vấn đề tiếp cận thị trường thông qua các cam kết về tự do hóathương mại Đây là quá trình dỡ bỏ dần những cản trở trong hoạt động thươngmại, xóa bỏ sự phân biệt đối xử, tạo lập sự cạnh tranh bình đẳng, nhằm làmcho hoạt động thương mại trên phạm vi quốc tế ngày càng tự do hơn thôngqua việc cắt giảm dần thuế quan; giảm bớt, tiến tới loại bỏ hàng rào phi thuếquan, như hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, quản lý ngoại hối, phụthu hàng nhập khẩu, các loại lệ phí và nhiều cản trở vô hình khác; bảo đảmcạnh tranh công bằng và không phân biệt đối xử
Trang 9Đẩy mạnh tự do hóa các hoạt động tài chính và đầu tư quốc tế được đẩymạnh Toàn cầu hóa trong lĩnh vực tài chính được đẩy mạnh thông qua việc tự
do hóa rộng rãi các giao dịch tài chính quốc gia và phát triển các thị trường tàichính quốc tế, hướng tới một thị trường tài chính mang tính toàn cầu Tự dohóa tài chính bao gồm các nội dung cơ bản, như: nới lỏng kiểm soát tín dụng;
tự do hóa lãi suất; tự do hóa tham gia hoạt động ngân hàng và các dịch vụ tàichính trên toàn thế giới, không phân biệt biên giới; tự do hóa việc di chuyểncủa các luồng vốn quốc tế
2.2 Toàn cầu hóa là xu hướng khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia
Quá trình này dẫn đến hệ thống các nền tài chính quốc gia hội nhập vàtùy thuộc, tác động lẫn nhau ngày càng mạnh mẽ
Các công ty đa quốc gia (MNCs) ngày càng đóng vai trò quan trọng vàchủ đạo trong các quan hệ kinh tế thế giới Tính đến năm 2004, toàn thế giới
có khoảng 63.000 công ty đa quốc gia với trên 800.000 chi nhánh Các công
ty đa quốc gia hiện chi phối hơn 80% giá trị thương mại quốc tế, chiếm hơn90% tổng giá trị vốn đầu tư và thành tựu khoa học, công nghệ trên thế giới.Với sức mạnh ngày càng lớn, các công ty đa quốc gia ngày càng mở rộng ảnhhưởng, duy trì và nâng cao quyền lực kiểm soát trong các lĩnh vực quan trọngnhư tài chính, công nghệ, dịch vụ và lao động Các công ty xuyên quốc giachính là một nhân tố cực kỳ quan trọng góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hơn quátrình toàn cầu hóa kinh tế Trong hơn một thập kỷ gần đây, các công ty xuyênquốc gia đã tăng cường hoạt động mua lại và sáp nhập (M & A), hình thànhcác công ty quốc tế khổng lồ có ảnh hưởng ngày càng lớn đến quá trình phâncông lao động quốc tế
Hình thành ngày càng nhiều tổ chức liên kết kinh tế quốc tế ở nhữngcấp độ khác nhau (khu vực và thế giới) và vai trò quan trọng của WTO trongquá trình toàn cầu hóa
Trang 10Trong những thập kỷ gần đây, nền kinh tế thế giới đã chứng kiến sựphát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của các hoạt động liên kết kinh tế quốc
tế Quá trình liên kết kinh tế quốc tế diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau, từ liênkết tam giác, tứ giác phát triển đến liên kết khu vực như: EU, ASEAN,NAFTA, MECOSUR, liên khu vực như APEC, ASEM và liên kết toàn cầu.Trong đó, liên kết khu vực đóng vai trò quan trọng Nếu năm 1956 đánh dấu
sự ra đời của liên kết khu vực đầu tiên là Cộng đồng kinh tế châu Âu, thìtrong thập kỷ 80 và 90 và của thế kỷ XX, liên kết kinh tế khu vực đã trở thànhlàn sóng lan khắp các châu lục Hiện nay trên toàn thế giới có khoảng 24 tổchức liên kết kinh tế khu vực có quy mô lớn với những mức độ quan hệ khácnhau Tầm ảnh hưởng của chúng đến mức hầu như không có quốc gia nàokhông là thành viên của một liên kết kinh tế quốc tế, nhiều quốc gia đồng thời
là thành viên của nhiều tổ chức liên kết kinh tế khác nhau Và, nếu khi mới rađời, GATT chỉ có 23 thành viên với lĩnh vực điều tiết chủ yếu là trong thươngmại hàng hóa và còn giới hạn ở vấn đề thuế quan, thì đến cuối năm 2005,WTO (tổ chức thay thế cho GATT trước đây) đã là một tổ chức với gần 150thành viên, điều tiết hầu hết các lĩnh vực, khía cạnh của thương mại quốc tế
Toàn cầu hóa đã thúc đẩy kinh tế phát triển với tốc độ cao, nếu nửa đầuthế kỷ XX, tổng GDP của thế giới tăng 2,7 lần, thì đến nửa cuối thế kỷ, tổngGDP thế giới đã tăng 5,2 lần Đầu năm 1950, tỷ trọng thương mại trong GDPtoàn cầu là 7%, thì hiện nay đã tăng lên hơn 50% Năm 2004, tổng giá trịthương mại toàn cầu đạt hơn 22.267 tỉ USD, làm cho thương mại thực sự trởthành động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tếthế giới Biểu đồ sau đây cho thấy mức tăng trưởng GDP và xuất khẩu hànghóa thế giới trong 10 năm sau khi WTO ra đời
Thông qua quá trình toàn cầu hóa, mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các
quốc gia cũng như người dân trên thế giới ngày càng gia tăng Sự phụ thuộclẫn nhau không chỉ diễn ra trên phương diện kinh tế – thương mại, mà cònxuất hiện ở những vấn đề khác như tình trạng ấm lên toàn cầu của trái đất,
Trang 11hay các làn sóng tội phạm và chủ nghĩa khủng bố xuyên quốc gia… Những
vấn đề này đòi hỏi các quốc gia cần phải thúc đẩy hợp tác sâu rộng hơn bởi lẽtrong bối cảnh toàn cầu hóa, không một quốc gia nào có thể tránh được nhữngtác động này, và càng không thể một mình giải quyết được những vấn đề đó
Thứ tư, dường như toàn cầu hóa đang làm giảm dần các khác biệt vềmặt văn hóa Những bộ phim Hollywood giúp phổ biến các giá trị văn hóa đạichúng của Mỹ ra khắp thế giới Thói quen tiêu dùng và sinh hoạt của ngườidân ở các quốc gia cũng dần bị biến đổi theo hướng đồng nhất Tương tự,thông qua âm nhạc và điện ảnh, người dân thế giới ngày càng biết tới nhiềuhơn các giá trị văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quá… của các quốc gia nhưHàn Quốc hay Trung Quốc Một mặt quá trình toàn cầu hóa về văn hóa nàytạo nên sự hiểu biết lẫn nhau lớn hơn giữa người dân thuộc nhiều quốc gia,nhiều nền văn hóa khác nhau Mặt khác, trong một số trường hợp nó cũng tạonên những phản ứng tiêu cực, như sự va chạm giữa các giá trị văn hóa đối lập,hay sự phản kháng đối với những giá trị văn hóa phương Tây, đặc biệt là ởcác quốc gia Hồi giáo Tương tự, toàn cầu hóa cũng đe dọa làm lu mờ bản sắcvăn hóa của các quốc gia, vốn là những giá trị cần được duy trì nhằm bảo vệ
sự đa dạng của nền văn hóa thế giới
2.3 Thời cơ và thách thức đối với quá trình toàn cầu hóa hiên nay
2.3.1.Những thời cơ
- Phát huy được lợi thế so sánh để phát triển
Lợi thế so sánh luôn biến đổi phụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗinước Nước nào có nền kinh tế càng kém phát triển thì lợi thế so sánh càngsuy giảm Đa số các nước đang phát triển chỉ có lợi thế so sánh bậc thấpnhư lao động rẻ, tài nguyên, thị trường Đó là một thách thức lớn đối vớicác nước đang phát triển Nhưng toàn cầu hóa cũng mang lại cho các nướcđang phát triển những cơ hội lớn mới, nếu biết vận dụng sáng tạo để thựchiện được mô hình phát triển rút ngắn Chẳng hạn, bằng lợi thế vốn có vềtài nguyên, lao động, thị trường, các ngành công nghiệp nhẹ, du lịch, dịch
Trang 12vụ các nước đang phát triển có thể tham gia vào tầng thấp và trung bìnhcủa sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn cầu với cơ cấu kinh tế có các ngành
sử dụng nhiều lao động, nhiều nguyên liệu, cần ít vốn đầu tư, công nghệtrung bình tiên tiến tạo ra những hàng hoá - dịch vụ không thể thiếu trong
cơ cấu hàng hoá - dịch vụ trên thị trường thế giới Để làm được việc đó cácnước đang phát triển có cơ hội tiếp nhận được các dòng vốn quốc tế, cácdòng kỹ thuật - công nghệ mới và kỹ năng quản lý hiện đại Nhưng cơ hộiđặt ra như nhau đối với các nước đang phát triển, song nước nào biết tậndụng nắm bắt được chúng thì phát triển Điều đó phụ thuộc vào nhân tố chủquan, vào nội lực của mỗi nước
Việc phát huy tối đa lợi thế so sánh trong quá trình toàn cầu hóa củacác nước đang phát triển là nhằm tận dụng tự do hoá thương mại, thu hút đầu
tư để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội Tỷ trọng mậu dịch thếgiới trong tổng kim ngạch mậu dịch thế giới của các nước ĐPT ngày một tăng(1985: 23%, 1997: 30%) Các nước đang phát triển cũng ngày càng đa dạnghoá, đa phương hoá trong quan hệ kinh tế quốc tế, tỷ trọng hàng công nghiệptrong cơ cấu hàng xuất khẩu ngày càng tăng (1985: 47%, 1998: 70%) và cácnước đang phát triển đang nắm giữ khoảng 25% lượng hàng công nghiệp xuấtkhẩu trên toàn thế giới
- Tăng nguồn vốn đầu tư
Kinh tế toàn cầu hóa biểu hiện nổi bật ở dòng luân chuyển vốn toàncầu Điều đó tạo cơ hội cho các nước đang phát triền có thể thu hút đượcnguồn vốn bên ngoài cho phát triển trong nước, nếu nước đó có cơ chế thu hútthích hợp Thiết lập một cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư nội địa hợp lý là cơ
sở để định hướng thu hút đầu tư nước ngoài Các nhà đầu tư nước ngoài tìmkiếm các ưu đãi từ những điều kiện và môi trường đầu tư bên trong để thúcđẩy chương trình đầu tư của họ Các nước đang phát triển đã thu hút và sửdụng một lượng khá lớn vốn nước ngoài cùng với nguồn vốn đó, vốn trongnước cũng được huy động
Trang 13Toàn cầu hóa đã tạo ra sự biến đổi và gia tăng cả về lượng và chất dòngluân chuyển vốn vào các nước đang phát triển, nhất là trong khi các nướcĐPT đang gặp rất nhiều khó khăn về vốn đầu tư cho phát triển
- Nâng cao trình độ kỹ thuật - công nghệ
Trước xu thế toàn cầu hóa các nước đang phát triển tuỳ theo vị thế, điềukiện lịch sử cụ thể và trình độ phát triển của mình đều có cách thức riêng pháttriển theo con đường rút ngắn Hai trong số nhiều con đường phát triển
là: Thứ nhất, du nhập kỹ thuật - công nghệ trung gian từ các nước phát triển
để xây dựng những ngành công nghiệp của mình như là một bộ phận hợpthành trong tầng công nghiệp hiện đại Tuỳ thuộc vào khả năng vốn, trí tuệ
mà các nước đang phát triển lựa chọn một hoặc cùng lúc cả hai con đườngphát triển nói trên Toàn cầu hóa cho phép các nước đang phát triển có điềukiện tiếp nhận các dòng kỹ thuật - công nghệ tiên tiến, hiện đại từ các nướcphát triển để nâng cao trình độ kỹ thuật - công nghệ của mình Nhưng điều đócòn phụ thuộc vào khả năng của từng nước biết tìm ra chiến lược công nghiệphoá rút ngắn thích hợp
- Thay đổi được cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực
Toàn cầu hóa đòi hỏi nền kinh tế của các quốc gia, trong đó có cácnước đang phát triển phải tổ chức lại với cơ cấu hợp lý Kinh tế thế giới đangchuyển mạnh từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức Nhưng ởcác nước phát triển những ngành có hàm lượng chất xám, hàm lượng côngnghệ cao, hàm lượng vốn lớn đang chiếm ưu thế, còn ở những nước đangphát triển chỉ có thể đảm nhận những ngành có hàm lượng cao về lao động,nguyên liệu và hàm lượng thấp về công nghệ, vốn Tuy nhiên, nếu nước đangphát triển nào chủ động, biết tranh thủ cơ hội, tìm ra được con đường pháttriển rút ngắn thích hợp, thì có thể vẫn sớm có được nền kinh tế tri thức Điều
đó đòi hỏi một sự nỗ lực rất lớn Quá trình TCH sẽ dẫn đến tốc độ biến đổicao và nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu, điều đó buộc nền kinh tế mỗinước, muốn phát triển, không còn con đường nào khác là phải hoà nhập vào
Trang 14quỹ đạo vận động chung của nền kinh tế thế giới Nền kinh tế nào bắt kịpdòng vận động chung thì phát triển, không thì dễ bị tổn thương và bất định
- Mở rộng kinh tế đối ngoại
Toàn cầu hóa làm cho quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế trở thành
xu hướng tất yếu và diễn ra hết sức mạnh mẽ do sự phát triển cao của lựclượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ.Toàn cầu hóa đang diễn ra với tốc độ cao, càng đòi hỏi mạnh mẽ việc mởrộng quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nền kinh tế, đặc biệt là đối với cácnước Và chỉ bằng cách đó mới có thể khai thác có hiệu quả nguồn lực quốc
tế Đồng thời, Toàn cầu hóa, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế càng đẩymạnh thì càng tạo ra những cơ hội và thách thức mới mà chỉ có sự phối hợpquốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại thì mới có thể tranh thủ được những cơhội, vượt qua được những thách thức Thực tế lịch sử cũng đã khẳng địnhrằng: ngày nay không một quốc gia nào có thể phát triển được nếu không thiếtlập quan hệ kinh tế với các nước khác, và do vậy không một quốc gia nào, kể
cả các nước đang phát triển, lại không thực hiện việc mở rộng quan hệ kinh tếđối ngoại
Trong hoàn cảnh quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày càng sâu rộng, quátrình toàn cầu hóa được thúc đẩy mạnh mẽ, các quan hệ kinh tế đối ngoại trởthành một nhân tố không thể thiếu để thực hiện tái sản xuất mở rộng ở mỗinước, nhất là những nước đang phát triển
- Cơ sở hạ tầng được tăng cường
Quá trình toàn cầu hóa đã tạo ra cơ hội để nhiều nước đang phát triển
hệ thống cơ sở hạ tầng về giao thông vận tải, về bưu chính viễn thông, vềđiện, nước đặc biệt ở các nước đang phát triển mức thu nhập tính theo đầungười rất thấp, do đó tích luỹ cũng vô cùng thấp vì phần lớn thu nhập dùngvào sinh hoạt Trong khi đó các nước đang phát triển lại rất cần những lượngvốn lớn để xây dựng kết cấu hạ tầng và xây dựng những công trình thiết yếunhằm phát triển kinh tế Bởi vậy, xuất hiện khoảng cách lớn giữa nhu cầu đầu
Trang 15tư và tích luỹ vốn Cho nên các nước đang phát triển muốn tăng cường xâydựng cơ sở hạ tầng thì phải biết tạo môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu
tư nước ngoài Chỉ có thông qua các quan hệ kinh tế đối ngoại mới có thể cảitạo, đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của các cơ sở sản xuất hiện có;cải tiến, hiện đại hoá công nghệ truyền thống; xây dựng những hướng côngnghệ hiện đại Nhờ đó mà xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cơ sở hạ tầngcho nền kinh tế
- Học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến
Các nước có nền kinh tế phát triển thường có phương thức, cách thứcquản lý nền kinh tế tiên tiến với những công cụ quản lý hiện đại Thông quacác quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế các nước ĐPT học tập những kinh nghiệmquản lý tiên tiến hiện đại của các nước phát triển Học tập trực tiếp qua các dự
án đầu tư, qua các Xí nghiệp, Công ty liên doanh , qua việc đàm phán ký kếtcác hợp đồng kinh tế
2.3.2 Những thách thức đặt ra trong quá trình toàn cầu hóa
- Tăng trưởng kinh tế không bền vững do phụ thuộc vào xuất khẩu
Nền kinh tế các nước đang cơ cấu lại theo chiến lược kinh tế thị trường
mở, hội nhập quốc tế Nhưng trong quá trình đó, tốc độ tăng trưởng kinh tếcủa nhiều nước đang phát triển phụ thuộc phần lớn vào xuất khẩu Mà xuấtkhẩu lại phụ thuộc vào sự ổn định của thị trường thế giới, vào giá cả quốc tế,vào lợi ích của các nước nhập khẩu, vào độ mở cửa thị trường của các nướcphát triển do vậy, mà chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn, khó lường trước
- Lợi thế của các nước đang phát triển đang bị yếu dần
Nền kinh tế thế giới đang chuyển mạnh từ nền kinh tế công nghiệp sangnền kinh tế tri thức Do vậy mà những yếu tố được coi là lợi thế của các nướcđang phát triển như tài nguyên, lực lượng lao động dồi dào, chi phí lao độngthấp sẽ yếu dần đi, còn ưu thế về kỹ thuật - công nghệ cao, về sản phẩm sởhữu trí tuệ, về vốn lớn lại đang là ưu thế mạnh của các nước phát triển Badòng luân chuyển toàn cầu là kỹ thuật - công nghệ, thông tin và vốn đang trở
Trang 16thành động lực thúc đẩy toàn cầu hóa Trong quá trình đó, lợi thế so sánh củacác nước cũng biến đổi căn bản: trên phạm vi toàn cầu lợi thế đang nghiêng
về các nước phát triển vì ở đó dang có ưu thế về trí tuệ, hàm lượng công nghệcao và vốn lớn Các nước đang phát triển đang bị giảm dần ưu thế do lợi thế
về lao động rẻ, tài nguyên phong phú đang bị suy yếu Và các nước càngkém phát triển thì càng phải chịu nhiều thua thiệt và rủi ro do sự suy giảm vềlợi thế so sánh gây ra Đó là thách thức cho các nước đi sau Toàn cầu hóatrong khi làm tăng vai trò của các ngành công nghiệp, dịch vụ, nhất là nhữngngành có công nghệ cao, lao động kỹ năng thì sẽ giảm tầm quan trọng củacác hàng hoá sơ chế và lao động không kỹ năng Cuộc cách mạng công nghệsinh học, tin học, điện tử làm giảm tầm quan trọng của các mặt hàng côngnghệ thô Do đó, các nước đang phát triển, trước đây được coi là giàu có,được ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên, thì ngày nay đang trở thành nhữngnước nghèo Sự tiến bộ về khoa học - công nghệ không chỉ làm thay đổi cơcấu, mà còn làm thay đổi về lợi thế so sánh giữa các nước phát triển và đangphát triển Các ngành công nghiệp hiện đại sử dụng ngày càng ít tài nguyênthiên nhiên, do đó, tài nguyên thiên nhiên không còn là lợi thế lớn, không còn
là yếu tố cạnh tranh quan trọng Trong nền kinh tế hiện đại, chỉ có công nghệtri thức, kỹ năng tinh xảo được coi là các nguồn lực có lợi thế so sánh cao.như vậy, các nước đang phát triển, các nhà xuất khẩu hàng hoá sơ chế và laođộng không kỹ năng ngày càng bị rơi vào tình thế bất lợi Hơn nữa, Toàn cầuhóa buộc các nước đang phát triển hoạt động theo nguyên tắc của thị trườngtoàn cầu, làm hạn chế tính hiệu quả của chính sách phát triển quốc gia của họ.Trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, tầm quan trọng của nguyên liệu thô vàlao động kỹ năng thấp đang giảm dần, trong khi lao động kỹ năng và tri thứcngày càng trở nên quan trọng Lợi thế đang ngày càng nghiêng dần về phíacác nước phát triển
- Nợ nần của các nước đang phát triển tăng lên
Sau một thời gian tham gia toàn cầu hóa nợ nần của nhiều nước đangphát triển ngày càng thêm chồng chất Khoản nợ quá lớn (trên 2200 tỷ USD)
Trang 17là gánh nặng đè lên nền kinh tế của các nước ĐPT, nó là lực cản kéo lùi tốc
độ tăng trưởng kinh tế của các nước này Theo báo cáo của WB về tình hìnhtài chính toàn cầu năm 1999, tỷ lệ nợ nước ngoài so với GNP của Braxin là24%, Mêhicô là 38%, Inđônêxia là 65%, Philippin là 51% Những khoản nợquá lớn đang làm cho nền kinh tế một số nước ĐPT ngày càng phụ thuộc vàonền kinh tế các nước chủ nợ, mà chủ yếu là các nước tư bản phát triển Cónhững nước khoản vay mới không đủ dể trả lời những khoản vay cũ Điều đócàng làm cho nền kinh tế một số nước ĐPT lâm vào bế tắc, không có đường
ra, dẫn đến vỡ nợ, phá sản TCH như cỗ xe khổng lồ nghiền nát nền kinh tếmột số nước bị vỡ nợ
- Sức cạnh tranh của nền kinh tế yếu kém
Toàn cầu hóa đã làm cho vấn đề cạnh tranh toàn cầu trở nên ngày càngquyết liệt Xuất phát điểm và sức mạnh của mỗi quốc gia khác nhau, nên cơhội và rủi ro của các nước là không ngang nhau Nền kinh tế của các nướcĐPT dễ bị thua thiệt nhiều hơn trong cuộc cạnh tranh không ngang sức này.Càng phải phá bỏ hàng rào bảo hộ thì thách thức đối với các nước đang pháttriển càng lớn Chính sự yếu kém về kỹ thuật, công nghệ, vốn, kỹ năng tổchức nền kinh tế của các nước đang phát triển sẽ làm cho chênh lệch về trình
độ phát triển giữa các nước ĐPT với các nước phát triển sẽ ngày càng cách xahơn Từ đó cho thấy rằng: việc áp dụng nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng chocác nước có trình độ kinh tế khác xa nhau thực chất là một sự bất bình đẳng.Trên một sân chơi ngang bằng, cạnh tranh ‘’bình đẳng’’ những nền kinh tếlớn mạnh, những công ty có sức mạnh nhất định sẽ chiến thắng những nềnkinh tế còn kém phát triển, những công ty còn nhỏ yếu Tính chất bất bìnhđẳng trong cạnh tranh quốc tế hiện nay đang đem lại những thua thiệt cho cácnước đang phát triển
- Mở rộng lãnh thổ, tăng thêm dân số.
Trước khi CHXH ở Liên Xô và Đông Âu (cũ) tan rã, các nước ĐPTtrên thế giới là 163/191 quốc gia và khu vực Hiện nay con số này là 180/210
Trang 18Bởi lẽ các nước Liên Xô và Đông Âu là 9 nước, nay đã chia tách thành 28nước Điều đó làm cho dân số ở các nước ĐPT hiện nay tăng thêm khoảnghơn 400 triệu, đất đai tăng thêm hơn 25 triệu km2
- Phân hoá giàu nghèo giữa hai nhóm nước: phát triển và đang phát triển tăng lên
Quá trình toàn cầu hóa là quá trình làm tăng thêm sự phân hoá giàunghèo giữa hai nhóm nước: phát triển và đang phát triển Hiện nay các nướcphát triển đang nắm giữ 3/4 sức sản xuất của toàn thế giới, 3/4 phân ngạchmậu dịch quốc tế, là nơi đầu tư và thu hút chủ yếu các luồng vốn FDI (năm
1999 trong 827 tỷ USD tổng vốn FDI của thế giới, các nước phát triển chiếm
609 tỷ USD, riêng EU gần 300 tỷ USD, Mỹ gần 200 tỷ USD) Các Công tyxuyên quốc gia lớn nhất thế giới cũng chủ yếu nằm ở các nước phát triển Cácnước này cũng nắm giữ hầu hết các công nghệ hiện đại nhất, các phát minh,sáng chế, bí quyết và các sản phẩm chất xám khác Đây cũng là nơi liên tụcthu hút được "chất xám" của toàn thế giới Ngoài ra các thiết chế kinh tế, tàichính, tiền tệ, thương mại quốc tế như WTO IMF, WB đều nằm dưới sự chiphối của các nước phát triển, đứng đầu là Mỹ Với những sức mạnh kinh tế tolớn như vậy, các nước phát triển đang chi phối nền kinh tế toàn cầu Còn cácnước ĐPT thì nền kinh tế chưa đủ sức để chống đỡ được vòng xoáy của cạnhtranh trong nền kinh tế thế giới Do vậy mà các nước ĐPT ngày càng bị nghèo
đi so với tốc độ giàu nhanh của các nước phát triển Năm 1998, 24 quốc giaphát triển chiếm khoảng 17% dân số thế giới thì chiếm tới 79% giá trị tổngsản lượng kinh tế quốc dân toàn thế giới; còn các nước ĐPT chiếm 83% dân
số thế giới thì chỉ chiếm 21% giá trị tổng sản lượng kinh tế quốc dân toàn thếgiới; 20% số dân thế giới sống ở những nước thu nhập cao tiêu dùng 86% sốhàng hoá của toàn thế giới 20% số dân nghèo nhất thế giới năm 1998 chỉchiếm 1,1% thu nhập toàn thế giới, tỷ lệ đó năm 1991 là 1,4%, năm 1996 là2,3% Hiện nay, tài sản của 10 tỷ phú hàng đầu thế giới đã đạt 133 tỷ USDtương đương với 1,5 lần thu nhập quốc dân của tất cả các nước ĐPT
Trang 19- Môi trường sinh thái ngày càng xấu đi
Việc chuyển dịch những ngành đòi hỏi nhiều hàm lượng lao động, tàinguyên nhiều những ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường sang cácnước ĐPT; việc các nhà tư bản nước ngoài đầu tư vào các nước ĐPT ngàycàng trở nên xấu đi nhanh chóng Hơn nữa, trong quá trình TCH sự phát triểncủa các nước phát triển không chỉ dựa vào tài nguyên giá rẻ, sức lao động rẻ,thị trường giá rẻ, hàng hoá và dịch vụ rẻ; mà còn dựa vào đầu độc môi trườngsinh thái ở các nước ĐPT 2/3 rừng của thế giới đang bị phá huỷ và đang mất
đi với tốc độ mỗi năm 16 triệu ha Lượng gỗ dùng cho sản xuất giấy (gần nhưtoàn bộ lấy từ các nước ĐPT) thập kỷ 90 gấp đôi thập kỷ 50, mà tiêu dùng chếphẩm giấy của Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu chiếm 2/3 thế giới Toàn thế giới mỗinăm có 2,7 triệu người chết vì không khí bị ô nhiễm, thì 90% số người đó là ởcác nước ĐPT Ngoài ra, mỗi năm còn có khoảng 25 triệu người bị trúng độc
vì thuốc trừ sâu, 5 triệu người bị chết vì nhiễm bệnh do nước bị nhiễm bẩn
Trang 20CHƯƠNG 3
Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VỚI QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC
VÀ THỰC HIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác và hội nhập quốc tế
Trong khi tàng di sản của người để lại, một trong những tư tưởng caoquý mà Bác đã để lại cho dân tộc ta là về hợp tác và hội nhập quốc tế
Thứ nhất, hợp tác quốc tế là xu thế tất yếu của thời đại, phá bỏ sự biệtlập, mở đường cho sự phát triển, liên kết các dân tộc trong cuộc đấu tranh vìđộc lập, tự do và tiến bộ xã hội
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã mở đầu chomột thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hộitrên phạm vi toàn thế giới Thời đại mới đã chấm dứt sự tồn tại biệt lập giữacác quốc gia, mở ra mối quan hệ ngày càng rộng lớn giữa các dân tộc Trongquá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nhanhchóng nắm bắt được đặc điểm của thời đại Ngay từ những năm 20 của thế kỷ
XX, Người đã tổng kết, khái quát những nhận xét đầu tiên của mình bằngnhững luận điểm về nhu cầu, khả năng, điều kiện hợp tác giữa các dân tộc.Điểm nổi bật trong tư tưởng của Người lúc bấy giờ là sự hợp tác, đoàn kếtgiữa các dân tộc nhỏ yếu, lạc hậu, bị áp bức tạo nên sức mạnh chống đế quốc,thực dân, đặc biệt là chống lại chính sách “chia để trị” Người cho rằng: “Thờiđại của chủ nghĩa tư bản lũng đoạn cũng là thời đại một nhóm nước lớn dobọn tư bản tài chính cầm đầu thống trị các nước phụ thuộc và nửa phụ thuộc,bởi vậy công cuộc giải phóng các nước và các dân tộc bị áp bức là một bộphận khăng khít của cách mạng vô sản Do đó mà trước hết nảy ra khả năng
và sự cần thiết phải có liên minh chiến đấu chặt chẽ giữa các dân tộc thuộcđịa với giai cấp vô sản của các nước đế quốc để thắng kẻ thù chung”
Sau khi nắm bắt được đặc điểm của thời đại mới, Hồ Chí Minh đã hoạtđộng tích cực để gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới Khi chủ