31 3 Yêu cầu “giải quyết tình trạng hôn nhân thực tế ở địa phương theo Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Luật Hôn nhân và gia đình” 4 Chỉ thị này đề cập đến việc “hoàn thành việc đă
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ,
TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ
BÌNH LUẬN ÁN LỆ SỐ 41/2021/AL
VỀ CHẤM DỨT HÔN NHÂN THỰC TẾ THEO HƯỚNG ÁP DỤNG ĐỐI VỚI QUAN HỆ THỪA KẾ
Người thực hiện: Nguyễn Đào Dạ Uyên Lớp: HC45B2
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bản án dân sự số 48 Bản án dân sự phúc thẩm số 48/2010/DSPT ngày 29/7/2010 của Tòa
phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng về vụ án “Tranh chấp chia di sản thừa kế và chia tài sản chung”
Luật HN&GĐ Luật Hôn nhân và gia đình
Nghị quyết 02/1990 Nghị quyết số 02 ngày 19/10/1990 của Tòa án nhân dân tối cao
hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Thừa kế năm 1990
Nghị quyết 35/2000 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội về việc thi
hành luật hôn nhân gia đình
Thông tư liên tịch 01/2001 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP của
TAND Tối cao, VKSND Tối cao, Bộ Tư pháp ngày 3/1/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội về việc “thi hành Luật Hôn nhân và gia đình”
Trang 3Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Tình hình nghiên cứu: 1
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 2
4 Phương pháp nghiên cứu: 2
5 Kết cấu của đề tài: gồm 3 chương: 2
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HÔN NHÂN THỰC TẾ VÀ ÁN LỆ SỐ 41/2021/AL 3
1.1 Hôn nhân thực tế 3
1.1.1 Khái niệm về Hôn nhân thực tế: 3
1.1.2 Hệ quả mà hôn nhân thực tế để lại 3
1.2 Án lệ số 41/2021/AL về chấm dứt hôn nhân thực tế 5
1.2.1 Khái quát nội dung án lệ: 5
1.2.2 Những bất cập khi giải quyết những vụ án tương tự lúc chưa có án lệ: 5
1.2.3 Án lệ số 41/2021/AL – hành lang pháp lý cho vấn đề chấm dứt hôn nhân thực tế: 8
Kết luận Chương 1 9
CHƯƠNG 2: QUAN HỆ THỪA KẾ TRONG ÁN LỆ SỐ 41/2021/AL 10
2.1 Vấn đề chung của án lệ: 10
2.1.1 Vấn đề thứ nhất: Chấm dứt hôn nhân thực tế thứ nhất: 10
2.1.2 Vấn đề thứ hai: Công nhận hôn nhân thực tế thứ hai: 11
2.1.3 Tiểu kết: 12
2.2 Quan hệ thừa kế phát sinh từ vấn đề chấm dứt hôn nhân thực tế: 12
Kết luận Chương 2 14
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ÁN LỆ SỐ 41/2021/AL 15 3.1 Điểm bất cập của án lệ 41: 15
3.2 Những trường hợp liên quan: 16
Kết luận Chương 3 18
KẾT LUẬN 19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
A Văn bản pháp luật: 1
B Tài liệu tham khảo 1
PHỤ LỤC 1 Quan điểm lập pháp ở các quốc gia trên thế giới và thực trạng hôn nhân thực tế tại Việt Nam hiện nay 3
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Án lệ (hay còn được gọi là Tiền lệ pháp) là một trong những nguồn phổ biến trong pháp luật thế giới nói chung và với Việt Nam nói riêng “Án lệ là dựa trên những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố
là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử.”1
Mới đây, Chánh án TANDTC đã ban hành Quyết định công bố 04 án lệ, trong đó có án lệ số 41/2021/AL nói về việc chấm dứt hôn nhân thực tế Đây là một trong số các vấn đề gây tranh cãi,
và nhận được nhiều hướng giải quyết khác nhau của những Tòa án thụ lý vụ việc tương tự khi chưa có án lệ này Giờ đây, án lệ 41 được công bố giúp cho Tòa án thụ lý có được cơ sở để căn
cứ, giải quyết các vụ án một cách dễ dàng hơn Nhưng việc chấm dứt một mối quan hệ từng “đầu gối tay ấp” sẽ để lại nhiều hậu quả pháp lý, và hôn nhân thực tế cũng không nằm ngoài phạm vi
đó Một trong số hậu quả cần giải quyết chính là quan hệ thừa kế Nhận ra được tính cấp thiết của vấn đề, tác giả dựa vào án lệ 41 để làm rõ việc chấm dứt hôn nhân thực tế theo hướng áp dụng đối với quan hệ thừa kế
2 Tình hình nghiên cứu:
Một số tài liệu được sử dụng để nghiên cứu đề tài này bao gồm:
- Án lệ số 41/2021/AL về chấm dứt hôn nhân thực tế nằm trong đoạn 3, 4 phần “Nhận
định của Tòa án” trong bản án dân sự phúc thẩm số 48/2010/DSPT ngày 29/7/2010 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng Bản án nói về vụ án “Tranh chấp chia di sản thừa kế và chia tài sản chung” tại tỉnh Kon Tum giữa nguyên đơn là chị Trần Thị Trọng P1 với
bị đơn là anh Trần Trọng P2 và anh Trần Trọng P3, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 06 người
- Giáo trình “Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế” của trường Đại học Luật
thành phố Hồ Chí Minh: nói về các vấn đề liên quan đến thừa kế theo pháp luật, cụ thể là về khái niệm thừa kế theo pháp luật, diện thừa kế, hàng thừa kế và mối quan hệ giữa người để lại thừa kế và những người trong diện thừa kế, mà ở đây ta làm rõ về mối quan hệ thừa kế của vợ
và chồng
- Giáo trình “Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” của trường Đại học Luật thành phố
Hồ Chí Minh: làm rõ các vấn đề liên quan đến hôn nhân thực tế, cụ thể hơn về quyền thừa kế của vợ chồng, bên cạnh đó còn đề cập đến hậu quả pháp lý sau khi chấm dứt hôn nhân thực tế
1 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành quy định về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ
Trang 6- Luận văn “Xây dựng chế định pháp luật hôn nhân thực tế tại Việt Nam” của Trịnh Thọ
Trường: nêu ra nguồn gốc của hôn nhân thực tế và khái quát hệ quả mà hôn nhân thực tế để lại
- Luận văn “Living together is the opposite of living apart: Why is this concept so
important in family law?” của Hanis Ezzatul Farahah Binti Abdul Hamid: đề cập đến vấn đề
hôn nhân, đặc biệt là hôn nhân không đăng ký kết hôn được quy định như thế nào trong luật pháp của một số quốc gia trên thế giới
Và một số tài liệu, văn bản pháp luật liên quan
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: vấn đề chấm dứt hôn nhân thực tế
- Phạm vi nghiên cứu: Trong quan hệ thừa kế, cụ thể hơn là thừa kế theo pháp luật
4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp được sử dụng chủ yếu trong bài luận là phương pháp đối chiếu việc áp dụng pháp luật của Tòa án so với pháp luật hiện hành Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra những so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới Thông qua phương pháp phân tích, bình luận án lệ và các tình huống, trường hợp liên quan, tác giả tập trung làm rõ các vấn đề pháp lý được đặt ra xung quanh án lệ, chỉ ra tính hợp lý, hợp tình, phù hợp với yêu cầu mà thực tiễn đặt ra
Chương 1: Khái quát về Hôn nhân thực tế và án lệ số 41/2021/AL
Chương 2: Quan hệ thừa kế trong án lệ số 41/2021/AL
Chương 3: Một số giả thuyết liên quan đến án lệ số 41/2021/AL
Mỗi bình luận được nêu ra trong bài luận là quan điểm cá nhân, nên không thể tránh được việc có nhiều góc nhìn khác Tác giả rất mong nhận được sự góp ý để tiếp thu nhiều quan điểm khác nhau, cùng phát triển, mở rộng tư duy hơn trong việc nhìn nhận các vấn đề pháp lý
Trang 7CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT VỀ HÔN NHÂN THỰC TẾ VÀ ÁN LỆ SỐ 41/2021/AL
1.1 Hôn nhân thực tế
1.1.1 Khái niệm về Hôn nhân thực tế:
Kết hôn chính là một bước đệm dẫn đến hôn nhân Trong pháp luật hiện hành, chỉ có những cuộc hôn nhân đáp ứng đầy đủ cả về mặt nội dung (các điều kiện kết hôn) và mặt hình thức (đăng
ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền) thì “mới hợp pháp và mới làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa hai bên nam nữ trong quan hệ vợ chồng”2 Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy còn tồn tại nhiều cuộc hôn nhân không thỏa mãn yếu tố hình thức nhưng vẫn được pháp luật công nhận
Những cuộc hôn nhân đó được biết đến với tên là “Hôn nhân thực tế”
“Hôn nhân thực tế” là một thuật ngữ không còn quá xa lạ và được đề cập trong một số văn
bản như Chỉ thị số 15/2000/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “việc tổ chức thi hành Luật HN&GĐ năm 2000”3, Chỉ thị 01/2003/CT-BTP của Bộ Tư pháp về “thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp năm 2003”4, Nghị định 54/2006/NĐ-CP của Chính phủ về “việc hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng”5.6 Nhưng về sau, cụm từ này không còn được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật, mà được thay thế
bằng “nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng” theo Luật HN&GĐ năm 2014 Về bản chất,
cả hai cụm từ này đều như nhau, nên tóm lại có thể đưa ra khái niệm như sau: “Hôn nhân thực tế
là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung, coi nhau là vợ chồng không vi phạm các hành vi cấm nhưng không đăng ký kết hôn.”7
1.1.2 Hệ quả mà hôn nhân thực tế để lại
Vấn đề “hôn nhân thực tế” tồn tại trong xã hội như một thực tế khách quan Việc kết hôn
nhưng không đăng ký này diễn ra phổ biến hầu khắp các tỉnh, địa phương trên cả nước, “chiếm 60-80%”8 Nên việc công nhận hôn nhân thực tế sẽ giúp cho các bên nam nữ tham gia vào quan
hệ này được pháp luật đảm bảo về quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh
2 Nguyễn Phương Lan (1995), “Cần hiểu hôn nhân thực tế như thế nào”, Tạp chí Luật học, (3), tr 31
3 Yêu cầu “giải quyết tình trạng hôn nhân thực tế ở địa phương theo Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Luật Hôn nhân và gia
đình”
4 Chỉ thị này đề cập đến việc “hoàn thành việc đăng ký kết hôn đối với các trường hợp hôn nhân thực tế còn tồn đọng”
5 Ghi nhận “Vợ hoặc chồng liệt sĩ là người có quan hệ hôn nhân hợp pháp hoặc hôn nhân thực tế được pháp luật công nhận được
hưởng chế độ ưu đãi”
6 Đỗ Văn Đại và Lê Thị Mận, (2011), “Về khái niệm và hệ quả pháp lý của hôn nhân trực tiếp”, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt
Nam, (01), tr 55-63
7 Trịnh Thọ Trường, (2021), Xây dựng chế định pháp luật hôn nhân thực tế tại Việt Nam, tr 11
8 Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Báo cáo tổng kết 8 năm kiểm sát thực hiện Luật HN&GĐ, Hà Nội
Trang 81.1.2.1 Về mặt xã hội:
- Công nhận “hôn nhân thực tế” là cần thiết và tốt: khi cả hai bên nam nữ thật lòng
muốn về chung sống với nhau vì một mục đích lấy nhau công khai, muốn gắn bó và gánh vác chung nghĩa vụ của gia đình Họ thật sự yêu thương nhau, đề cao tình nghĩa và dẫn đến coi trọng trách nhiệm với nhau, chứ không vì một mục đích xấu nào khác Vì vậy, những đứa trẻ được lớn lên từ một mối quan hệ như thế sẽ được đảm bảo về quyền và nghĩa vụ mà chúng đáng được hưởng
- Việc họ chung sống với nhau là không tốt khi: Hai người nam nữ đến với nhau để thỏa mãn những nhu cầu tâm sinh lý Có thể ở thời điểm đó, cả hai cần nhau nhưng xét trong một khoảng thời gian lâu dài, mối quan hệ đó không đủ cơ sở để xác định nó sẽ bền vững và ổn định Và một mối quan hệ như thế không thể trở thành nền tảng cho một gia đình Những đứa trẻ lớn lên trong mối quan hệ đó có thể bị bỏ bê, thiếu tình yêu thương, thiếu sự giáo dưỡng
từ gia đình thật thụ Điều này có thể khiến đứa trẻ về sau sẽ gặp những vấn đề về tâm lý, thậm chí vướng vào các tệ nạn xã hội
1.1.2.2 Về mặt pháp lý:
Pháp luật công nhận hôn nhân thực tế khi hai bên nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng tuy không đăng ký kết hôn, nhưng vẫn phải thỏa mãn được điều kiện kết hôn và các điều kiện khác có liên quan Khi Nhà nước công nhận quan hệ hôn nhân, “từ đó có thể thấy Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do cá nhân, quyền tự do yêu thương, tìm hiểu của các bên nam, nữ nhưng sẽ không điều chỉnh các quan hệ này bằng pháp luật là hợp lý, tạo được sự ổn định và quan điểm thống nhất khi giải quyết vấn đề “hôn nhân thực tế” hiện tại và áp dụng cho cả sau này”9
Nhưng bên cạnh đó, việc công nhận này cũng phát sinh mặt trái rằng một số người lợi dụng nó để không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định pháp luật Từ đó, nó gây ra những hậu quả vi phạm pháp luật như tảo hôn ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa khó khăn, vi phạm chế độ một vợ, một chồng,…
Về vấn đề tài sản có thể được xem là may mắn khi Luật HN&GĐ năm 1959 quy định tài sản của vợ và chồng dù trước hay sau khi cưới đều là tài sản chung.10 Nhưng đối với con cái thì lại là một chuyện khác Tuy cặp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng được pháp luật thừa nhận thì con cái của họ sẽ được hưởng quyền và lợi ích như con cái của cặp vợ chồng đăng ký kết hôn, nhưng việc điều tra, xác minh mối quan hệ nói trên có phải hôn nhân thực tế hay không và con của họ có phải là con chung không thì còn gặp khó khăn, thậm chí ảnh hưởng đến quyền lợi của đứa trẻ
9 Trịnh Thọ Trường, 7, tr 22
10 Điều 15 Luật HN&GD năm 1959: “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có
trước và sau khi cưới.”
Trang 9Vì vậy, pháp luật cần đưa ra những hành lang pháp lý quy định cụ thể, rõ ràng hơn
những vấn đề liên quan đến “hôn nhân thực tế” để tránh ý đồ xấu của một số người lợi dụng
lỗ hổng của pháp luật Ta có thể tham khảo pháp luật ở một số quốc gia khác để xem xét chọn lọc, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam [Phụ lục 1]
1.2 Án lệ số 41/2021/AL về chấm dứt hôn nhân thực tế
1.2.1 Khái quát nội dung án lệ:
- Nguồn của án lệ: Bản án dân sự phúc thẩm số 48/2010/DSPT ngày 29/7/2010 của Tòa
phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng về vụ án “Tranh chấp chia di sản thừa kế và chia tài sản chung” tại tỉnh Kon Tum giữa nguyên đơn là chị Trần Thị Trọng P1 với bị đơn là anh Trần Trọng P2 và anh Trần Trọng P3; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 06 người
- Tình huống án lệ: Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết
hôn nhưng sau đó họ không còn chung sống với nhau và trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực, có người chung sống với nhau như vợ chồng với người khác Quan hệ hôn nhân đầu tiên và quan hệ hôn nhân thứ hai đều là hôn nhân thực tế
- Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, phải xác định hôn nhân thực tế đầu tiên đã chấm
dứt.11
1.2.2 Những bất cập khi giải quyết những vụ án tương tự lúc chưa có án lệ:
Hôn nhân vốn được xem là chuyện quan trọng cả đời Trước kia, khi người dân chưa quan tâm quá nhiều đến pháp luật, việc kết hôn cũng sẽ không đạt đủ những yêu cầu mà pháp luật đặt
ra để xác nhận cuộc hôn nhân đó là hợp pháp Một cặp đôi khi muốn trở thành vợ chồng chỉ nghĩ đến việc hai người cần phải tổ chức đám cưới và mời họ hàng chung vui là đủ, chứ không thật sự
để tâm đến các vấn đề pháp lý ràng buộc Vì thế, trước khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực,
hiện tượng “hôn nhân thực tế” tồn đọng trong xã hội còn rất nhiều, nhất là ở các vùng nông thôn,
những nơi vùng sâu, vùng xa ít được tiếp cận đến pháp luật
Từ đó, xuất hiện vấn đề nam, nữ đang chung sống với nhau nhưng không muốn chung sống
vì một lý do nào đó, một người bỏ đi đến vùng khác sinh sống, còn người ở lại “bén duyên” với người khác và lại chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn Cả hai mối quan hệ đều được xác lập trước khi Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực12 Khi một trong hai
11 Tòa án nhân dân tối cao, (2021), Án lệ số 41/2021/AL về chấm dứt hôn nhân thực tế, Hà Nội, tr.1
12 Khoảng thời gian đó, Luật HN&GĐ năm 1959 đang có hiệu lực Luật này không đặt ra nghĩa vụ đăng ký kết hôn minh bạch, rõ ràng, thêm việc dân ta khi đó coi trọng “lễ” hơn “luật”, chỉ quan tâm đến vấn đề cưới xin lễ nghĩa nhưng không quá bận tâm đến
pháp luật, nên vấn đề “hôn nhân thực tế” xuất hiện rất nhiều Mãi đến khi Luật HN&GĐ năm 2000 được ban hành đi kèm với các
văn bản hướng dẫn khác mới chính thức đặt ra nghĩa vụ đăng ký kết hôn Trong đó quy định, những cặp nam, nữ chung sống như
vợ chồng trước 3/1/1987 (thời điểm Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực) thì được khuyến khích làm thủ tục đăng ký kết hôn Còn cặp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trong khoảng thời gian 03/1/1987 đến 01/1/2001 thì có thời hạn 02 năm (từ 01/1/2001 đến 01/1/2003) để là thủ tục đăng ký kết hôn, hết thời hạn 02 năm mà không đăng ký thì cuộc hôn nhân đó không được
Trang 10người chết, người vợ, người chồng ngày xưa dù đã không sống với nhau gần chục năm, nhưng vẫn quay về để xin được hưởng phần tài sản mà người chồng, người vợ “trên danh nghĩa” để lại Trong trường hợp đó, có nhiều luồng quan điểm từ những nhà nghiên cứu cũng như từ các Tòa án
có thẩm quyền xét xử, đưa ra để giải quyết vụ việc Dựa vào một vụ việc được cóp nhặt, tác giả xin đưa ra để làm rõ những ý mà tác giả đã đề cập bên trên:
“Năm 1976 ông T.V.C và bà Đ.T.S chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn Cả hai sống chung tại nhà bố mẹ ruột bà S ở Vũng Tàu và có 02 con chung sinh năm
1977 và sinh năm 1980 Năm 1980, cả hai ly thân, không còn sống chung với nhau nữa, bà S vẫn tiếp tục ở trong căn nhà của cha mẹ ruột bà S cùng với một người con Còn ông C mang theo một người con chung về Bà Rịa ở
Khoảng vài tháng ông C gặp và sống chung với bà T.T.N từ năm 1981 đến khi ông C mất năm 2002 tại Bà Rịa, không đăng ký kết hôn và không có con chung Việc cưới bà N gia đình ông C biết
Bà Đ.T.S sau khi ly thân với ông C còn chung sống với hai người đàn ông khác, không đăng ký kết hôn Một người còn có con chung
Khi mất ông C không để lại di chúc
Vấn đề đặt ra: người vợ nào là vợ hợp pháp của ông C?” 13
Vụ việc này có ba luồng quan điểm như sau:
- Quan điểm thứ nhất: Công nhận bà Đ.T.S là vợ hợp pháp của ông T.V.C, còn bà
T.T.N mặc dù sống chung nhưng vẫn không được công nhận là vợ của ông C Vì: theo Nghị quyết 02/199014, Nghị quyết 35/2000, điểm 1, mục d và điểm 2 Thông tư liên tịch số 01/200115 cùng với Điều 9 và khoản 1 Điều 10 Luật HN&GĐ năm 200016 bà S sống chung
xem là hợp pháp Những cặp nam, nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn từ ngày 01/1/2001
thì không được pháp luật công nhận là “hôn nhân thực tế”
13 http://vienkiemsatbrvt.gov.vn/portal/p/1898
14 Quy định: “trong trường hợp một người có nhiều vợ (trước ngày 13-1-1960, ngày công bố Luật Hôn nhân và Gia đình năm
1959 đối với miền Bắc; trước ngày 25-3-1977, ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước đối với miền Nam và đối với cán bộ, bộ đội có vợ ở miền Nam sau khi tập kết ra bắc lấy thêm vợ mà việc kết hôn sau không bị hủy
bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật), thì tất cả các người vợ đều là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại, người chồng là người thừa kế hàng thứ nhất của tất cả các người vợ”
15 Quy định:
“1 Theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước
ngày 03/01/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai bên
có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ
án ly hôn theo thủ tục chung Cần chú ý là trong trường hợp sau khi quan hệ vợ chồng đã được xác lập họ mới thực hiện việc đăng ký kết hôn, thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như
vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn.”
“2d Được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
Trang 11với ông C từ năm 1976, tuy hai người không đăng ký kết hôn nhưng được hai bên gia đình biết và công nhận, hơn nữa, họ còn có với nhau 02 người con chung Đến năm 1980 cả hai người ly thân và không có quyết định ly hôn nên bà S vẫn được xem là vợ hợp pháp của ông
C Còn bà N dù sống chung với ông C từ năm 1981 đến lúc ông chết nhưng mối quan hệ này không được xem là hợp pháp vì việc sống chung giữa ông C với bà S đã được công nhận là hôn nhân thực tế, bà S mới là vợ hợp pháp của ông C
- Quan điểm thứ hai: Công nhận cả bà Đ.T.S và bà T.T.N là vợ hợp pháp của ông C
Bên cạnh việc công nhận bà S là vợ hợp pháp của ông C thì bà N cũng được công nhận Vì xét thấy bà N chung sống với ông C từ năm 1981, trước khi Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực Bên cạnh đó, bà N và ông C không vi phạm các điều kiện đăng ký kết hôn thuộc một trong các trường hợp được quy định tại điểm d, mục 2 Thông tư liên tịch số 01/2001:
“việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến; họ thực sự có
chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình…” Vậy nên,
bà N và ông C có đủ các yếu tố nên bà T.T.N cũng phải được công nhận là vợ hợp pháp của ông C
- Quan điểm thứ ba: Chỉ công nhận bà T.T.N là vợ hợp pháp của ông T.V.C Vì tuy bà
S chung sống với ông C trước bà N nhưng khi ông C chung sống với bà N thì ông C đã không còn chung sống với bà S Ngoài ra, sau khi không còn sống chung với ông C, bà S cũng đã chung sống với hai người đàn ông khác, thậm chí còn có con chung nhưng cũng không đăng ký kết hôn Việc ông C và bà N về sống chung với nhau có gia đình ông C biết Bên cạnh đó, từ 1981 bà N và ông C luôn chung sống với nhau, chăm sóc và giúp đỡ nhau, cùng xây dựng gia đình đúng theo điểm d, mục 2 Thông tư liên tịch 01/2001 quy định Nếu không có sự kiện ông C chết vào năm 2002 thì có thể hai người vẫn sống chung với nhau
- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;
- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
- Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình
Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.”
16 Quy định:
“Điều 9 Điều kiện kết hôn
Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây
1 Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên;
2 Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở;
3 Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của Luật này.”
“Điều 10 Những trường hợp cấm kết hôn
Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây:
1 Người đang có vợ hoặc có chồng;
.”
Trang 12Vậy nên nếu không công nhận bà T.T.N là vợ hợp pháp của ông T.V.C thì chính là xâm hại đến quyền lợi của bà N
Có thể thấy, các quan điểm đều dựa trên những lập luận, cơ sở pháp lý vững chắc để đưa vào giải quyết các vụ việc tương tự Tuy nhiên, lại chính vì thế mà không tạo được sự đồng nhất trong hướng giải quyết của các Tòa án có thẩm quyền xét xử, tạo ra thế lúng túng trong việc làm sáng rõ vụ án
1.2.3 Án lệ số 41/2021/AL – hành lang pháp lý cho vấn đề chấm dứt hôn nhân thực tế:
Nội dung của án lệ là đoạn 3, 4 phần “Nhận định của Tòa án” Chỉ hai đoạn nhưng dường như nó đã giúp cho các Tòa án có thẩm quyền xét xử những vụ án tương tự sau này đỡ được phần nào sự lúng túng
Xét trong cả bản án dân sự số 48 (chứa án lệ 41) thấy rằng, bà Tô Thị T2 là vợ đầu của ông Trần Thế T1 Việc chung sống của hai ông bà bắt đầu từ năm 1969 và kết thúc tại năm 1982 bằng
sự kiện bà T2 bỏ vào Vũng Tàu sinh sống (ông bà có 02 người con chung) Tại đây bà gặp ông Trần Sinh D và có 03 người con chung Tiếp đó, đến năm 1985, ông Trần Thế T1 chung sống với
bà Trần Thị S và có 01 người con chung Bà S là người vợ thứ hai của ông T1 Cả hai cuộc hôn nhân của ông T1 với bà T2 và với bà S đều là hôn nhân thực tế, do được xác lập trước khi Luật HN&GĐ năm 1986 có hiệu lực Ông T1 và bà S chung sống với nhau đến năm 2003 thì ông T1 chết không để lại di chúc Đến năm 2004, có đơn yêu cầu chia thừa kế của ông Trần Thế T1 Như vậy, ta thấy có một nút thắt cần phải được giải quyết trước khi chia thừa kế Đó là việc xác định ai là người được hưởng di sản của người chết khi không để lại di chúc
Trang 13Kết luận Chương 1
Ở chương 1, tác giả đã nêu ra được khái niệm của “hôn nhân thực tế” và hệ quả mà “hôn nhân
thực tế” để lại còn tồn đọng hiện nay, cả về mặt xã hội và mặt pháp lý Bên cạnh đó, tác giả cũng đã
sơ lược về Án lệ 41/2021/AL về nguồn gốc, vị trí, tình huống của ánh lệ và giải pháp pháp lý được đặt ra, nhằm có cái nhìn khái quát, giúp dễ dàng hơn trong việc đi sâu vào phân tích, bình luận án lệ Tác giả cũng đã nêu sự bất cập khi chưa có án lệ, cùng với những luồng quan điểm của các nhà nghiên cứu và Tòa án có thẩm quyền xét xử những vụ việc có tính chất tương tự Từ đó, ta thấy được Án lệ 41 đã tạo xây một hành lang pháp lý cho việc giải quyết những vấn đề về chấm dứt hôn nhân thực tế, là một bước đệm để hỗ trợ việc phân chia di sản mà người chết để lại khi không có di chúc một cách dễ dàng và nhanh chóng hơn, tạo được tính thống nhất giữa các Tòa khi áp dụng để giải quyết các vụ việc có tính chất tương tự
Ở chương 2, tác giả sẽ đi sâu vào phân tích vấn đề chấm dứt hôn nhân thực tế mà án lệ đã đặt
ra, từ đó đưa trọng tâm vào giải quyết quan hệ thừa kế, cụ thể hơn là thừa kế theo pháp luật
Trang 14CHƯƠNG 2:
QUAN HỆ THỪA KẾ TRONG ÁN LỆ SỐ 41/2021/AL
Theo nguyên tắc chung, việc Tòa án công nhận “hôn nhân thực tế” có tồn tại hay không trong
việc chung sống như vợ chồng giữa nam nữ với nhau, “là cơ sở để giải quyết các quan hệ về tài sản,
về cấp dưỡng, về con cái, về thừa kế, về các món nợ của vợ chồng đối với người khác, về hủy việc kết hôn trái pháp luật…”17, đặc biệt đó là vấn đề về thừa kế
2.1 Vấn đề chung của án lệ:
2.1.1 Vấn đề thứ nhất: Chấm dứt hôn nhân thực tế thứ nhất:
Việc sống chung như vợ chồng giữa ông Trần Thế T1 và bà Tô Thị T2 bắt đầu từ năm 1969
và kết thúc vào năm 1982 được xét là một cuộc hôn nhân thực tế Bởi trong khoảng thời gian hai ông bà chung sống với nhau thì không xảy ra việc chia xa, thậm chí còn có hai người con là Trần Trọng P2 và Trần Trọng P3 Trong bản án không đề cập đến việc hai ông bà có đủ điều kiện kết hôn hay không, nên mặc định cho ông T1 và bà T2 có đủ điều kiện kết hôn theo Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000 Những điều đó đáp ứng các yếu tố được quy định tại mục d, điểm 2 Thông
tư liên tịch số 01/2001
Tuy nhiên, kể từ năm 1982 đến lúc ông T1 chết, bà T2 vì mâu thuẫn vợ chồng với ông T1 nên bà đã bỏ vào Vũng Tàu Sau đó, bà còn sinh sống với ông Trần Sinh D và có 03 người con chung Vì thế việc sống chung như vợ chồng của bà T2 và ông T1 đã không còn đủ điều kiện để được công nhận là hôn nhân thực tế, cụ thể là theo mục d, điểm 2 Thông tư liên tịch số 01/2001
quy định: “…Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng
gia đình”
Việc bà Tô Thị T2 vào Vũng Tàu, bắt đầu sinh sống với ông Trần Sinh D từ năm 1982 và có
03 người con chung, trong bản án cũng không đề cập đến các điều kiện kết hôn nên mặc định ông
D và bà T2 đủ điều kiện kết hôn, cho ta thấy việc chung sống như vợ chồng của hai ông bà được
pháp luật công nhận là “hôn nhân thực tế” Luật HN&GĐ năm 1959 ngay từ những điều khoản đầu tiên đã quy định chế độ hôn nhân “một vợ một chồng” 18 , tiếp đó là Điều 5 của Luật này quy
định: “Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác.” thêm phần nào khẳng định
quan hệ hôn nhân thực tế của ông T1 và bà T2 chấm dứt do bà T2 đã làm điều pháp luật cấm
Vậy nên, theo đoạn [3] phần “Nhận định của Tòa án” cho rằng: “Xét bà Tô Thị T2 chung
sống với ông T1 không đăng ký kết hôn, đến năm 1982 bà T2 đã bỏ vào Vũng Tàu lấy ông D có con chung từ đó đến nay quan hệ hôn nhân thực tế giữa ông T1 với bà T2 đã chấm dứt từ lâu nên không còn nghĩa vụ gì với nhau nên bà T2 không được hưởng di sản của ông T1 để lại như án sơ
17 Nguyễn Văn Cừ, (2000), “Vấn đề hôn nhân thực tế theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam”, Tạp chí Luật học, (5), tr 10
18 Điều 1 Luật HN&GĐ năm 1959 quy định: “Nhà nước bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ
một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ.”