I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 2 1.1. Tín Ngưỡng thờ Mẫu là gì: 2 1.2. Thờ Tam phủ Tứ phủ 2 1.3. Quá trình hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu 3 II. NHÂN VẬT LỊCH SỬ 6 2.1. Thờ Mẫu ở Bắc bộ 7 2.2. Thờ Mẫu ở Trung Bộ. 7 2.3. Thờ Mẫu ở Nam bộ. 7 2.4. Thánh Mẫu Liễu Hạnh 7 2.5. Các vị thần khác của đạo Mẫu 8 III. VĂN KHẤN 13 3.1. Một số bài văn khấn trong đạo Mẫu 13 3.2. Thực hành tín ngưỡng thờ mẫu 15 3.3. Trang phục trong thực hành tín ngưỡng thờ mẫu 15 3.4. Các thành phần tham gia của lễ lên đồng : 16 3.5. Trình tự một giá hầu : 17 3.6. Ý nghĩ của thực hành tín ngưỡng thờ mẫu : 21 IV. ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT 22 4.1. Đặc điểm của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bắc Bộ 22 4.2. Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Trung Bộ 25 4.3. Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ 25 V. CÔNG TRÌNH TÔN GIÁO GẮN LIỀN 28 VI. NHỮNG ĐIỀU ĐẶC BIỆT KHÁC 29 6.1. Những điều kiêng kị 29 6.2. Khác biệt 30 6.3. Lỗi đồng phạm luật: 33
Trang 1MỤC LỤC
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 2
1.1 Tín Ngưỡng thờ Mẫu là gì: 2
1.2 Thờ Tam phủ - Tứ phủ 2
1.3 Quá trình hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu 3
II NHÂN VẬT LỊCH SỬ 6
2.1 Thờ Mẫu ở Bắc bộ 7
2.2 Thờ Mẫu ở Trung Bộ 7
2.3 Thờ Mẫu ở Nam bộ 7
2.4 Thánh Mẫu Liễu Hạnh 7
2.5 Các vị thần khác của đạo Mẫu 8
III VĂN KHẤN 13
3.1 Một số bài văn khấn trong đạo Mẫu 13
3.2 Thực hành tín ngưỡng thờ mẫu 15
3.3 Trang phục trong thực hành tín ngưỡng thờ mẫu 15
3.4 Các thành phần tham gia của lễ lên đồng : 16
3.5 Trình tự một giá hầu : 17
3.6 Ý nghĩ của thực hành tín ngưỡng thờ mẫu : 21
IV ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT 22
4.1 Đặc điểm của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bắc Bộ 22
4.2 Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Trung Bộ 25
4.3 Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ 25
V CÔNG TRÌNH TÔN GIÁO GẮN LIỀN 28
VI NHỮNG ĐIỀU ĐẶC BIỆT KHÁC 29
6.1 Những điều kiêng kị 29
6.2 Khác biệt 30
6.3 Lỗi đồng phạm luật: 33
Trang 2I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
I.1 Tín Ngưỡng thờ Mẫu là gì:
Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian có lịch sử lâu đời gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp lúa nước Việt Nam và biến chuyển, thích ứng với sự thay đổi của xã hội
Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là việc tôn thờ nữ thần phải do người nữ thực hiện, tuyệt đối không là người nam, thờ Thánh Mẫu, thờ Mẫu tam phủ, tứ phủ xuất hiện kháphổ biến và có nguồn gốc lịch sử và xã hội sâu xa Tuy tất cả đều là sự tôn sùng thần linh nữ tính, nhưng giữa thờ nữ thần, Thánh Mẫu, Mẫu tam phủ, tứ phủ không hoàn toàn đồng nhất.Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trợ và che chở cho con người Tín
ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đóngười phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến.Ngoài ra còn có Thánh Bản mệnh là vị thần đứng đầu dẫn dắt người tu đạo đi đến với Mẹ (Mẫu) - Đấng Tối cao trong Đạo Mẫu Việt Nam – Hoàng Thiên Tiên Thánh Giáo trong tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam
Thờ Mẫu chính là sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ phụng những vị nữ thần gắn với các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ; được người đời cho rằng có quyền năng sáng tạo, bảo trợ và che chở cho sự sống của con người như: trời, đất, sông nước, rừng núi….; thờ những thái hậu, hoàng hậu, công chúa là những người khi sống tài giỏi, có công với dân, với nước, khi mất hiển linh phù trợ cho người an, vật thịnh
Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam được hình thành và phát triển từ tín ngưỡng bản địa thờ Nữ thần và Mẫu thần với các quyền năng sinh sôi, bảo trợ và che chở cho con người, rồi tiếp thu những ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Hoa để đạt đến đỉnh cao là đạo thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Tới thế kỷ 17-18, khi mẫu Tam phủ, Tứ phủ đã được hình thành và phát triển thì nó lại Tam phủ, Tứ phủ hóa tục thờ Nữ thần, Mẫu thần
Về Nữ Thần được thờ có thể là nhiên thần như: Thần sấm, thần Mây, thần Mưa, thần Chớp (Tứ pháp), Mẹ Đất, Mẹ Nước có thể là nhân thần như Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu
Âu Cơ, Ỷ Lan, Bà Trưng, Bà Triệu…
Trang 3Tín ngưỡng thờ Tam Phủ (Thiên-Địa-Thủy) giao thoa với tín ngưỡng thờ Sơn Trang của các dân tộc vùng núi phía Bắc, hình thành nên Tứ Phủ Tam Tòa Thánh Mẫu khi
đó bao gồm:
Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên
Mẫu Đệ Nhị Địa Tiên (Thánh Mẫu Liễu Hạnh)
Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ
Mẫu Thượng Ngàn được thờ riêng ở ban Sơn Trang
4 Đệ tứ khâm sai ( Đệ tứ địa phủ)
Như vậy tứ phủ vạn linh là chỉ toàn bộ chư thánh của tín ngưỡng thờ mẫu mà đứng đầu là Thánh Mẫu
Đây chính là mức phát triển cao về nhiều mặt từ thờ Mẫu thần Ở tín ngưỡng Tam phủ
- Tứ phủ đã có sự “chưng cất” từ tín ngưỡng đa thần về một số vị nữ thần cơ bản và gọi là Mẹ, Thánh Mẫu
I.3 Quá trình hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu
* Xuất phát điểm
Người Việt xưa kia sống nhờ vào thiên nhiên, nhưng cũng phải chống chọi rất nhiều với thiên nhiên Do đó, con người luôn cầu mong sự phù hộ, giúp đỡ của các
“Mẹ” thiên nhiên và các Mẫu có nguồn gốc nhiên thần cũng lần lượt ra đời
Như đã trình bày ở trên, đất là nơi bắt đầu cho sự sống của con người, nên tín ngưỡng thờ Mẫu có nguồn gốc từ thờ thần đất Do đó, quá trình từ sự tín vọng về Mẹ Đất trở thành Mẫu Địa là một quá trình cơ bản ban đầu trong tâm thức của người Việt cổ
Trời là đối tượng được ngưỡng vọng của hầu hết các dân tộc trên thế giới Trời không chỉ chi phối nghề nông mà còn ảnh hưởng đến sự sinh tồn của con người Do
đó, trời ngự trị thường trực trong tâm thức của con người, cho nên dẫn đến hiện tượng:cầu trời, nhờ trời, kêu trời, kính trời…
Mẹ Đất là biểu tượng của sự sống, của sự sinh sôi nảy nở và ngay cả khi chết đi cũng trở về với đất, trở về bên mẹ Từ sự nhận thức đó, trong tâm thức của người Việt
cổ đã “thần thánh” hóa mẹ, từ người mẹ cụ thể thành người mẹ tâm linh, coi Mẹ Đất như một vị thần
Trang 4Cùng với đất, cây chính là cái đầu tiên đảm bảo cho sự sinh tồn của con người, nên
ý thức về Mẹ Cây của con người cũng dần được hình thành Do đó, người Việt thờ
“Mẹ Cây” hay còn gọi là Mẫu Thượng Ngàn
Như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt khởi đầu gắn với con người từ khi cưtrú ở những vùng rừng núi Với hình ảnh đầu tiên là Mẫu Địa, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Sơn Lâm Trong quá trình di cư xuống những vùng thấp hơn, tín ngưỡng thờ mẫu dần dần lan tỏa xuống những vùng đồng bằng Vì thế, trong các buổi hầu bóng táihiện Mẫu Thượng Ngàn, thường là những bà người Dao, Tày, Nùng… Và không gian thiêng liêng thờ Mẫu khi ấy chưa phải là “phủ”, mà chỉ là những ngôi miếu có quy mônhỏ
Mẫu Thoải (mẹ của lực lượng sáng tạo ra sông nước) có rất nhiều dị bản, huyền tích khác nhau Nhưng tựu chung đó là “Mẫu” trị vì sông nước, xuất thân từ dòng dõi Long Vương (Thần Long)
Hình ảnh Mẫu Địa, Mẫu Thủy dần được hình thành tham dự vào “hàng Ngũ Mẫu” Các huyền thoại, sự tích về Mẫu Thoải đến nay chưa được rõ ràng vì mỗi nơi hiểu theo một cách, tuy nhiên, lại có những điểm chung cơ bản Mẫu Thoải có nguồn gốc thủy thần, ít nhiều gắn với Lạc Long Quân, Kinh Dương Vương, Kinh Xuyên, là những nhân vật nửa huyền thoại, nửa lịch sử là thủy tổ tộc người Việt chúng ta Hiện nay, tại Tuyên Quang người dân thờ Mẫu Thoải tại đền Dùm, thuộc Yên Sơn, trên hữungạn sông Lô
Tín ngưỡng xuất phát từ thực tế cuộc sống, con người đặt ra những lực lượng thần
bí để tôn vinh, tôn thờ cho phù hợp với cuộc sống của mình Và thế là Mẹ Cây, Mẹ Đất, Mẹ Nước, Mẹ Trời, hay gọi theo tiếng Hán là Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Địa, Mẫu Thoải, Mẫu Thiên đã ra đời Đó là hệ thống Mẫu cơ bản đầu tiên của tín ngưỡng thờ Mẫu Tín ngưỡng thờ Mẫu phát triển chủ yếu ở khu vực Bắc Bộ
* Thời kỳ Bắc thuộc
Từ sau thất bại của khởi nghĩa Hai Bà Trưng, đất nước chính thức bước vào thời kỳBắc thuộc với gần một ngàn năm đô hộ Dưới sự cai trị hết sức hà khắc của các triều đại phong kiến phương Bắc, ngoài việc phản kháng lại các thế lực bạo tàn, một điều chắc chắn, người dân Việt không thể không cầu vọng đến các thế lực thần linh, trong
đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của người mẹ tâm linh – Mẫu
Đây là thời kỳ có nhiều truyền thuyết liên quan đến mẹ tâm linh, đặc biệt dựa trên những cội nguồn sẵn có (như đã trình bày ở trên), vai trò của người mẹ trong chế độ mẫu hệ tiếp tục được phát huy và được đưa vào trong đời sống tinh thần hàng ngày
Do đó, thời kỳ này đã xuất hiện nhiều chuyện kể hoặc những truyền thuyết về mẹ Nhưng phải khẳng định rằng, thời kỳ này, các truyền thuyết về mẹ tâm linh xuất hiện mang tính độc lập, chưa có sự liên kết hay các mối quan hệ ràng buộc với nhau
Có thể do một phần nhận thức xã hội, hay một phần do sự trói buộc của các thế lực caitrị, các bà mẹ tâm linh xuất hiện chưa thể hiện rõ quyền năng cũng như ý thức phản
Trang 5kháng rõ rệt Ở thời kỳ này, người dân dựa vào mẹ tâm linh chủ yếu là an ủi về mặt tinh thần cũng như đáp ứng các yêu cầu của từng làng, xã riêng lẻ.
Những người mẹ mang yếu tố nhân thần đã bắt đầu xuất hiện, như: Mẹ Âu Cơ (sau này tôn vinh là Quốc Mẫu), Hai Bà Trưng, Bà Lê Chân, Tứ vị Hồng Nương, Mẫu Man Nương
* Thời kỳ độc lập tự chủ
Sau thời kỳ Bắc thuộc kéo dài gần một ngàn năm, đến năm 938, khi Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán ra khỏi bờ cõi của đất nước, nước ta chính thức bước vào thời kỳ độc lập tự chủ Ngoài việc xác lập lại nền độc lập của đất nước, đây cũng là thời kỳ người Việt phục hưng các giá trị văn hóa của dân tộc, trong đó có các tín ngưỡng dân gian, điển hình là niềm tin về mẹ tâm linh Ngoài những đối tượng đã được thờ phụng trước đó, thời kỳ này còn phát triển nhiều truyền thuyết liên quan, thậm chí xuất hiện nhiều truyền thuyết mới và nhiều nhân vật mới
Những nhân vật mẫu tiêu biểu thời kỳ này có thể kể đến: Nguyên phi Ỷ Lan (sau này được phong là Thánh Mẫu Ỷ Lan), Thánh Mẫu Liễu Hạnh (một nhân vật được người dân xếp vào hàng “Tứ bất tử” trong tâm thức của người Việt),… Những nhân vật lịch sử này được nhân dân thờ phụng, tôn làm Thánh Mẫu, giữ một vị trí trang trọng trong đời sống tâm linh nói riêng và đời sống tinh thần nói chung của người Việt Tín ngưỡng này trở nên phổ biến trong đời sống của người dân Bắc Bộ, và có lễ hội thường niên hàng năm tổ chức rất quy mô và linh đình
Khi tín ngưỡng thờ Mẫu vào miền Trung, tiếp thu thêm việc thờ nữ thần xứ sở Pô Inư Nagar của người Chăm, tín ngưỡng thờ Mẫu này có pha chút Đạo giáo thần tiên, biến thành thờ Thiên Yana, bà mẹ y theo mệnh trời Riêng ở Huế, ngày xưa cũng có điện thờ Mẹ xứ sở Pô Inư Nagar của người Chăm, sau này được người Việt tiếp thu thành nữ thần Thiên Yana, nơi thờ được đổi thành điện Hòn Chén, hoặc Huệ Nam điện, Thiên Yana được gọi là Bà Chúa Ngọc Ở Nam Bộ, Mẫu kết hợp với nữ thần Đất của người Khmer Nam Bộ thành Bà Chúa Xứ được thờ ở khắp các làng ấp Nam
Bộ, điển hình là miếu thờ Bà chúa Xứ ở Châu Đốc An Giang và điện Bà Đen ở núi BàĐen tỉnh Tây Ninh
Mẫu Liễu Hạnh giữ một vị trí rất quan trọng trong đời sống của cư dân đồng bằng Bắc
Bộ Khi Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện, không rõ từ khi nào đã trở thành một vị thần chủ đạo của tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ “Phủ” trong tín ngưỡng thờ Mẫu mang ý nghĩa rộng và bao quát, nó ứng với các miền khác nhau trong vũ trụ Tuy ra đời sau nhưng Mẫu Liễu Hạnh lại thường được đặt vào vị trí trang trọng nhất trên ban thờ Mẫu Tứ phủ
Thánh Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện đã có nhiều truyền thuyết khác nhau, bà có thể vừa là thiên thần (tiên) vừa là nhân thần đối với đời sống trần gian, với cha mẹ, chồng con, chu du khắp nơi, trừ ác, ban lộc… Mẫu Liễu Hạnh có thể biến thành Mẫu Thiên,
có lúc lại đồng nhất với Mẫu Địa và Mẫu Thoải
Trang 6Nhưng trên thực tế, trong đời sống của lớp người Việt bình dân thì người phụ nữ vẫn giữ một vị trí đặc biệt Trong tâm thức của người dân, người mẹ (Mẫu) vẫn được coi là có quyền lực bất khả kháng Mẹ trở thành biểu tượng thường trực trong mọi thế ứng xử của người Việt Vì vậy, ở Việt Nam người mẹ được tôn vinh thành riêng một tín ngưỡng – thờ mẹ (Mẫu).
II NHÂN VẬT LỊCH SỬ
Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người Tín ngưỡng mà ở đó đã được giới tính hoá mang khuôn hình của người Mẹ, là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam
đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của
xã hội Nho giáo phong kiến
Điều đáng quan tâm là, tín ngưỡng này tuy phát triển có phần rộng khắp, nhưng chưa bao giờ trong các chế độ cũ có có đủ điều kiện để trở thành một hệ tôn giáo chính thống, vì:
- Không hề được sáng lập bởi một vị giáo chủ cụ thể nào;
- Không hề có hệ thống giáo lý gắn với nhân sinh quan và vũ trụ quan một cách
mạnh mẽ Nó vì nhu cầu thiếu hụt tâm linh của quần chúng ở các thời kỳ khác nhau, rồi tự điều chỉnh để tồn tại Vì thế, nó thâm nhập vào mọi nơi, mọi chốn, thậm chí vào
cả các tôn giáo lớn, để cho tôn giáo ngoại lai thích hợp có thể phổ cập và tồn tại trong quần chúng (khi tôn giáo đó biết dung hội với tín ngưỡng này, các tượng Phật giáo phần nhiều mang dạng nữ, nhất là Quan Âm Bồ Tát)
- Tín ngưỡng thờ Mẫu sở dĩ tồn tại lâu dài hơn mọi tôn giáo khác và giữ được nhiều yếu tố về đạo và đức đậm đà bản sắc dân tộc, theo chúng tôi, vì xưa nay nó không có một tổ chức áp đặt từ trên xuống để chi phối mọi việc liên quan Thực tế lịch sử đã cho thấy, mọi chính quyền quân chủ thời Trung cổ không biết dựa vào khâu nào để cho phối nó, nhất là khi ảnh hưởng của nó qúa rộng, lại dễ tập hợp được quần chúng
Đó là một điều đáng lo ngại cho mọi chế độ xã hội chứa đầy mâu thuẫn giai tầng/cấp
Vì thế, trước đây, nhiều khi tầng lớp thống trị và nho sĩ thường chê bai và gán cho tín ngưỡng thờ Mẫu nhiều yếu tố tiêu cực, thậm chí đả kích vào cả các thánh Mẫu Họ bàibác và gán cho tín ngưỡng này đậm yếu tố mê tín dị đoan, đặt nó ra ngoài không gian
tư tưởng chính thống, đồng thời luôn tìm cách khống chế nó
II.1 Thờ Mẫu ở Bắc bộ
Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từ thời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ thế kỷ 15 trở về trước với việc phong thần của nhà nước phong kiến, hình thức thờ Mẫu thần với các danh xưng như Quốc Mẫu, Vương mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Ỷ Lan nguyên phi, Mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương
Trang 7Từ khoảng thế kỷ 15 trở đi, hình thức thờ mẫu Tam phủ, Tứ phủ được định hình và phát triển mạnh, đây cũng là thời kỳ xuất hiện Thánh Mẫu Liễu Hạnh với các nghi thức ảnh hưởng từ Đạo giáo
II.2 Thờ Mẫu ở Trung Bộ.
Dạng thức thờ Mẫu này chủ yếu ở khu vực nam Trung bộ, đặc trưng cơ bản của dạng thức thờ Mẫu ở đây là tín ngưỡng thờ Mẫu không có sự hiện diện của mẫu Tam phủ,
Tứ phủ mà chỉ có hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần Hình thức thờ Nữ thần như thờ
Tứ vị Thánh nương, Bà Ngũ Hành và hình thức thờ Thánh Mẫu như thờ Thiên Y A
Na, Po Nagar
II.3 Thờ Mẫu ở Nam bộ.
So với ở Bắc Bộ, tục thờ Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểu hiện
rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữahình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn, hiện tượng này được giải thích với nguyên nhân Nam Bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ vừa mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp nhận những giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng trong văn hoá mà còn cả trong tín ngưỡng
Những Nữ thần được thờ phụng ở Nam Bộ như Bà Ngũ Hành, Tứ vị Thánh nương,
Bà Thuỷ Long, Bà Chúa Động, Bà Tổ Cô, và những Mẫu thần được thờ phụng như
Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu
Đạo Mẫu có hơn 100 các thần thánh được thờ cúng, nhưng chúng ta chú ý những khái niệm các vị cơ bản sau:
II.4 Thánh Mẫu Liễu Hạnh
Thánh Mẫu Liễu Hạnh được cho là công chúa của Ngọc Hoàng Thượng đế, do lỡ tay làm vỡ chén ngọc mà bị đày xuống trần làm con gái nhà họ Lê (ở nơi ngày nay thuộc tỉnh Nam Định) vào năm 1557 Dưới trần, bà có cuộc sống ngắn ngủi, lấy chồng và sinh con năm 18 tuổi và chết năm 21 tuổi Do bà yêu cuộc sống trần tục nên Ngọc Hoàng cho bà tái sinh lần nữa Trong kiếp mới, bà du ngoạn khắp đất nước, thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên, gặp gỡ nhiều người Bà thực hiện nhiều phép mầu, giúp dân chống quân xâm lược Bà trở thành một lãnh tụ của nhân dân và thậm chí bà còn tranh đấu với vua chúa Do đức hạnh của bà, nhân dân đã lập đền thờ bà (Đền Sòng tỉnh Thanh Hóa) Bà đã được thánh hóa và trở thành một vị Thánh Mẫu quan trọng nhất và một hình ảnh mẫu mực cho phụ nữ Việt Nam
Cho dù cuộc đời của bà được giải nghĩa theo cách nào, Liễu Hạnh đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh của phụ nữ Bà tách mình ra khỏi Khổng giáo với quan niệm trọng nam khinh nữ Bà nhấn mạnh vào hạnh phúc, quyền tự do đi lại và độc lập tư tưởng Vừa được kính sợ vừa được yêu mến, các nguyên tắc của bà về trừng phạt kẻ xấu và ban thưởng người tốt cũng đã gửi một thông điệp về sự bảo vệ và hy vọng vào công bằng xã hội cho nhân dân trong thời loạn lạc của các thế kỷ 17-19 Vừa là thần tiên vừa là người (con gái, vợ, mẹ), Liễu Hạnh chia sẻ vui buồn với những người trần tục Bà được coi là vị thần cảm thông và độ lượng nhất Bà trở thành một trong các vị
Trang 8thần của Đạo Mẫu và nhanh chóng được nâng lên vị trí quan trọng nhất, cai trị các vị thần ở dưới và thế giới con người
II.5 Các vị thần khác của đạo Mẫu
Trong các đền thờ của Đạo Mẫu có nhiều vị thần được sắp xếp theo các thứ bậc Đầu tiên là Ngọc Hoàng Đây là vị thần tối cao và được đặt ở vị trí danh dự, nhưng lại ít được thờ cúng Vị thần cao nhất của Đạo Mẫu là Thánh Mẫu Liễu Hạnh Các vị khác được đặt tại các ban thờ tam phủ hoặc tứ phủ Các Chư Linh của ban Tứ Phủ được phân chia như dưới đây:
1 Bảo Dân Hộ Quốc Thánh Mẫu
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Mẫu Đệ Nhất (Thiên Phủ) Danh hiệu: Mẫu Liễu Hạnh
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Mẫu Đệ Nhị (Nhạc Phủ) Danh hiệu: Mẫu Thượng Ngàn
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Mẫu Đệ Tam (Thoải Phủ) Danh hiệu: Mẫu Thoải
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Mẫu Đệ Tứ (Địa Phủ) Danh hiệu: Lê Mại Đại Vương
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
2 Phụ Vương Đại Thánh
Lạc Long Quân (Thoải Phủ)Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Bát Hải Long Vương (Thoải Phủ) Danh hiệu: Vua Cha
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
3 Trần Triều Hiển Thánh
Đức Thánh Trần Danh hiệu: Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo - Tiết chế quốc công Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)Hưng Đạo Đại vương)
Đệ Tam Ông Cửa Suốt - Con trai thứ ba của Hưng Đạo Vương
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Đệ Nhất Vuong Cô - Con gái thứ nhất của Hưng Đạo Vương
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Đệ Nhị Vương Cô - Con gái thứ hai của Hưng Đạo Vương
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Đức Thánh Phạm Danh hiệu: Phạm Ngũ Lão - Con rể của Hưng Đạo
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Vương
Cô Bé Cửa Suốt -cháu gái của Hưng Đạo Vương
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cậu Bé Cửa Đông-cháu trai của Hưng Đạo Vương
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
4 Các Vị Chúa Mường
là các vị Chúa Bà chuyên về đáp giải bói bốc Nếu chỉ tính ba vị Chúa Bói thì gọi là
"Tam Toà Chúa Bói."
Chúa Đệ Nhất Tây Thiên(Thiên Phủ)&(Nhạc Phủ)Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ(Nhạc Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Trang 9Chúa Đệ Tam Lâm Thao (Thoải Phủ)&(Nhạc Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Chúa Cà Phê (Địa Phủ)&(Nhạc Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Chúa Ngũ Hành Ngũ Phương(Nhạc Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Chúa Long Giao(Nhạc Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Chúa Thác Bờ (Thoải Phủ)&(Nhạc Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Quan Đệ Nhất quyền cai Thiên Phủ trên trời, theo thần thoại là thần làm mưa làm gió,
và cũng là Quan Lớn ở trong cung điện Ngọc Hoàng Mặc bào mầu đỏ
Quan Đệ Nhị (Quan Giám Sát) ngày cúng của Đức Giám Sát là Âm Lịch mùng Ba tháng Ba Châu văn ràng: Quyền cai rừng núi Lâm Cung, lên rừng suống biển tâu về Bát Hải Long Vương Lúc đánh trận cho nhà vua thánh, Ông Quan là vị giám sát trước
để đánh thuận xông pha Mặc bào mầu xanh lá cây Lúc lên giá này, ông cầm khăn phủ diện để minh giám hoàn cảnh
Quan Đệ Tam (Quan Tam Phủ) là con vua Bát Hải Long Vương, ra trận cầm đối đao
vệ dân hộ quốc Mặc bào mầu trắng Lúc lên giá này, ông cầm đôi bạch kiếm đi xông pha quỉ thế tà giới
Quan Đệ Tứ (Quan Khâm Sai) là một ông quan Địa Linh quyền cai đất bằng Ông có trách nhiệm đi khâm sai các vùng các dân, giữ an lành của nước Việt Mặc bào mầu vàng
Quan Đệ Ngũ (Quan Tuần Tranh) là một ông Quan anh hùng hào kiệt có kể là tướng
đi tuần ở Sông Tranh Mặc bào mầu xanh biển Lúc lên giá này, ông cầm cái thanh long đao to như của ông Quan Công của thời Tam Quốc
6 Lục Phủ Tôn Ông
Đệ Nhất Vương Quan Danh hiệu: Quan Điều ThấtMẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Đệ Nhị Vương Quan Danh hiệu: Quan Hoàng Triệu
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
7 Tứ Phủ Chầu Bà
Chầu Đệ Nhất (Thiên Phủ)
Chầu Đệ Nhị (Nhạc Phủ) Danh hiệu: Ngôi Kiều Công Chúa
Chầu Đệ Tam (Thoải Phủ) Danh hiệu: Thuỷ Điện Công Chúa
Chầu Thác Bờ (Thoải Phủ & Nhạc Phủ) Có người hầu là giá thứ ba, tức là
Chầu Đệ Tam, Bà chúa Thác Bờ
Trang 10Chầu Đệ Tứ (Địa Phủ) Danh hiệu: Chiêu Dung Công Chúa
Đình Cốc Thượng là nơi tôn thờ Chiêu Dung công chúa Lý Thị Ngọc Ba, đã có công với dân, với nước Bà đã cùng Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa đánh tan quân xâm lược Nam Hán phương Bắc, đem lại thái bình cho dân tộc vào thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên (năm 40)
Chầu Năm (Nhạc Phủ) Danh hiệu: Suối Lân Công Chúa
Chầu Ngũ Phương Có người hầu giá này thay vao Chầu Năm, tức là Chúa
Ngũ Hành Ngũ Phương
Chầu Lục (Nhạc Phủ) Danh hiệu: Lục Cung Công Chúa
Chầu Bẩy (Nhạc Phủ) Danh hiệu: Tân La Công Chúa
Chầu Tám (Nhạc Phủ) Danh hiệu: Nữ Tướng Bát Nàn
Bà họ Vũ, ở làng Phượng Lâu, huyện Kim Động, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh HưngYên) Thân phụ của bà là thầy thuốc làm nhiều việc phước đức Bà nổi tiếng là phụ nữxinh đẹp và giỏi võ nghệ
Chầu Chín Cửu Tỉnh ở Bỉm Sơn Thanh Hoá
Chầu Mười(Nhạc Phủ) Danh hiệu: Nữ Tướng Đồng Mỏ Chi Lăng
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Đệ Tam Chầu Bà Thuỷ Tinh Thần Nữ
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Đệ Tứ Chầu Bà Hoả Phong Thần Nữ
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Đệ Ngũ Chầu Bà Thổ Đức Thần Nữ
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
9 Thập Vị Thủy Tế
Ông Hoàng Cả (Thiên Phủ) Danh hiệu: Ông Hoàng Quận/ Lê Lợi
Ong Hoàng Đôi (Nhạc Phủ)
Ông Hoàng Bơ (Thoải Phủ)
Ông Hoàng Đệ Tứ (Địa Phủ) Danh hiệu: Ông Hoàng Khâm Sai
Ông Hoàng Năm
Ông Hoàng Sáu
Trang 11Ông Hoàng Bảy (Nhạc Phủ) Danh hiệu: Ông Bảo Hà
Ông Hoàng Bát (Nhạc Phủ) Danh hiệu:Ông Bát Quốc, là một ông quan gốc người Hán đóng quân ở Lào Cai
Ông Hoàng Chín (Thiên Phủ) Danh hiệu: Ông Cờn Môn
Ông Chín Thượng(Nhạc Phủ)
Ông Hoàng Mười (Địa Phủ) Danh hiệu: Ông Nghệ An, có công chống giặc
Minh từ bên Trung Quốc Hiện nay đang có 3 hình tượng: Nguyễn Duy Lạc, Nguyễn
Xí, Lê Khôi được đồng nhất là Cụ Hoàng Mười
10 Tứ Phủ Tiên Cô
Cô Đệ Nhất Thượng Thiên (Thiên Phủ)Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cô Đệ Nhất Thượng Ngàn(Nhạc Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cô Đôi Thượng(Nhạc Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cô Đôi Cam Đường(Nhạc Phủ) quê cô ỏ Đình Bảng Bắc Ninh nhưng cô
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Hiển Thánh ở Cam Đường Lào Cai
Cô Bơ Hàn Sơn (Thoải Phủ) tức là Cô Ba Bông & Cô Ba Tây Hồ
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cô Tư (Địa Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cô năm Suối Lân(Nhạc Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cô sáu Sơn Trang(Nhạc Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cô bảy Tiên la(Nhạc Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cô Tám đồi chè(Nhạc Phủ) ở đền Phong Mục
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cô Chín Sòng Sơn(Thiên Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cô Chín Thượng(Nhạc Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cô Chín Thoải (Thoải Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cô Mười Đồng Mỏ(Nhạc Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cô Bé Đông Cuông(Nhạc Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cô Bé Suối Ngang (Nhạc Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cô Bé Thác Bờ (Thoải Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cô Bé Thoải(Thoải Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cô Bé Đen(Nhạc Phủ) tức là Cô Bé Sóc
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
11 Thập Vị Triều Cậu
Trang 12Cậu Hoàng Cả (Thiên Phủ)Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cậu Hoàng Đôi (Nhạc Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cậu Hoàng Bơ (Thoải Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Cậu Hoàng Bé (Nhạc Phủ)
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
12 Quan Ngũ Hổ
Đông Phương Giáp Ất Mộc Đức Thanh Hổ Thần Quan Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
NamPhuong Bính Đinh Hoả Đức Xích Hổ Thần Quan
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Trung Ương Mậu Kỷ Thổ Đức Hoàng Hổ Thần Quan (
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Tay Phuong Canh Thân Kim Đức Bạch Hổ Thần quan
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Bắc Phuong Nhâm Quý Thuỷ Đức Hắc Hổ Thần quan.Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
12 Ông Lốt
Thanh Xà Đại Tướng QuânMẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Bạch Xà Đại Tướng Quân
Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
Giải thích về sự có mặt của cả nam thần lẫn nữ thần trong các vị thần của Đạo Mẫu, các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng: Do xã hội Việt Nam cổ xưa theo chế độ mẫu hệ, nên phụ nữ có vị thế quan trọng trong xã hội Tuy nhiên, người phụ nữ chỉ có được quyền lực khi họ đã kết hôn Do đó, nam giới cũng được xem là có vai trò quan trọng trong cuộc sống, và họ cũng được thờ cúng
Hệ thống thần linh theo ban thờ từ cấp trên xuống
Trang 13vần điệu, dễ hiểu dễ đọc , bên cạnh đó là các bản văn khấn hán tự mang sắc thái trang nghiêm đĩnh đạc hơn.
Thông thường các bài văn khấn thường có các nội dung:
- Khấn danh hiệu chư vị Phật Thánh
- Khấn ngày tháng địa chỉ nơi cư ngụ, tên tuổi của hương chủ và gia quyến - Khấn sám hối các lầm lỗi và kêu cầu các ước nguyện
Sau đây là mẫu bài văn khấn thường dùng
Bản 1:
Nam mô đức Phật Di Đà
Nam mô đức Phật Thích Ca giáng trần
Nam mô Bồ Tát Quan Âm
Công đồng tam phủ lai lâm độ trì
Kim niên kim nguyệt nhật thì
Hương hoa lễ vật thầm thì ngâm nga
Lời kêu như phượng như hoa
Lời kêu thấu đến mọi tòa chứng minh
Trước thời tâu tới thiên đình
Sau thời thoải quốc động đình vua cha
Tấu lên quốc mẫu bơ tòa
Hội đồng quan lớn chầu bà sơn trang
Tâu lên tứ phủ thánh hoàng
Tiên cô thánh cậu tòa vàng châu cung
Lòng thành sửa lễ kính dâng
Nguyện xin Phật Thánh công đồng gia ân
Nhất nguyện xá lỗi xá lầm
Nhị nguyện Phật Thánh chứng tâm lòng thành
Tam nguyện phú quý khang ninh
Tứ nguyện quốc phú thái bình dân an
Lòng thành con thắp tuần nhang
Kính trình Phật Thánh đáo đàn chứng minh
Trang 14Đệ tử con tên là
Ngụ tại
Ngày hôm nay là ngày
Đệ tử con cùng đồng gia quyến đẳng một dạ nhất tâm
thiết lễ kính ngưỡng, cúi xin Tam Bảo Chư Phật Chư Bồ Tát Hiền Thánh TăngTam phủ công đồng - tứ phủ vạn linh
chứng minh công đức -cho đệ tử con:
Cầu được ước nên - hữu duyên hữu phúc - hữu lộc hữu tài
Cầu một được mười - cầu người được của
Cho rồng bay phượng múa - muôn thủa hưng long
Cho chốn gia trung- thuận hòa gia nội
Xá lầm xá lỗi -muôn tội tiêu trừ
Rộng mở lòng từ - tả phù hữu bật
Nay con :
Tâm thành như nhất- lễ vật tiếng dâng
Phật Thánh chứng tâm- chư thần bảo hộ
Kính xin Chư Phật Thánh chứng giám lòng thành Nam mô A di đà Phật 3 lần
III.2 Thực hành tín ngưỡng thờ mẫu
- Khái niệm : • Từ thế kỷ XVI, tín ngưỡng thờ Mẫu trở thành một sinh hoạt văn hóa
tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức người dân,đáp ứng nhu cầu và khát vọng của đời sống con người Đó là hình thức diễnsướng hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu, là sự giao lưu của con người với Mẫuthông qua thanh đồng, cậu đồng
Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt trở thành Di sảnvăn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Ngày 01 tháng 12 năm 2016, tại Phiênhọp Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 củaUNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, nước Cộng hòa dân chủ Liên bangEthiopia, di sản Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đãchính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đạidiện của nhân loại
Trang 15 Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu tam phủ của người Việt phân bố ở nhiềuđịa phương: Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, thành phố Hồ Chí Minh,lan tỏa và được thực hành ở nhiều địa phương trong cả nước Tỉnh Nam Địnhđược coi là một trong những địa phương có các trung tâm thờ thánh Mẫu LiễuHạnh tiêu biểu với những nơi lưu giữ sự tích về sự giáng thế của Mẫu như PhủDầy, Phủ Nấp và gần 400 nơi thờ cúng thánh Mẫu Chủ thể di sản là thủ nhang,thầy cúng, thanh đồng, hầu dâng, cung văn, con nhang đệ tử cùng với cộng đồng
cư dân có chung một niềm tin vào quyền năng, sức mạnh tối linh, sự bảo trợ củacác Mẫu, đứng đầu là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, gắn bó với nhau thành bản hội,cùng nhau thực hành nghi lễ thờ cúng, tham gia lễ hội, lên đồng tại các phủ, điệnThờ Mẫu
Tại các điện thờ Thánh Mẫu, nghi thức thờ cúng hàng ngày do các thủ nhangthực hiện Thực hành cơ bản của Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ là nghi lễ lênđồng và lễ hội Tiêu biểu là Lễ hội Phủ Dầy ở xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnhNam Định
Nơi thực hành tôn thờ Ở đây là những nơi thờ các vị thánh là đền, phủ, miếu III.3 Trang phục trong thực hành tín ngưỡng thờ mẫu
- Trang phục rất đa dạng bao gồm rất nhiều màu sắc nổi bật nhưng nổi bật nhấtvới các màu chủ đạo như đỏ, trắng, xanh lá và vàng Đây là những màu đại diệncho 4 vị trong tứ phủ là thiên phủ( áo màu đỏ), nhạc phủ (áo màu xanh), thoải phủ(áo màu trắng) và địa phủ (áo màu vàng) Ngoài ra còn có các màu nhưhồng, xanh lắm, tím,
- Các trang phục là các bộ trang phục của các vị thánh như các chầu bà, các quan ,các cô bé, cậu bé, mỗi trang phục là gắn liền với 1 giá hầu (36 giá) và là 1 vịriêng hoàn toàn
Lên đồng là một nghi lễ quan trọng bậc nhất của Đạo Mẫu Nghi lễ chính,trung tâm của Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ là nghi lễ Lên đồng –được hiểu là một hình thức diễn xướng dân gian, thể hiện đức tin về sựgiáng/nhập của các vị thần trong điện thần của Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ.Các giá đồng bao gồm hát văn, trang phục, múa thiêng được kế hợp một cách hàihòa, thể hiện sự giáng đồng của các vị thánh mang tính tâm linh và biểu tượng Những người thực hành tin rằng, bằng hình thức diễn xướng này, họ có thể giao
Trang 16tiếp được với các đấng thần linh để gửi gắm, biểu đạt những mong muốn, khátvọng của mình thông qua các thầy đồng - người đóng vai trò trung gian giữa conngười và thần linh Đây là hình thức shaman giáo - diễn xướng xuất nhập thầntương đối phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới (Hàn Quốc, Mông Cổ,Uzbekistan, Braxin, Zimbabwe…).
III.4 Các thành phần tham gia của lễ lên đồng :
- Khi nhắc đến 1 buổi thực hành tín ngưỡng thờ mẫu tam phủ, tứ phủ hay còn gọi
là hầu đồng sẽ bao gồm nhiều người tham gia
- Thanh đồng (người được chọn và là nhân vật chính diễn xướng lại toàn bộ)Thanh Đồng là nam giới thì được gọi là "cậu", nữ giới được gọi là "cô hoặc bàđồng"
- hầu dâng (hay còn gọi là tay Quỳnh tay quế) có nhiệm vụ phò tá, trợgiúp cho thành đồng như lên hương, thay trang phục, chuẩn bị đồ, Thường cóhai hoặc bốn phụ đồng (được gọi là nhị trụ hoặc tứ trụ hầu dâng) đi theo ThanhĐồng để chuẩn bị trang phục, lễ lạt
- Cung văn Là người thực hiện việc hát các bài chầu văn miêu tả, kể lại, tôn vinh
vị thánh đang được thành đồng diễn xướng
- Đồng thầy là người thầy phủ khăn cho thanh đồng
- Thầy cúng
- Ngoài ra, các thành phần ngồi xem buổi hầu là các cử tọa Những người nàythường là con nhang đệ tử, thường thể hiện lòng tôn kính các vị thánh mỗi khigiáng ngự, hòa theo điệu múa hát và được Thánh ban lộc
III.5 Trình tự một giá hầu :
Lên khăn áo :
+ Đầu tiên, sau khi hát thờ xong, cung văn bắt đầu hát hầu Ông bà đồng lúc nàybắt đầu lảo đảo, ra dấu bằng tay, phủ vải đỏ lên mặt Tùy vào các giá, cung văn sẽhát các điệu thỉnh mời khác nhau Tới khi Thánh đã nhập, Thanh đồng hất khănkhỏi mặt, coi như bắt đầu quá trình ngự về của vị thánh này Còn không, nếuthánh chỉ giáng qua thì ông bà đồng lại ra dấu khác và cung văn lại chuyển sanghát mời vị khác theo thứ tự
+ Sau khi hất khăn phủ, Ông bà Đồng đang ở một "giá" mới và phải thay bộ trangphục xống áo, khăn chầu, cờ quạt, đồ hầu dâng sao cho tương xứng với "giá"