giúp học sinh được học phân môn Chính tả một cách khoa học và sử dụng công cụ này suốt những năm tháng trong thời kì học tập ở nhà trường cũng như trong suốt cuộc đời?”. Với ý nghĩ trên, tôi đã mạnh dạn chọn phân môn Chính tả trong môn Tiếng Việt lớp 5 để nghiên cứu nhằm giúp học sinh viết đúng chính tả và đúc kết thành đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả trong phân môn Chính tả lớp 5”. Trong năm học 20132014, tôi đã áp dụng đề tài vào đối tượng học sinh khối lớp 5, trường Tiểu học Tân Hòa A, đã đạt được những kết quả rất khả quan và đã được Hội đồng khoa học huyện công nhận. Nhận thấy kết quả đó, trong năm học 20142015, tôi tiếp tục nghiên cứu, bổ sung thêm một số biện pháp và áp dụng đề tài vào thực tiễn với đối tượng học sinh khối lớp 5 của nhà trường, đặc biệt là đối tượng học sinh lớp 5 mà tôi chủ nhiệm, nhằm giúp học sinh hạn chế viết sai lỗi chính tả khi viết trong phân môn Chính tả, cũng như khi viết bài trong những môn học khác, góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường. Với đề tài này, tôi biết đã có nhiều sách báo đề cập đến và các anh chị đồng nghiệp cũng đã nghiên cứu viết thành sáng kiến kinh nghiệm cho riêng mình. Nhưng do đặc trưng của từng vùng, từng địa phương, từng trường, từng lớp khác nhau nên tôi đã quyết định tiếp tục nghiên cứu và áp dụng đề tài này. NỘI DUNG PHẦN 1: THỰC TRẠNG. Qua thực tế giảng dạy nhiều năm ở lớp 5, bản thân tôi được gần gũi, tiếp xúc, trao đổi với học sinh, với phụ huynh học sinh, với các đồng nghiệp trong trường, tôi nhận thấy khả năng viết đúng chính tả trong phân môn Chính tả nói riêng và các môn học khác nói chung của học sinh lớp tôi còn một số hạn chế. Tuy đa số học sinh viết đúng chính tả nhưng bên cạnh đó vẫn còn vài em chưa viết đúng chính tả. Đó cũng là tình hình của học sinh lớp tôi trong những năm học trước và hiện nay, cũng như những học sinh lớp 5 của các thầy, cô khác trong nhà trường những năm học qua. Từ đó, thông qua các buổi họp chuyên môn toàn trường, hay những cuộc họp chuyên môn trong tổ, tôi cũng lắng nghe các anh chị đồng nghiệp đưa ra những ý kiến làm thế nào để giúp học sinh của lớp mình viết đúng chính tả. Qua việc thống kê các bài kiểm tra chính tả của năm học 20132014 và các bài viết chính tả của học sinh trong đầu năm học 20142015, tôi thu được kết quả cụ thể như sau: Thời gian Lớp Sĩ số HS Giỏi Khá Trung bình Yếu SL TL % SL TL % SL TL % SL TL % Năm học 20132014 5 22 9 40,9 9 40,9 3 13,7 1 4,5 Đầu năm học 20142015 (tuần 3) 5 22 6 27,3 7 31,8 4 18,2 5 22,7 Những số liệu ở bảng trên cho thấy: Năm học 20132014: (Khi đã áp dụng đề tài vào thực tiễn giảng dạy) +Có 40,9% học sinh viết chính tả thuộc đối tượng giỏi. +Có 40,9% học sinh viết chính tả thuộc đối tượng khá. +Còn 13,7% học sinh viết chính tả thuộc đối tượng trung bình. +Còn 4,5% học sinh viết chính tả thuộc đối tượng yếu. Đầu năm học 20142015: (tuần 3) (theo Thông tư 32 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) (Khi chưa áp dụng đề tài vào giảng dạy) +Có 27,3% học sinh viết chính tả thuộc đối tượng giỏi. +Có 31,8% học sinh viết chính tả thuộc đối tượng khá. +Còn 18,2% học sinh viết chính tả thuộc đối tượng trung bình. +Còn 22,7% học sinh viết chính tả thuộc đối tượng yếu. Như vậy từ bảng số liệu cho thấy, số học sinh viết sai nhiều lỗi chính tả khi chưa vận dụng đề tài vào giảng dạy trong phân môn Chính tả còn chiếm tỉ lệ khá cao. Qua tìm hiểu thực tế trên lớp và ở gia đình các em cho thấy nguyên nhân chủ yếu của tình hình nêu trên là: Về phía giáo viên: Áp dụng đổi mới phương pháp dạy học để giúp học sinh có kĩ năng viết đúng chính tả còn mạnh dạn. Phân loại lỗi chính tả của học sinh chưa sâu. Chữa lỗi chính tả cho học sinh còn chưa thường xuyên. Về phía học sinh: Một số học sinh không nắm được nguyên tắc kết hợp các chữ cái, quy tắc viết hoa trong Tiếng Việt, không nắm được vị trí phân bổ giữa các kí hiệu. Do các em chưa hiểu nghĩa của từ, chưa nhớ đầy đủ các quy tắc chính tả vì quá trình học chính tả có liên quan mật thiết với quá trình trí nhớ. Do các em chưa có động cơ, thái độ đúng đắn trong việc học và rèn luyện viết chính tả, khi viết các em còn lơ là, không tập trung vào bài viết, lâu ngày thành thói quen cẩu thả “viết quen tay”. Vì có nhiều em khi hỏi về quy tắc viết hoa thì các em trả lời tương đối đầy đủ nhưng vẫn mắc rất nhiều lỗi về viết hoa. Các em còn viết sai lỗi chính tả do cách phát âm của bản thân. Nhiều em còn có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các em ít có điều kiện học tập, rèn luyện ở nhà nhiều nên vốn từ ngữ của các em ít được mở rộng. Phụ huynh học sinh: Sự quan tâm đến việc học tập của con em mình khi học ở nhà của một số gia đình chưa sâu sát. Từ những nguyên nhân vừa nêu trên, tôi nhận thấy cần phải có những giải pháp cụ thể để giúp học sinh phát triển khả năng viết đúng chính tả trong phân môn Chính tả lớp 5 nói riêng và ở bậc Tiểu học nói chung là một việc cần thiết mà nhiều giáo viên cần phải quan tâm. PHẦN 2: GIẢI PHÁP. 1Phát huy tính tích cực của học sinh khi học phân môn Chính tả nhằm rèn kĩ năng viết đúng chính tả ở lớp 5. Để dạy học phân môn Chính tả lớp 5 có hiệu quả và thực hiện đúng tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, nhằm hướng vào tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh, để cho học sinh tự phát triển, tôi đã sử dụng một số phương pháp như sau: 1.1Giúp học sinh viết đúng chính tả qua việc thực hành giao tiếp: Thực hành giao tiếp trong phân môn Chính tả thực chất là viết chính tả đoạn văn, bài văn và làm các bài tập luyện viết đúng các từ ngữ. Để thực hiện được chức năng giao tiếp của ngôn ngữ, nghĩa đóng một vai trò quan trọng hàng đầu. Chọn đúng đơn vị để rèn cho học sinh viết đúng chính tả đoạn, bài là một yêu cầu đầu tiên của việc hướng dẫn học sinh viết chính tả tôi hướng dẫn học sinh viết từng cụm từ, từng câu ngắn, từng dòng thơ. Đây là những đơn vị có nghĩa tương đối trọn vẹn ở một mức độ khác nhau. Từ cần viết đúng được định vị trong một bối cảnh xuất hiện cả những từ khác, nhờ nhớ bối cảnh gồm những từ đứng trước và đứng sau từ cần viết đúng mà các em có thể hiểu rõ nghĩa của từ và nhớ cách viết của từ nói trên. Khi học sinh viết xong đoạn, bài theo cách ngheviết hoặc nhớ viết, tôi hướng dẫn học sinh tự phát hiện lỗi và sửa lỗi nhằm hoàn thiện bài viết, sản phẩm bài viết của mình. Việc hướng dẫn phát hiện lỗi cần được thực hiện theo sự phân loại lỗi của học sinh thường mắc. Ví dụ: Tuỳ theo từng loại bài tôi yêu cầu học sinh soát lỗi một trong số những lỗi sau: lỗi ở âm đầu, lỗi ở vần, lỗi ở dấu ghi thanh, lỗi viết tên riêng, lỗi về viết dấu câu, lỗi về sót tiếng hoặc từ, lỗi về trình bày bài viết (vị trí của đầu bài, vị trí của chữ đầu tiên khi xuống dòng, những lỗi do tẩy xoá nhiều). Chẳng hạn: với những đối tượng học sinh hay nhầm lẫn âm đầu sx, trong khi viết cũng như khi soát lỗi trong bài chính tả, tôi yêu cầu các đối tượng này cần chú ý những âm đầu sx trong bài viết của mình. Sau khi học sinh đã tìm được lỗi trong bài, tôi tổ chức để các em sửa lỗi theo cách sau: học sinh tự sửa từng lỗi; từng học sinh nêu lỗi trong bài của mình để tôi ghi lại. Khi cá nhân học sinh sửa lỗi, tôi yêu cầu học sinh đổi bài cho nhau để soát lỗi và sửa lỗi kĩ hơn, đồng thời các em có dịp học tập nhau về chữ viết và trình bày bài viết. Tôi chọn một số lỗi học sinh trong lớp thường mắc để chữa chung trên lớp. Sau khi chữa, tôi yêu cầu học sinh ghi lại cách viết đúng những từ ngữ vào sổ tay chính tả theo yêu cầu: nửa trang sổ bên trái ghi chữ viết sai, nửa trang sổ bên phải ghi chữ đã sửa. 1.2Giúp học sinh viết đúng chính tả qua việc rèn luyện theo mẫu: Có hai loại mẫu được sử dụng để dạy học chính tả, đó là mẫu phát âm đúng và mẫu viết chữ đúng. Để học sinh có thể viết đúng, việc đầu tiên tôi làm là cần đọc đúng. Trong giờ chính tả, khi đọc cho học sinh viết, đọc để giới thiệu cách viết đúng các từ ngữ, tôi luôn đọc đúng chuẩn phát âm (mặc dù khi nói hoặc khi đọc trong các môn học khác tôi không phát âm đúng chuẩn), bởi vì chính tả tiếng Việt được ghi theo phát âm nên phát âm đúng là con đường ngắn nhất giúp cho người học viết đúng. Việc tôi đọc đúng để giúp học sinh viết đúng là một biện pháp hữu hiệu giúp học sinh rèn viết theo mẫu. Ví dụ: Khi dạy chính tả tôi luôn phát âm đúng những vần có âm n hay ng cuối, c hay t cuối,…; những âm đầu như gidv, sx, rg,…; những vần có âm đệm;... Bên cạnh việc phát âm đúng, tôi còn giới thiệu, cung cấp cho học sinh mẫu viết đúng các từ ngữ học sinh thường dễ nhầm lẫn cách viết trong từng bài học. Lỗi chính tả có thể xảy ra ở âm đầu, vần và dấu thanh (đặc biệt là dấu hỏi, dấu ngã) trong tiếng Việt. Vì vậy, tôi cho học sinh phân tích chữ viết để có tác dụng ghi nhớ chữ viết, khắc sâu cách viết đi liền với nghĩa từ mà nó biểu đạt. Khi tiến hành phân tích chữ viết tôi đã buộc học sinh phải quan sát chữ viết một cách tường tận, các em cần chú ý viết đúng tiếng nào, bộ phận âm đầu hay bộ phận vần hay bộ phận dấu thanh của tiếng đó; chữ nào trong tiếng đó các em hay viết sai, nếu viết sai thì nghĩa của từ ngữ này có gì thay đổi, tiếp theo là học sinh phải viết ra chữ. Thao tác nhiều, chữ và nghĩa sẽ gắn chặt vào trí nhớ, chắc chắn lỗi viết của học sinh sẽ giảm. Đối với học sinh trung bìnhyếu tôi đưa ra một biểu bảng và làm mẫu một từ, còn lại học sinh tự làm. Đối với học sinh khágiỏi các em phải nêu ra những điểm cần chú ý hay nêu nghĩa chính tả của những từ thường nhầm lẫn. Với hình thức này, tôi yêu cầu mỗi học sinh tự tìm từ khó rồi phân tích theo mẫu cho sẵn. Như vậy mỗi học sinh có thể tự tìm và phân tích được nhiều từ. Ví dụ: Trong bài “Kì diệu rừng xanh” (Tiếng Việt 5, tập 1, trang 76). Học sinh có thể chọn những từ ngữ và phân tích theo bảng. Từ hoặc cụm từ Chữ Âm đầu vần Dấu thanh rừng sâu rừng sâu r s ưng âu huyền ngang chùm lông đuôi chùm lông đuôi ch l đ um ông uôi huyền ngang ngang mải miết mải miết m m ai iêt hỏi sắc Sau khi học sinh phân tích từ ngữ, tôi cho các em luyện viết theo mẫu trên bảng con hoặc vở nháp. Khi học sinh thực hành viết tôi luôn kiểm tra kết quả viết của học sinh để kịp thời giúp các em sửa lỗi sai (nếu có). 1.3Sử dụng trò chơi học tập vào việc dạy phân môn Chính tả cho học sinh: Chính tả là một phân môn yêu cầu học sinh phải ghi nhớ tương đối nhiều. Vì vậy nếu hình thức tổ chức các hoạt động học tập đơn điệu sẽ làm cho việc học của học sinh ở phân môn này sẽ trở nên nhàm chán dễ trở thành căng thẳng. Việc tổ chức các trò chơi để dạy học chính tả sẽ khắc phục được tình hình nói trên. Để tổ chức trò chơi học tập trong phân môn Chính tả, tôi đã tham khảo một số trò chơi trong các sách tham khảo dành cho giáo viên, các trò chơi dân gian dành cho trẻ em hay các trò chơi được phát thanh trên tivi,…Khi tổ chức các trò chơi, tôi chọn những trò chơi có luật chơi không phức tạp, phương tiện để chơi dễ kiếm, dễ làm, tận dụng không gian lớp học làm nơi thực hiện trò chơi. Sau đây tôi xin giới thiệu một trò chơi dạy học chính tả để các giáo viên có thể tham khảo: Trò chơi Thi cắm hoa 1.Mục đích: Củng cố cách viết các từ ngữ có vần at hoặc ac Kết hợp mở rộng vốn từ có vần at hoặc ac 2.Thời gian: chơi trong 5 phút. 3.Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị. 2 bình hoa cao, những cành hoa cắt bằng vải hoặc bằng giấy trên có gắn những bông hoa ghi từ ngữ khuyết vần at hoặc ac Cắt riêng các nhị hoa có ghi vần at hoặc ac (khoảng 10 nhị cho mỗi vần). Chọn hai nhóm chơi, mỗi nhóm 5 học sinh thuộc 2 tổ trong lớp. 4.Luật chơi: Khi giáo viên hô “Bắt đầu” thì 2 nhóm chơi vào vị trí là hai bàn có lọ hoa đã chuẩn bị đặt gần bàn giáo viên. Học sinh mỗi nhóm nhanh chóng đính các nhị hoa có vần vào từng bông hoa có ghi chữ khuyết vần để tạo ra các từ ngữ viết đúng. Sau khi gắn các nhị hoa vào bông hoa, học sinh phải cắm hoa vào bình. Sau 5 phút giáo viên hô hiệu lệnh “Hết giờ” thì cả 2 nhóm phải ngừng chơi. Giáo viên cùng một hoặc hai học sinh trong lớp kiểm tra từng bông hoa đã gắn nhị ở từng bình xem có bao nhiêu bông đã có từ ngữ đúng. Mỗi bông có từ ngữ đúng đạt 1 điểm, nhóm có bình hoa cắm đẹp được tặng thêm 1 điểm khéo tay. Nhóm nào có số điểm cao là nhóm đó thắng cuộc và được nhận phần thưởng. Qua việc tổ chức trò chơi học tập thường xuyên trong khi dạy chính tả ngoài việc rèn cho học sinh có kĩ năng viết đúng chính tả, làm cho tiết học thêm sinh động, đồng thời còn rèn cho học sinh kĩ năng hợp tác trong nhóm và óc thẫm mĩ khi thực hiện cắm hoa. Như vậy qua việc áp dụng một số hoạt động nêu trên, tôi nhận thấy học sinh lớp tôi đặc biệt là đối với học sinh học yếu phân môn Chính tả đã có sự chuyển biến rõ rệt. Các em phần nào đã giảm bớt lỗi chính tả về âm đầu, về vần, về dấu thanh,…Các em đã biết phân biệt nghĩa của các từ ngữ để viết đúng chính tả và hứng thú hơn khi học phân môn Chính tả. 2Một số hình thức khắc phục lỗi chính tả trong phân môn Chính tả của học sinh. 2.1Tăng cường yêu cầu học sinh tự chữa lỗi chính tả: Đối với vấn đề chính tả, việc nhận thấy lỗi sai và tự sửa lỗi sai là việc làm rất quan trọng. Vì thế, khi chấm bài chính tả trong phân môn Chính tả hay trong phân môn Tập làm văn, tôi chỉ cho học sinh thấy những lỗi mà bản thân thường mắc phải. Từ đó, tôi yêu cầu những em thường mắc lỗi chính tả trả lời các câu hỏi. Ví dụ: + Trong bài viết vừa qua em thường mắc các lỗi nào? + Những lỗi đó ở bộ phận nào của tiếng? + Vì sao em lại mắc lỗi như thế? …. Khi học sinh đã nhận biết được lỗi của mình thường mắc, nếu gặp những chữ có “vấn đề chính tả” của mình thì các em sẽ thận trọng hơn khi viết những chữ đó. Trong lúc soát lại bài viết, tôi đưa ra mẫu đúng và yêu cầu học sinh phân tích chữ viết. Từ đó, các em đã thấy được cái lỗi của mình và tự chữa lỗi. Ngoài ra, tôi còn kiểm tra việc tự chữa lỗi của học sinh thường xuyên, dần dần năng lực tự kiểm tra và tự chữa lỗi của học sinh được hình thành, giúp các em hạn chế được một số lỗi khi viết. 2.2Tăng cường việc tri giác chữ viết bằng thị giác cho học sinh: Muốn ngăn ngừa lỗi chính tả cho học sinh tôi còn giúp học sinh ghi nhớ chữ viết gắn liền với nghĩa của từ. Cách tốt nhất là cung cấp cho học sinh từ trong ngữ cảnh. Mỗi tiết học có thể cung cấp cho học sinh nhiều từ trong một hoặc nhiều ngữ cảnh. Ngữ cảnh có ý nghĩa đặc biệt, giúp học sinh nắm được nghĩa của từ dễ dàng, nhẹ nhàng làm điểm tựa cho trí nhớ. Khi cần sử dụng từ, nếu còn phân vân về chữ viết, các em phải liên tưởng đến ngữ cảnh và suy luận ra cách viết chữ. Trong một tiết dạy Chính tả tôi thường tạo điều kiện cho học sinh lặp đi lặp lại với từ cần ghi nhớ nhiều lần. Chẳng hạn: Lần 1: Vào bài học tôi yêu cầu học sinh đọc thầm bằng mắt ngữ cảnh để hiểu nghĩa từ và nhớ ngữ cảnh. Lần 2: Tôi yêu cầu học sinh lựa chọn các từ trong ngữ cảnh vừa cung cấp để điền vào một ngữ cảnh khác. Lần 3: Tôi cho học sinh đặt câu với từ vừa học, tìm từ láy, từ ghép với tiếng có vấn đề chính tả… Chưa kể việc học sinh thực hiện bài tập về nhà và kiểm tra bài cũ ở buổi học sau. Như vậy trong một tiết, học sinh đã được mắt nhìn, tay viết chữ có vấn đề chính tả nhiều lần. Ví dụ: Trong bài “Kì diệu rừng xanh” (Tiếng Việt 5, tập 1, trang 76). Lần 1: Yêu cầu học sinh đọc thầm các câu trong đoạn văn và tìm tiếng có phụ âm đầu x. Lần 2: Yêu cầu học sinh lựa chọn từ có phụ âm x đầu tiếng trên đây để điền vào câu sau: “Tưới cho tươi mát một vùng lúa ….” Lần 3: Yêu cầu học sinh tạo từ láy có tiếng “xanh” có nghĩa như: xanh xanh, xa
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng của bậc Tiểu họcnói riêng và các bậc học khác nói chung Mục đích của việc dạy môn TiếngViệt ở Tiểu học là: “Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng nghe, nói,đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi,góp phần rèn luyện các thao tác tư duy và hình thành nhân cách con ngườiViệt Nam; bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sựtrong sáng của tiếng Việt” Các yêu cầu đó được thể hiện hoá qua các phânmôn như: Chính tả, Luyện từ và câu, Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn…Trong đó phân môn Chính tả có vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trìnhcủa môn Tiếng Việt ở trường phổ thông, nhất là trường Tiểu học
Chính tả là hình thức tiêu chuẩn hóa chữ viết, tức là những quy tắc, quyđịnh hình thành và thống nhất, nhằm tạo ra cái khung chung trong việc sửdụng ngôn ngữ mà cụ thể là trong viết chữ Viết đúng chính tả là viết đúngchữ viết - hệ thống ký hiệu bằng đường nét đặt ra để ghi tiếng nói những quitắc, quy định cụ thể, theo những tiêu chuẩn về chữ viết Do đó, Chính tả làphân môn có tính chất công cụ, tính chất thực hành làm cơ sở cho việc dạyhọc các phân môn khác của môn Tiếng Việt Cùng với phân môn Tập viết,Chính tả cung cấp kiến thức và hoàn thiện kĩ năng tạo ra hình thức vật chấtbiểu hiện ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp Phân môn Chính tả sẽ giúp họcsinh hình thành thói quen viết đúng chính tả, nắm được các quy tắc chính tả
và hình thành kĩ năng, kĩ xảo chính tả Các nguyên tắc chính tả ấy không táchrời các nguyên tắc dạy học tiếng Việt Vì vậy, chính tả được dạy liên tục từlớp Một đến lớp Năm với các loại bài như: nhìn - viết (tập chép), nghe - viết,nhớ - viết, bài tập so sánh,… Mặc dù được học tập chính tả dưới hình thứcthực hành là chủ yếu, nhưng nhiều năm qua chất lượng học tập phân mônChính tả vẫn còn thấp Các bài văn, bài kiểm tra của học sinh đều mắc nhiềulỗi chính tả Viết sai chính tả dẫn đến lệch nghĩa, giáo viên đọc, chấm bài cần
Trang 2phải đọc kĩ mới hiểu được học sinh muốn viết điều gì Đây là một thực trạngđặt ra cho giáo viên dạy Tiểu học, các cấp quản lý cần nổ lực tìm kiếm nhữnggiải pháp thiết thực nhằm nâng dần chất lượng học chính tả và rèn kĩ năngviết đúng chính tả cho học sinh
Trước tình trạng học sinh bậc Tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nóiriêng còn viết sai chính tả, làm ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em ởmôn Tiếng Việt cũng như các môn học khác Vì thế trong quá trình giảng dạy,bản thân tôi luôn dành nhiều thời gian suy nghĩ để đi tìm câu trả lời cho câuhỏi: “Làm thế nào để giảm tỉ lệ học sinh viết sai chính tả?” hay “Làm thế nàogiúp học sinh được học phân môn Chính tả một cách khoa học và sử dụngcông cụ này suốt những năm tháng trong thời kì học tập ở nhà trường cũngnhư trong suốt cuộc đời?” Với ý nghĩ trên, tôi đã mạnh dạn chọn phân mônChính tả trong môn Tiếng Việt lớp 5 để nghiên cứu nhằm giúp học sinh viết
đúng chính tả và đúc kết thành đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả trong phân môn Chính tả lớp 5”.
Trong năm học 2013-2014, tôi đã áp dụng đề tài vào đối tượng học sinhkhối lớp 5, trường Tiểu học Tân Hòa A, đã đạt được những kết quả rất khảquan và đã được Hội đồng khoa học huyện công nhận Nhận thấy kết quả đó,trong năm học 2014-2015, tôi tiếp tục nghiên cứu, bổ sung thêm một số biệnpháp và áp dụng đề tài vào thực tiễn với đối tượng học sinh khối lớp 5 củanhà trường, đặc biệt là đối tượng học sinh lớp 5 mà tôi chủ nhiệm, nhằm giúphọc sinh hạn chế viết sai lỗi chính tả khi viết trong phân môn Chính tả, cũngnhư khi viết bài trong những môn học khác, góp phần vào việc nâng cao chấtlượng dạy và học của nhà trường
Với đề tài này, tôi biết đã có nhiều sách báo đề cập đến và các anh chịđồng nghiệp cũng đã nghiên cứu viết thành sáng kiến kinh nghiệm cho riêngmình Nhưng do đặc trưng của từng vùng, từng địa phương, từng trường, từnglớp khác nhau nên tôi đã quyết định tiếp tục nghiên cứu và áp dụng đề tài này
Trang 3NỘI DUNG PHẦN 1: THỰC TRẠNG
Qua thực tế giảng dạy nhiều năm ở lớp 5, bản thân tôi được gần gũi,tiếp xúc, trao đổi với học sinh, với phụ huynh học sinh, với các đồng nghiệptrong trường, tôi nhận thấy khả năng viết đúng chính tả trong phân môn Chính
tả nói riêng và các môn học khác nói chung của học sinh lớp tôi còn một sốhạn chế Tuy đa số học sinh viết đúng chính tả nhưng bên cạnh đó vẫn còn vài
em chưa viết đúng chính tả Đó cũng là tình hình của học sinh lớp tôi trongnhững năm học trước và hiện nay, cũng như những học sinh lớp 5 của cácthầy, cô khác trong nhà trường những năm học qua Từ đó, thông qua cácbuổi họp chuyên môn toàn trường, hay những cuộc họp chuyên môn trong tổ,tôi cũng lắng nghe các anh chị đồng nghiệp đưa ra những ý kiến làm thế nào
để giúp học sinh của lớp mình viết đúng chính tả Qua việc thống kê các bàikiểm tra chính tả của năm học 2013-2014 và các bài viết chính tả của học sinhtrong đầu năm học 2014-2015, tôi thu được kết quả cụ thể như sau:
Những số liệu ở bảng trên cho thấy:
*Năm học 2013-2014: (Khi đã áp dụng đề tài vào thực tiễn giảng dạy)
+Có 40,9% học sinh viết chính tả thuộc đối tượng giỏi
+Có 40,9% học sinh viết chính tả thuộc đối tượng khá
+Còn 13,7% học sinh viết chính tả thuộc đối tượng trung bình
Trang 4+Còn 4,5% học sinh viết chính tả thuộc đối tượng yếu.
*Đầu năm học 2014-2015: (tuần 3) (theo Thông tư 32 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo)
(Khi chưa áp dụng đề tài vào giảng dạy)
+Có 27,3% học sinh viết chính tả thuộc đối tượng giỏi
+Có 31,8% học sinh viết chính tả thuộc đối tượng khá
+Còn 18,2% học sinh viết chính tả thuộc đối tượng trung bình
+Còn 22,7% học sinh viết chính tả thuộc đối tượng yếu
Như vậy từ bảng số liệu cho thấy, số học sinh viết sai nhiều lỗi chính tảkhi chưa vận dụng đề tài vào giảng dạy trong phân môn Chính tả còn chiếm tỉ
lệ khá cao Qua tìm hiểu thực tế trên lớp và ở gia đình các em cho thấynguyên nhân chủ yếu của tình hình nêu trên là:
*Về phía giáo viên:
-Áp dụng đổi mới phương pháp dạy học để giúp học sinh có kĩ năngviết đúng chính tả còn mạnh dạn
-Phân loại lỗi chính tả của học sinh chưa sâu
-Chữa lỗi chính tả cho học sinh còn chưa thường xuyên
*Về phía học sinh:
-Một số học sinh không nắm được nguyên tắc kết hợp các chữ cái, quytắc viết hoa trong Tiếng Việt, không nắm được vị trí phân bổ giữa các kí hiệu
-Do các em chưa hiểu nghĩa của từ, chưa nhớ đầy đủ các quy tắc chính
tả vì quá trình học chính tả có liên quan mật thiết với quá trình trí nhớ
-Do các em chưa có động cơ, thái độ đúng đắn trong việc học và rènluyện viết chính tả, khi viết các em còn lơ là, không tập trung vào bài viết, lâungày thành thói quen cẩu thả “viết quen tay” Vì có nhiều em khi hỏi về quytắc viết hoa thì các em trả lời tương đối đầy đủ nhưng vẫn mắc rất nhiều lỗi vềviết hoa
-Các em còn viết sai lỗi chính tả do cách phát âm của bản thân
Trang 5-Nhiều em còn có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các em ít có điều kiệnhọc tập, rèn luyện ở nhà nhiều nên vốn từ ngữ của các em ít được mở rộng.
*Phụ huynh học sinh:
-Sự quan tâm đến việc học tập của con em mình khi học ở nhà của một
số gia đình chưa sâu sát
Từ những nguyên nhân vừa nêu trên, tôi nhận thấy cần phải có nhữnggiải pháp cụ thể để giúp học sinh phát triển khả năng viết đúng chính tả trongphân môn Chính tả lớp 5 nói riêng và ở bậc Tiểu học nói chung là một việccần thiết mà nhiều giáo viên cần phải quan tâm
Trang 6số phương pháp như sau:
1.1-Giúp học sinh viết đúng chính tả qua việc thực hành giao tiếp:
Thực hành giao tiếp trong phân môn Chính tả thực chất là viết chính tảđoạn văn, bài văn và làm các bài tập luyện viết đúng các từ ngữ Để thực hiệnđược chức năng giao tiếp của ngôn ngữ, nghĩa đóng một vai trò quan trọnghàng đầu Chọn đúng đơn vị để rèn cho học sinh viết đúng chính tả đoạn, bài
là một yêu cầu đầu tiên của việc hướng dẫn học sinh viết chính tả tôi hướngdẫn học sinh viết từng cụm từ, từng câu ngắn, từng dòng thơ Đây là nhữngđơn vị có nghĩa tương đối trọn vẹn ở một mức độ khác nhau Từ cần viết đúngđược định vị trong một bối cảnh xuất hiện cả những từ khác, nhờ nhớ bốicảnh gồm những từ đứng trước và đứng sau từ cần viết đúng mà các em cóthể hiểu rõ nghĩa của từ và nhớ cách viết của từ nói trên Khi học sinh viếtxong đoạn, bài theo cách nghe-viết hoặc nhớ viết, tôi hướng dẫn học sinh tựphát hiện lỗi và sửa lỗi nhằm hoàn thiện bài viết, sản phẩm bài viết của mình.Việc hướng dẫn phát hiện lỗi cần được thực hiện theo sự phân loại lỗi của họcsinh thường mắc
Ví dụ: Tuỳ theo từng loại bài tôi yêu cầu học sinh soát lỗi một trong số
những lỗi sau: lỗi ở âm đầu, lỗi ở vần, lỗi ở dấu ghi thanh, lỗi viết tên riêng,
lỗi về viết dấu câu, lỗi về sót tiếng hoặc từ, lỗi về trình bày bài viết (vị trí của đầu bài, vị trí của chữ đầu tiên khi xuống dòng, những lỗi do tẩy xoá nhiều).
Chẳng hạn: với những đối tượng học sinh hay nhầm lẫn âm đầu s/x, trong khi
Trang 7viết cũng như khi soát lỗi trong bài chính tả, tôi yêu cầu các đối tượng nàycần
chú ý những âm đầu s/x trong bài viết của mình
Sau khi học sinh đã tìm được lỗi trong bài, tôi tổ chức để các em sửa lỗitheo cách sau: học sinh tự sửa từng lỗi; từng học sinh nêu lỗi trong bài củamình để tôi ghi lại Khi cá nhân học sinh sửa lỗi, tôi yêu cầu học sinh đổi bàicho nhau để soát lỗi và sửa lỗi kĩ hơn, đồng thời các em có dịp học tập nhau
về chữ viết và trình bày bài viết Tôi chọn một số lỗi học sinh trong lớpthường mắc để chữa chung trên lớp Sau khi chữa, tôi yêu cầu học sinh ghi lạicách viết đúng những từ ngữ vào sổ tay chính tả theo yêu cầu: nửa trang sổbên trái ghi chữ viết sai, nửa trang sổ bên phải ghi chữ đã sửa
1.2-Giúp học sinh viết đúng chính tả qua việc rèn luyện theo mẫu:
Có hai loại mẫu được sử dụng để dạy học chính tả, đó là mẫu phát âmđúng và mẫu viết chữ đúng Để học sinh có thể viết đúng, việc đầu tiên tôilàm là cần đọc đúng Trong giờ chính tả, khi đọc cho học sinh viết, đọc đểgiới thiệu cách viết đúng các từ ngữ, tôi luôn đọc đúng chuẩn phát âm (mặc
dù khi nói hoặc khi đọc trong các môn học khác tôi không phát âm đúngchuẩn), bởi vì chính tả tiếng Việt được ghi theo phát âm nên phát âm đúng làcon đường ngắn nhất giúp cho người học viết đúng Việc tôi đọc đúng để giúphọc sinh viết đúng là một biện pháp hữu hiệu giúp học sinh rèn viết theo mẫu
Ví dụ: Khi dạy chính tả tôi luôn phát âm đúng những vần có âm n hay
ng cuối, c hay t cuối,…; những âm đầu như gi/d/v, s/x, r/g,…; những vần có
âm đệm;
Bên cạnh việc phát âm đúng, tôi còn giới thiệu, cung cấp cho học sinhmẫu viết đúng các từ ngữ học sinh thường dễ nhầm lẫn cách viết trong từngbài học Lỗi chính tả có thể xảy ra ở âm đầu, vần và dấu thanh (đặc biệt là dấuhỏi, dấu ngã) trong tiếng Việt Vì vậy, tôi cho học sinh phân tích chữ viết để
có tác dụng ghi nhớ chữ viết, khắc sâu cách viết đi liền với nghĩa từ mà nó
Trang 8biểu đạt Khi tiến hành phân tích chữ viết tôi đã buộc học sinh phải quan sátchữ viết một cách tường tận, các em cần chú ý viết đúng tiếng nào, bộ phận
âm đầu hay bộ phận vần hay bộ phận dấu thanh của tiếng đó; chữ nào trongtiếng đó các em hay viết sai, nếu viết sai thì nghĩa của từ ngữ này có gì thayđổi, tiếp theo là học sinh phải viết ra chữ Thao tác nhiều, chữ và nghĩa sẽ gắnchặt vào trí nhớ, chắc chắn lỗi viết của học sinh sẽ giảm Đối với học sinhtrung bình-yếu tôi đưa ra một biểu bảng và làm mẫu một từ, còn lại học sinh
tự làm Đối với học sinh khá-giỏi các em phải nêu ra những điểm cần chú ýhay nêu nghĩa chính tả của những từ thường nhầm lẫn
Với hình thức này, tôi yêu cầu mỗi học sinh tự tìm từ khó rồi phân tíchtheo mẫu cho sẵn Như vậy mỗi học sinh có thể tự tìm và phân tích được
nhiều từ
Ví dụ: Trong bài “Kì diệu rừng xanh” (Tiếng Việt 5, tập 1, trang 76).
Học sinh có thể chọn những từ ngữ và phân tích theo bảng
sâu
r s
ưngâu
huyềnngangchùm lông đuôi
chùm
lông
đuôi
chlđ
um
ông
uôi
huyềnngangngang
miết
mm
ai
iêt
hỏi
sắcSau khi học sinh phân tích từ ngữ, tôi cho các em luyện viết theo mẫutrên bảng con hoặc vở nháp Khi học sinh thực hành viết tôi luôn kiểm tra kếtquả viết của học sinh để kịp thời giúp các em sửa lỗi sai (nếu có)
1.3-Sử dụng trò chơi học tập vào việc dạy phân môn Chính tả cho học sinh:
Chính tả là một phân môn yêu cầu học sinh phải ghi nhớ tương đốinhiều Vì vậy nếu hình thức tổ chức các hoạt động học tập đơn điệu sẽ làm
Trang 9cho việc học của học sinh ở phân môn này sẽ trở nên nhàm chán dễ trở thànhcăng thẳng Việc tổ chức các trò chơi để dạy học chính tả sẽ khắc phục đượctình hình nói trên Để tổ chức trò chơi học tập trong phân môn Chính tả, tôi đãtham khảo một số trò chơi trong các sách tham khảo dành cho giáo viên, cáctrò chơi dân gian dành cho trẻ em hay các trò chơi được phát thanh trên tivi,
…Khi tổ chức các trò chơi, tôi chọn những trò chơi có luật chơi không phứctạp, phương tiện để chơi dễ kiếm, dễ làm, tận dụng không gian lớp học làmnơi thực hiện trò chơi Sau đây tôi xin giới thiệu một trò chơi dạy học chính tả
để các giáo viên có thể tham khảo:
Trò chơi Thi cắm hoa
1.Mục đích:
-Củng cố cách viết các từ ngữ có vần at hoặc ac
-Kết hợp mở rộng vốn từ có vần at hoặc ac
2.Thời gian: chơi trong 5 phút.
3.Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị.
-2 bình hoa cao, những cành hoa cắt bằng vải hoặc bằng giấy trên có gắn những bông hoa ghi từ ngữ khuyết vần at hoặc ac
-Cắt riêng các nhị hoa có ghi vần at hoặc ac (khoảng 10 nhị cho mỗi vần).
-Chọn hai nhóm chơi, mỗi nhóm 5 học sinh thuộc 2 tổ trong lớp.
4.Luật chơi: Khi giáo viên hô “Bắt đầu” thì 2 nhóm chơi vào vị trí là hai bàn có lọ hoa đã chuẩn bị đặt gần bàn giáo viên Học sinh mỗi nhóm nhanh chóng đính các nhị hoa có vần vào từng bông hoa có ghi chữ khuyết vần để tạo ra các từ ngữ viết đúng Sau khi gắn các nhị hoa vào bông hoa, học sinh phải cắm hoa vào bình Sau 5 phút giáo viên hô hiệu lệnh “Hết giờ” thì cả 2 nhóm phải ngừng chơi Giáo viên cùng một hoặc hai học sinh trong lớp kiểm tra từng bông hoa đã gắn nhị ở từng bình xem có bao nhiêu bông đã
Trang 10có từ ngữ đúng Mỗi bông có từ ngữ đúng đạt 1 điểm, nhóm có bình hoa cắm đẹp được tặng thêm 1 điểm khéo tay Nhóm nào có số điểm cao là nhóm đó thắng cuộc và được nhận phần thưởng.
Qua việc tổ chức trò chơi học tập thường xuyên trong khi dạy chính tả ngoài việc rèn cho học sinh có kĩ năng viết đúng chính tả, làm cho tiết học thêm sinh động, đồng thời còn rèn cho học sinh kĩ năng hợp tác trong nhóm
và óc thẫm mĩ khi thực hiện cắm hoa.
Như vậy qua việc áp dụng một số hoạt động nêu trên, tôi nhận thấy họcsinh lớp tôi đặc biệt là đối với học sinh học yếu phân môn Chính tả đã có sựchuyển biến rõ rệt Các em phần nào đã giảm bớt lỗi chính tả về âm đầu, vềvần, về dấu thanh,…Các em đã biết phân biệt nghĩa của các từ ngữ để viết
đúng chính tả và hứng thú hơn khi học phân môn Chính tả
2-Một số hình thức khắc phục lỗi chính tả trong phân môn Chính tả của học sinh.
2.1-Tăng cường yêu cầu học sinh tự chữa lỗi chính tả:
Đối với vấn đề chính tả, việc nhận thấy lỗi sai và tự sửa lỗi sai là việclàm rất quan trọng Vì thế, khi chấm bài chính tả trong phân môn Chính tảhay trong phân môn Tập làm văn, tôi chỉ cho học sinh thấy những lỗi mà bảnthân thường mắc phải Từ đó, tôi yêu cầu những em thường mắc lỗi chính tảtrả lời các câu hỏi
Ví dụ:
+ Trong bài viết vừa qua em thường mắc các lỗi nào?
+ Những lỗi đó ở bộ phận nào của tiếng?
+ Vì sao em lại mắc lỗi như thế?
…
Khi học sinh đã nhận biết được lỗi của mình thường mắc, nếu gặpnhững chữ có “vấn đề chính tả” của mình thì các em sẽ thận trọng hơn khiviết những chữ đó Trong lúc soát lại bài viết, tôi đưa ra mẫu đúng và yêu cầu
Trang 11học sinh phân tích chữ viết Từ đó, các em đã thấy được cái lỗi của mình và tựchữa lỗi Ngoài ra, tôi còn kiểm tra việc tự chữa lỗi của học sinh thườngxuyên, dần dần năng lực tự kiểm tra và tự chữa lỗi của học sinh được hìnhthành, giúp các em hạn chế được một số lỗi khi viết.
2.2-Tăng cường việc tri giác chữ viết bằng thị giác cho học sinh:
Muốn ngăn ngừa lỗi chính tả cho học sinh tôi còn giúp học sinh ghinhớ chữ viết gắn liền với nghĩa của từ Cách tốt nhất là cung cấp cho học sinh
từ trong ngữ cảnh Mỗi tiết học có thể cung cấp cho học sinh nhiều từ trongmột hoặc nhiều ngữ cảnh Ngữ cảnh có ý nghĩa đặc biệt, giúp học sinh nắmđược nghĩa của từ dễ dàng, nhẹ nhàng làm điểm tựa cho trí nhớ
Khi cần sử dụng từ, nếu còn phân vân về chữ viết, các em phải liêntưởng đến ngữ cảnh và suy luận ra cách viết chữ Trong một tiết dạy Chính tảtôi thường tạo điều kiện cho học sinh lặp đi lặp lại với từ cần ghi nhớ nhiềulần
Ví dụ: Trong bài “Kì diệu rừng xanh” (Tiếng Việt 5, tập 1, trang 76).
Lần 1: Yêu cầu học sinh đọc thầm các câu trong đoạn văn và tìm tiếng
có phụ âm đầu x
Lần 2: Yêu cầu học sinh lựa chọn từ có phụ âm x đầu tiếng trên đây để điền vào câu sau: “Tưới cho tươi mát một vùng lúa ….”
Trang 12Lần 3: Yêu cầu học sinh tạo từ láy có tiếng “xanh” có nghĩa như: xanh xanh, xanh xao…hay từ ghép có tiếng xanh như: xanh tươi, xanh ngắt…
Lần 4: Yêu cầu học sinh đặt câu với mỗi từ xanh, xanh tươi, xanh ngắt,
bị nhầm lẫn và không còn viết sai lỗi chính tả nữa
2.3-Khắc phục lỗi chính tả do cách phát âm của địa phương:
Lỗi chính tả do cách phát âm của địa phương là một lỗi rất thường gặptrong khi học sinh viết chính tả cũng như thực hành viết trong các môn họckhác đặc biệt là trong phân môn Tập làm văn đối với học sinh bậc Tiểu họcnói chung và đối với học sinh lớp 5 mà tôi đang giảng dạy nói riêng Từ thựctiễn giảng dạy, tôi đã nghiên cứu và thực hiện một số hình thức nhằm để khắcphục những lỗi phát âm địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả vào việc viếtchính tả của học sinh Một số hình thức cụ thể như sau:
2.3.1-Lựa chọn nội dung bài tập:
Nội dung các bài tập chính tả về âm, vần là nhằm ôn lại một số qui tắcchính tả và tiếp tục luyện viết các từ ngữ có âm, vần, thanh dễ viết sai chính
tả, do cả ba nguyên nhân: do bản thân các âm, vần, thanh khó; do học sinhkhông nắm vững qui tắc ghi âm hoặc do ảnh hưởng của cách phát âm địaphương Ở nội dung dạy học này, tôi đặc biệt chú ý đến việc chọn nội dungbài tập sao cho phù hợp với đặc điểm địa phương và thực tế phát âm của địaphương Từ đó học sinh có kiến thức chính tả vững vàng và tự tin hơn trongcác bài viết
Ví dụ: Do đặc điểm học sinh lớp tôi thường viết sai những âm cuối như
n/ng, c/t; sai âm chính o/ô hay sai âm đầu r/g, tr/ch,… nên tôi thường lựa chọn
Trang 13những bài tập phù hợp với những đặc điểm nêu trên để rèn học sinh kĩ năngviết đúng chính tả, khắc phục những lỗi thường gặp Chẳng hạn, ở tiết 9, 11với dạng bài tập phân biệt âm đầu l/n, âm cuối n/ng tôi lựa chọn nội dungphân biệt âm cuối n/ng Ở tiết 12, 13 với dạng bài tập phân biệt âm đầu s/x và
âm cuối c/t tôi lựa chọn nội dung phân biệt âm cuối c/t Ở tiết 19, 20 với dạngbài tập phân biệt âm đầu r/d/gi, âm chính o/ô, tôi chọn nội dung bài tập phânbiệt o/ô,…
2.3.2-Lựa chọn các nguyên tắc dạy học:
Hình thức bài tập chính tả âm, vần rất phong phú, đa dạng Do đó khitiến hành giảng dạy tôi luôn chú ý lựa chọn phương pháp và hình thức dạyhọc phù hợp với nội dung bài tập, với thực tế học sinh của lớp Trong quátrình dạy chính tả cho học sinh, tôi luôn thay đổi các hình thức tổ chức dạyhọc như: cá nhân, nhóm, trò chơi Từ đó, giúp học sinh phát hiện, phân tích,xét đoán,… đồng thời kiểm tra, củng cố kiến thức về chính tả của học sinh.Trong luyện tập, thực hành, tôi còn chú ý đến nguyên tắc kết hợp chính tả có
ý thức và chính tả không có ý thức Để thực hiện tốt nguyên tắc dạy học nàytôi vận dụng những kiến thức về ngữ âm học tiếng Việt vào phân loại lỗichính tả, phát hiện đặc điểm của từng loại lỗi và xây dựng các qui tắc chính
tả, các “mẹo” chính tả giúp học sinh ghi nhớ một cách khái quát có hệ thống
Ví dụ: Ở tiết 1 với dạng bài tập “Điền tiếng thích hợp có âm ng/ngh, g/
gh, c/k” Sau khi học sinh điền và sửa bài hoàn chỉnh, tôi hướng dẫn học sinh
đi đến ghi nhớ một cách chắc chắn qui tắc chính tả (vì chữ viết Tiếng Việt làchữ ghi âm, âm “cờ” được viết dưới dạng 3 kí tự là c, k,q; âm “gờ” được viếtdưới dạng 2 kí tự là g, gh và âm “ngờ” được viết dưới dạng 2 kí tự là ng,ngh)
+Khi đứng trước các nguyên âm i, e, ê: âm “cờ” viết là k, âm “gờ” viết
là gh, âm “ngờ” viết là ngh
Trang 14+Khi đứng trước các nguyên âm còn lại âm “cờ” viết là c, âm “gờ” viết
là g, âm “ngờ” viết là ng
+Khi đứng trước âm đệm viết là u thì âm “cờ” viết là q
Việc kết hợp các nguyên tắc dạy học, với hình thức dạy học và sử dụng
đồ dùng dạy học một cách hợp lí là điều tôi rất quan tâm Để học sinh khôngnhàm chán, có ấn tượng chính tả và ghi nhớ cách viết đúng tôi luôn tổ chứchình thức dạy học thân thiện với học sinh, kết hợp với sử dụng đồ dùng dạyhọc thường xuyên Chẳng hạn, để tìm từ láy phù hợp với mô hình cấu tạo đãcho hoặc tìm từ phù hợp với hình thức chính tả đã cho, tôi tổ chức cho họcsinh chơi những trò chơi để tạo cho không khí lớp học sinh động và tiết họcthêm hấp dẫn, từ đó các em sẽ tích cực chủ động thực hành và ghi nhớ mộtcách có ý thức
Ví dụ: Ở tiết 9, với bài tập “Tìm và viết lại các từ láy có âm cuối ng”;
tiết 12 với bài tập “Điền các từ láy theo khuôn vần ghi ở từng ô trong bảngsau: an- at, ang- ac, ôn-ôt, ông-ôc, un-ut, ung-uc”…tôi tổ chức cho học sinhthi viết tiếp sức theo nhóm vào bảng phụ Sau khi học sinh tìm được những từláy đúng, phù hợp với yêu cầu, bao giờ tôi cũng cho các em ghi lại để họcsinh nắm vững
Qua việc áp dụng giải pháp vào dạy trong phân môn Chính tả, tôi nhậnthấy học sinh của lớp nói riêng và những học sinh cùng khối trong nhà trườngnói chung đã dần khắc phục được lỗi do phát âm địa phương
3-Rèn học sinh kĩ năng viết đúng chính tả thông qua việc ghi nhớ và sử dụng các quy tắc, mẹo chính tả trong phân môn Chính tả.
Để viết đúng chính tả, ngoài việc nắm vững nghĩa của từ, học sinh cần
phải nắm vững thêm một số mẹo luật, quy tắc trong khi viết Một số hiện tượng chính tả mang tính quy luật đối với hàng loạt từ có thể giúp cho học sinh khắc phục lỗi chính tả một cách rất hữu hiệu Ở những lớp dưới,
các em đã được cung cấp một số qui tắc chính tả Lên lớp 5, các em vẫn
Trang 15thường xuyên được ôn lại Nhưng không phải em nào cũng nhớ và vận dụng
để viết đúng chính tả Việc ghi nhớ và vận dụng đúng các qui tắc chính tảkhông phải là điều dễ dàng Để giúp các em nắm vững các qui tắc chính tả đãhọc một cách khái quát có hệ thống, tôi chọn lọc, tổng hợp các qui tắc và một
số “mẹo” chính tả ở mức độ đơn giản để các em dễ nhớ, dễ thuộc, thậm chí
khi nào quên các em có thể giở ra xem để viết đúng chính tả Sau đây xin giới thiệu một số quy tắc, mẹo, luật, chính tả mà tôi đã vận dụng và mang lại hiệu quả.
MỘT SỐ QUI TẮC CHÍNH TẢ
1/Qui tắc ghi phụ âm
đầu
-Qui tắc viết k/c : Trước i, e, ê, được viết
là k, các âm còn lại là
âm c
-Qui tắc viết g/gh và ng/ngh: Trước i, e, ê được viết là gh hay ngh; Viết là g hay ng
trong các trường hợpcòn lại
-kể chuyện, kiên cường, con kiến, kiều diễm,
-ghi nhớ, ghe xuồng, nghiên cứu, suy nghĩ…
2/Qui tắc ghi dấu thanh
các tiếng có nguyên âm
đôi
-Có âm cuối thì đặt dấuthanh ở chữ cái thứ haicủa nguyên âm đôi
-Không có âm cuối thìđặt dấu thanh ở chữ cáiđầu của nguyên âmđôi
-mượn, trườn, cuồn cuộn, chuối, muỗi …
-múa, mía, lửa, cứa, đĩa,
-Tên các cơ quan, tổchức, danh hiệu,…:
-Võ Thị Sáu; Trần Quốc Toản; Nông Văn Dền,…
-Trường Tiểu học Tân Lập, Nhà Xuất bản Giáo
Trang 16của mỗi bộ phận tạothành tên riêng đó.
4/Qui tắc viết tên riêng
nước ngoài:
-Viết hoa theo qui tắcviết hoa tên người, tênđại lí Việt Nam
-Viết hoa chữ cái đầumỗi bộ phận tạo thànhtên riêng và có gạchnối giữa các tiếng
-Mao Trạch Đông, Thái Lan, Hàn Quốc, …
-Lu-i Pa-xtơ, Pi-e
Đơ-gây-tê,…
MỘT SỐ MẸO CHÍNH TẢ DỄ NHỚ
1/Mẹo tương ứng thanh điệu trong từ láy:
Trong từ láy thanh, các âm tiết phải mang thanh điệu cùng nhóm, hoặclặp lại nhau, hoặc hài hoà, thanh bổng đi với thanh bổng, thanh trầm đi vớithanh trầm Thông thường để giúp học sinh viết đúng dấu hỏi, dấu ngã trongcác từ láy khi viết chính tả tôi hướng dẫn học sinh học thuộc hai câu thơ lục
bát: “Chị Huyền vác nặng – ngã đau/ Hỏi – không – sắc thuốc làm sao mà
lành” Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng
trước mang thanh ngang, hỏi, sắc thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi
(hoặc ngược lại)
Ví dụ:
Huyền + ngã: màu mỡ, lững lờ, vồn vã,…
Nặng + ngã: đẹp đẽ, mạnh mẽ, vật vã,…
Ngã + ngã: dễ dãi, nghễnh ngãng, nhõng nhẽo,mãi mãi…
Ngang + hỏi: nhỏ nhoi, trẻ trung, vui vẻ,…
Sắc + hỏi: mát mẻ, sắc sảo, vắng vẻ, mải miết…
Hỏi + hỏi: thỏ thẻ, hổn hển, rủ rỉ,…
2/Mẹo nhóm nghĩa x/s:
Đây là hai âm đầu mà lớp tôi thường hay viết sai, cho nên tôi đặc biệtgiúp học sinh phân biệt hai âm đầu này
Trang 17- s không xuất hiện trong các âm tiết có âm đệm.
- x xuất hiện trong các âm tiết có âm đệm.
-Trong các từ láy vần, đa số ta dùng âm x như: búa xua, lao xao, lì xì,
-Hầu hết các danh từ còn lại đều viết là s:
+Chỉ người: sứ giả, đại sứ, sư sãi, giáo sư, gia sư,…
+Chỉ cây cối: sen, sung, sấu, sắn, si, sim,
+Chỉ đồ vật: sọt, sợi dây, sợi vải,…
+Chỉ sự vật, hiện tượng: sao, sương, sông, suối, sấm, sét,…
Có một số trường hợp ngoại lệ là danh từ nhưng lại viết là x: xe, xuồng,xoan, xoài, túi xách, xương, xô, xẻng, xưởng, xã, trạm xá, bà xơ, mùa xuân.Học sinh có thể ghi nhớ các trường hợp ngoại lệ trên bằng cách học thuộc câu
văn sau: Mùa xuân, bà xơ đi xuồng gỗ xoan, mang một xe xoài đến xã đổi xẻng ở xưởng, đem về trạm xá cho bệnh nhân đau xương.
3/Ngoài việc giúp học sinh ghi nhớ mẹo viết dấu hỏi, dấu ngã trong từláy hay ghi nhớ âm đầu x/s, tôi còn hướng dẫn các em biết thêm mẹo ghi nhớ