Cơ sở của việc xây dựng các quy định về xác định thẩm quyền phúc thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:...8 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
TÊN ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH
Người thực hiện: Nguyễn Vương Thủy Tiên
MSSV: 1853801014176
Lớp: 94 – HC43.3
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài: 3
2 Tình hình nghiên cứu: 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 3
4 Phương pháp nghiên cứu: 4
5 Kết cấu của đề tài: 4
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 5
1.1 Khái quát về Tòa án nhân dân cấp tỉnh: 5
1.2 Khái niệm chung về thẩm quyền: 5
1.3 Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh: 6
1.3.1 Khái niệm thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh: 6
1.3.2 Ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh: 6
1.3.3 Cơ sở của việc xây dựng các quy định về xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh: 7
1.4 Thẩm quyền phúc thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh: 7
1.4.1 Khái niệm thẩm quyền phúc thẩm dân sự Tòa án nhân dân cấp tỉnh: 7
1.4.2 Ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền phúc thẩm dân sự Tòa án nhân dân cấp tỉnh: 7
1.4.3 Cơ sở của việc xây dựng các quy định về xác định thẩm quyền phúc thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh: 8
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 9
2.1 Quyền hạn và nghĩa vụ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh: 9
2.2 Thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh: 9
2.3 Thẩm quyền phúc thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh: 13
Chương 3: THỰC TIỄN THỰC THI VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 14
3.1 Thực tiễn thực thi pháp luật về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh: 14
3.2 Kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền Tòa án nhân dân cấp tỉnh: 14
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong tố tụng dân sự, việc xác định tòa án nào có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự có vai trò rất quan trọng để có thể tiến hành khởi kiện vụ án dân sự khi bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp Thẩm quyền càng được phân định rõ ràng, khoa học, càng sát với thực tế bao nhiêu càng đảm bảo cho việc xét xử khách quan, chính xác, đúng người, đúng tội bấy nhiêu Xác định đúng thẩm quyền tòa án giúp cho việc thụ lý giải quyết vụ án được nhanh chóng, giúp bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của bên bị xâm hại đạt hiệu quả tối đa Đối với các tòa án, do có sự phân định về thẩm quyền mà tránh được tình trạng đùn đẩy việc cho nhau Xét về góc độ kinh tế, thì việc xác định đúng thẩm quyền xét xử giảm được nhiều chi phí, tiền bạc, công việc của nhà nước, tập thể và công dân trong quá trình giải quyết… Với tầm quan trọng đó các quy định về thẩm quyền xét xử luôn được chú ý từ khi ban hành pháp luật Có thể nhận thấy, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã phân định rõ ràng thẩm quyền của tòa án cấp tỉnh và tòa án cấp huyện để tránh tình trạng vượt cấp hay thụ lý nhầm Tuy nhiên, thực tế có nhiều trường hợp người có yêu cầu giải quyết tranh chấp chưa nắm được các quy định pháp luật dẫn đến việc nộp đơn giải quyết không đúng thẩm quyền dẫn đến việc giải quyết bị kéo dài, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên Do đó, việc lựa
chọn đề tài: “Thẩm quyền của Tòa án nhân cấp tỉnh” giúp chúng ta hiểu rõ, đúng nhất về thẩm
quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh Từ đó, phân biệt được với thẩm quyền của các tòa án khác, giúp chúng ta thực hiện đúng việc nộp đơn đúng thẩm quyền Đồng thời, thông qua việc nghiên cứu
đề tài này, thực tiễn áp dụng để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy định là việc làm có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng
2 Tình hình nghiên cứu:
Qua Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và các nghiên cứu của các tác giả khác, em tiếp cận, nghiên cứu
và phân tích các quy định tố tụng hiện hành cũng như thực tiễn áp dụng các quy định đó, tạo cơ sở
lý luận, thực tiễn để hoàn thiện pháp luật về “Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh” trong
Tố tụng dân sự Đồng thời, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về “Thẩm quyền của Tòa án nhân
dân cấp tỉnh”.
Như vậy, tình hình nghiên cứu đề tài: “Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh” là đòi hỏi
khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu cụ thể các quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh của Việt Nam trong việc thụ lý và xét xử các vụ việc dân sự
Bên cạnh tập trung vào nghiên cứu các quy định còn nghiên cứu thực trạng để đánh giá kết quả thực hiện Từ đó, phân tích những hạn chế để tìm ra những thay đổi cần thiết, đúng đắn, phù hợp hơn
Trang 54 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, em đã sử dụng các phương pháp cụ thể như: Phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê; thảo luận, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn
5 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung tiểu luận bao gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Chương 2: Quy định của pháp luật về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Chương 3: Thực tiễn thực thi và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Trang 6Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
CẤP TỈNH.
1.1 Khái quát về Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
Tòa án nhân dân cấp tỉnh là cơ quan xét xử địa phương thuộc hệ thống Tòa án nhân dân trên địa bàn nước ta Tòa án nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng xét xử theo nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định
Theo thứ tự cơ cấu tổ chức các cơ quan xét xử, sau Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân cấp cao là Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Cũng như các cơ quan nhà nước khác, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có cơ cấu tổ chức riêng gồm có: – Uỷ ban thẩm phán
– Các Tòa chuyên trách
– Bộ máy giúp việc
Trong đó, Tòa án nhân dân tỉnh có:
Chánh án, các Phó Chánh án, Chánh tòa, các Phó Chánh tòa, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, công chức khác và người lao động
Các Tòa chuyên trách gồm có Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa hành chính, Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa gia đình và người chưa thành niên
Trường hợp cần thiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
Căn cứ quy định tại điểm này và yêu cầu thực tế xét xử ở mỗi Tòa án nhân dân tỉnh, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc tổ chức các Tòa chuyên trách
1.2 Khái niệm chung về thẩm quyền:
Thẩm quyền là một khái niệm khá rộng và có những quan niệm khác nhau, xuất phát từ thuật ngữ Jurisdiction – trong tiếng Anh hay Jurisdictio – trong tiếng La Tinh, thường được hiểu trong tiếng Việt là thẩm quyền, thẩm quyền xét xử, hay quyền tài phán, là một thuật ngữ pháp lý khó hiểu do chứa đựng nhiều ý nghĩa khác nhau1 Cho đến nay, việc nghiên cứu lý luận về thẩm quyền còn nhiều khoảng trống2
Theo từ điển Black’s Law, thuật ngữ “thẩm quyền” được hiểu theo hai nghĩa3:
Quyền lực của chính phủ được thực hiện với tất cả mọi người cũng như với các đối tượng khác trong lãnh thổ của họ;
Quyền của Tòa án để quyết định một vụ việc hay quyền đưa ra các phát quyết
1 B.V.A Roling and Antonio Cassese (1993), The Tokyo Trial and Beyond, Polity Press, Oxford, tr. 609.
2 G.R Watson (1992), “Offenders Abroad: The Case for Nationally – Based Criminal Jurisditions”. Yale J. Int’l L, (17), tr. 58 – 72.
3 C. Schule (1999), The Enforcement of Obligations Erga Omnes before the International Court of Justice, Procedural Law and the East Timor Judgment, Sakkoulas Publications, Athens.
Trang 7Theo từ điển Oxford, thuật ngữ “thẩm quyền” được hiểu là quyền lực chính thức của một chủ thể
để đưa ra một quyết định pháp lý hay một bản án4
Theo từ điển Tiếng Việt, thẩm quyền được hiểu là quyền xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề theo pháp luật5
Theo Từ điển Luật học của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, “thẩm quyền” là tổng hợp các
quyền hành động, quyền quyết định được trao hay thừa nhận cho một chủ thể, cho phép chủ thể đó
có thể thực hiện được những chức năng cụ thể mà pháp luật quy định6
Thuật ngữ Việt Nam xét về nghĩa nói chung giống với nghĩa trong tiếng nước ngoài, nhưng cách
sử dụng vẫn có điểm khác biệt nhất định Tuy được có nhiều ý kiến khác nhau nhưng về mặt nghĩa
thì “thẩm quyền” có nghĩa là khả năng chủ thể trong việc xem xét và giải quyết hay định đoạt một
công việc nào đó trên cơ sở chuẩn mực pháp luật đã định trước
Qua sự phân tích trên, ta có thể rút ra kết luận: “Thẩm quyền là tổng thể các quyền mà pháp luật
quy định cho một chủ thể nhất định được thực hiện công việc trong một lĩnh vực, một phạm vi nhất định”.
1.3 Thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
1.3.1 Khái niệm thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
Sơ thẩm là xét xử một vụ án với tư cách là Tòa án ở cấp xét xử thấp nhất Do đó, sơ thẩm là cấp xét xử đầu tiên là cấp xét xử thứ nhất, là lần xét xử thứ nhất của Tòa án nhân dân cấp tỉnh Tất cả các cấp xét xử sau phải qua cấp xét xử này
Như vậy, thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh là việc Tòa án xem xét để giải quyết một vụ việc dân sự có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo thủ tục
sơ thẩm hay không và Tòa án nào sẽ thụ lý giải quyết
1.3.2 Ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
Việc xác định đúng thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa án sẽ là cơ sở để xác định đúng thẩm quyền phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm
Tránh tình trạng giải quyết không đúng thẩm quyền hay đùn đẩy trách nhiệm giữa các Tòa án trong việc thụ lý giải quyết
Việc xác định đúng thẩm quyền sẽ tránh được vụ việc bị hủy để xét xử sơ thẩm lại gây mất thời gian, tổn phí vật chất cho cả Tòa án và đương sự
Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành án dân sự, đảm bảo sự phối hợp giữa Tòa án và cơ quan thi hành án trong việc chuyển giao bản sao bản án, quyết định, giải thích bản án quyết đinh Bởi vì, theo quy định của pháp luật thi thông thường cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã sơ thẩm vụ việc dân sự sẽ có thẩm quyền thi hành án
4 Oxford Advanced Learner’s Dictionary.
5 Viện Ngôn ngữ học (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, tr.920.
Trang 8 Tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự trong việc tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án
1.3.3 Cơ sở của việc xây dựng các quy định về xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự của Tòa
án nhân dân cấp tỉnh:
Việc xây dựng các quy định về xác định thẩm quyền sơ thẩm dân sự giữa Tòa án nhân dân cấp tỉnh được dựa trên một số tiêu chí cơ bản sau:
Bảo đảm đường lối chính sách của Đảng về hoạt động tư pháp
Tính chất phức tạp của từng loại vụ việc Theo đó, những vụ việc mang tính chất phức tạp (như:
vụ việc có yếu tố nước ngoài…) sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, còn những vụ việc đơn giản hơn sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo loại việc là tổng hợp các loại vụ việc về dân sự mà Tòa án
có thẩm quyền thụ lý và giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự
Về nguyên tắc việc phân định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ phải được tiến hành dựa trên
cơ sở bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án được nhanh chóng, đúng đắn, bảo đảm việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự nhưng vẫn đảm bảo Tòa
án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án thuận lợi nhất cho việc tham gia tố tụng của đương sự, là Tòa
án có điều kiện thuận lợi nhất để giải quyết vụ án
Điều kiện cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và sự độc lập, khách quan của cán bộ Tòa án Cụ thể như theo quy định tại Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm năm 2002, để được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh thì đòi hỏi phải là người đáp ứng đủ những điều kiện chung và đã là Thẩm phán Tòa án cấp huyện ít nhất năm năm, có tư cách đạo đức tốt…
1.4 Thẩm quyền phúc thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
1.4.1 Khái niệm thẩm quyền phúc thẩm dân sự Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
Phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai, trong đó Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại những bản án hoặc xét lại các quyết định đã được tòa án cấp dưới xét xử sơ thẩm nhưng chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Do đó, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị
Như vậy, thẩm quyền phúc thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh là việc Tòa án nhân dân cấp tỉnh trực tiếp xét xử lại những bản án hoặc xét lại các quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện
bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật
1.4.2 Ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền phúc thẩm dân sự Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
Việc xác định thẩm quyền của Tòa án một cách chính xác, thật sự khoa học sẽ tránh được sự chồng chéo khi thực hiện nhiệm vụ giữa Tòa án
Làm cho các Tòa án giải quyết đúng đắn, có hiệu quả các vụ việc dân sự
Trang 9 Tạo điều kiện cho các bên đương sự tham gia tố tụng, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Tiết kiệm được thời gian, công sức, các chi phí, giảm bớt các phiền hà cho đương sự và cho cả Tòa án
1.4.3 Cơ sở của việc xây dựng các quy định về xác định thẩm quyền phúc thẩm dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
Việc xây dựng các quy định về xác định thẩm quyền phúc thẩm dân sự giữa Tòa án nhân dân cấp tỉnh được dựa trên một số tiêu chí cơ bản sau:
Bảo đảm đường lối chính sách của Đảng về hoạt động tư pháp
Xác định bản án, quyết định sơ thẩm ban đầu do Tòa án nhân dân cấp huyện xét xử nhưng chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị
Trang 10Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
CẤP TỈNH.
2.1 Quyền hạn và nghĩa vụ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
Theo Điều 37 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
– Sơ thẩm vụ việc theo quy định của pháp luật
– Phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật
– Kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định của luật tố tụng thì kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị
– Giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật hiện hành
2.2 Thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh:
Về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh được quy định, hướng dẫn tại Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015, cụ thể như sau:
Thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, được quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như sau:
– Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc sau đây: + Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
+ Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều
27, 29, 31 và 33 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, trừ những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
+ Tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
– Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật này
mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh tự mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Tòa án nhân dân cấp huyện
Dựa vào tính chất phức tạp của một số loại vụ việc đòi hỏi kinh nghiệm chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ Tòa án hoặc theo yêu cầu về sự vô tư, khách quan trong tố tụng, Điều 37