Công bằng xã hội là khát vọng và là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của chủ nghĩa xã hội – giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa nói riêng và ở toàn bộ các hình thái kinh tế - xã hội từ xưa đến nay nói chung. Tuy nhiên ở mỗi quốc gia, do hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau nên việc giải quyết vấn đề công bằng xã hội cũng khác nhau. Ở Việt Nam, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, công bằng xã hội là một nhân tố quan trọng và là một mục tiêu quan trọng trong việc phát triển và ổn định đất nước. Hồ Chí Minh đã xác định: “ Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”. Nước ta là một nước đang phát triển, đi lên chủ nghĩa xã hội luôn hướng tới mục tiêu xây dựng: “ một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, giáo dục chính là nhân tố có vai trò quyết định đến vấn đề nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nguồn nhân lực. Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục luôn là động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Giáo dục là một điều kiện quan trọng bảo đảm công bằng trong phát triển xã hội. Giáo dục với trí tuệ góp phần quyết định tạo ra tiềm năng của mọi tiềm năng. Thiếu học vấn, thiếu kiến thức, thiếu kỹ năng lao động con người sẽ rất khó khăn trong tìm việc, tạo việc và lao động với năng suất, hiệu quả cao. Đồng thời, cũng rất khó khăn trong việc hòa nhập với đời sống cộng đồng và hưởng thụ được những gì mà nền văn minh hiện đại mang lại. Vấn đề công bằng được thể hiện trên rất nhiều lĩnh vực của đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh quốc phong,… Công bằng xã hội trong giáo dục đại học là một vấn đề rộng lớn và phức tạp, được xem xét trên cả góc độ vi mô và vĩ mô, xét trên cả góc độ địa lý, tự nhiên và xã hội.
Trang 1 - -
TIỂU LUẬN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Đề tài Chủ nghĩa xã hội và công bằng xã hội Công bằng trong giáo dục đại học ở Việt Nam – Những mâu
thuẫn cơ bản và giải pháp
Hà Nội, 2020
Trang 2A) LỜI MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Công bằng xã hội là khát vọng và là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của chủ nghĩa xã hội – giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa nói riêng và ở toàn bộ các hình thái kinh tế - xã hội từ xưa đến nay nói chung Tuy nhiên ở mỗi quốc gia, do hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau nên việc giải quyết vấn đề công bằng xã hội cũng khác nhau
Ở Việt Nam, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, công bằng xã hội là một nhân tố quan trọng và là một mục tiêu quan trọng trong việc phát triển và ổn định đất nước Hồ Chí Minh đã xác định: “ Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng” Nước ta là một nước đang phát triển, đi lên chủ nghĩa xã hội luôn hướng tới mục tiêu xây dựng: “ một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, giáo dục chính là nhân tố có vai trò quyết định đến vấn đề nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nguồn nhân lực Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục luôn là động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế
Giáo dục là một điều kiện quan trọng bảo đảm công bằng trong phát triển xã hội Giáo dục với trí tuệ góp phần quyết định tạo ra tiềm năng của mọi tiềm năng Thiếu học vấn, thiếu kiến thức, thiếu kỹ năng lao động con người sẽ rất khó khăn trong tìm việc, tạo việc và lao động với năng suất, hiệu quả cao Đồng thời, cũng rất khó khăn trong việc hòa nhập với đời sống cộng đồng và hưởng thụ được những gì mà nền văn minh hiện đại mang lại
Vấn đề công bằng được thể hiện trên rất nhiều lĩnh vực của đời sống: kinh
tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh quốc phong,…
Công bằng xã hội trong giáo dục đại học là một vấn đề rộng lớn và phức tạp, được xem xét trên cả góc độ vi mô và vĩ mô, xét trên cả góc độ địa lý, tự nhiên và
xã hội
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề: : “ Chủ nghĩa xã hội và công bằng xã hội Công bằng trong giáo dục đại học ở Việt Nam- Những mâu thuẫn cơ bản và giải pháp” làm đề tài tiểu luận của mình
ii
Trang 3II Kết cấu đề tài
Phần 1: Lý luận chung về chủ nghĩa xã hội và công bằng xã hội
I Chủ nghĩa xã hội
1) Hoàn cảnh ra đời, khái niệm của chủ nghĩa xã hội …Trang 1
2) Những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội ………Trang 2
II Công bằng xã hội
1) Khái niệm công bằng xã hội ………Trang 2
2) Nội dung công bằng xã hội ……… Trang 2, 3 3) Điều kiện thực hiện công bằng xã hội ……… Trang 3, 4 4) Công bằng xã hội – mục tiêu của chủ nghĩa xã hội … Trang 4, 5
Phần 2: Vận dụng giải quyết thực tiễn: Công bằng trong giáo dục đại học ở Việt Nam – những mâu thuẫn cơ bản và giải pháp
I Lý luận chung………Trang 6
II Thực trạng, nguyên nhân của hạn chế, những mâu thuẫn cơ bản
1) Thực trạng……… Trang 7, 8 2) Nguyên nhân của hạn chế……… Trang 8
3) Những mâu thuẫn cơ bản………Trang 8, 9,10 III.Giải pháp……… Trang 10
Trang 4B) NỘI DUNG
Phần 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CÔNG BẰNG
XÃ HỘI
I CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1) Điều kiện ra đời ra đời, khái niệm của chủ nghĩa xã hội
Điều kiện ra đời
Điều kiện kinh tế: Do sự ra đời của nền sản xuất công nghiệp, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật công nghệ, lao động mang tính xã hội , lực lượng phát triển mạnh mẽ và đạt tới trình độ xã hội hóa ngày càng cao, mâu thuẫn với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu Mâu thuẫn này ngày càng phát triển Đây là mâu thuẫn cơ bản trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Điều kiện chính trị - xã hội: Cùng với sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản cũng hình thành và phát triển hai giai cấp cơ bản: Giai cấp công nhân
và giai cấp tư sản có lợi ích đối lập nhau nên xã hội xuất hiện mâu thuẫn đối kháng Mâu thuẫn phát triển đỉnh cao thể hiện ở cuộc đấu tranh của công nhân chống lại giai cấp tư sản Qua thực tiễn cuộc đấu tranh, công nhân nhận thức được rằng muốn giành được thắng lợi phải tiếp thu chủ nghĩa xã hội khoa học hình thành chính đảng của giai cấp mình Khi Đảng Cộng sản ra đời, toàn bộ hoạt động của Đảng đều hướng vào lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động lật đổ nhà nước của giai cấp tư sản xác lập nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việc thiết lập nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động là sự
mở đầu của hình thái kinh tế – xã hội Cộng sản chủ nghĩa mà chủ nghĩa xã hội là giai đoạn đầu tiên
Tóm lại: Do sự vận động của những mâu thuẫn cơ bản trong chủ nghĩa tư bản, cùng với cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, khi xuất hiện tình thế và thời cơ cách mạng tạo ra những điều kiện cần và đủ thì cách mạng xã hội chủ nghĩa tất yếu sẽ xảy ra và thắng lợi đưa đến sự ra đời của hình thái kinh tế – xã hội Cộng sản chủ nghĩa
Khái niệm
Chủ nghĩa xã hội ( CNXH ) là một chế độ xã hội tốt đẹp, được nhân dân xây dựng trên thực tế về mọi mặt, dưới sự lãnh đạo của Đảng tiên phong của giai cấp công nhân, là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội Cộng sản chủ nghĩa
Trang 52) Những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội
Đặc trưng thứ nhất: cơ sở vật chất – kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội là nền sản xuất công nghiệp hiện đại
Đặc trưng thứ hai: Chủ nghĩa xã hội đã xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu
Đặc trưng thứ ba: Chủ nghĩa xã hội tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới
Đặc trưng thứ tư: Chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động – nguyên tắc phân phối cơ bản nhất
Đặc trưng thứ năm: Chủ nghĩa xã hội có Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới, nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc; thực hiện quyền lực và lợi ích của nhân dân
Đặc trưng thứ sáu: Chủ nghĩa xã hội đã giải phóng con người thoát khỏi
áp bức bóc lột, thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội, tạo những điều kiện cơ bản để con người phát triển toàn diện
II CÔNG BẰNG XÃ HỘI
1) Khái niệm công bằng xã hội
Hoàn cảnh ra đời
Khái niệm công bằng xã hội có thể được bắt nguồn từ thần học của Augustinô thành Hippo và triết học của Thomas Paine, thuật ngữ "công bằng xã hội" đã được sử dụng chính thức vào những năm 1780
Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây đã chứng minh, khi nghiên cứu trong chủ nghĩa xã hội việc sử dụng cách diện đạt "công bằng xã hội" đã có từ trước đó (thậm chí trước thế kỷ 19)
Khái niệm
Công bằng xã hội ( CBXH ) không phải một khái niệm bất di bất dịch Nó mang tính chất tương đối và phụ thuộc vào hoàn cảnh, công bằng xã hội là tình trạng mà mọi quyền lợi, nghĩa vụ của các thành viên xã hội có và được thực hiện phù hợp với các giá trị xã hội để khuyến khích tối đa đóng góp và hạn chế tối thiểu khả năng gây hại của mỗi cá nhân cho xã hội trong dài hạn
Công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử: công bằng xã hội là sản phẩm của đời sống xã hội, nó phản ánh quan hệ giữa người với người xung quanh vấn đề lợi ích
Trang 62) Nội dung công bằng xã hội
Nội dung cơ bản nhất của công bằng xã hội: xử lý hợp lý nhất quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ trong điều kiện hoàn cảnh nhất định bao gồm:
Công bằng trong phân phối
Công bằng về cơ hội
Đặc trưng của công bằng xã hội:
Công bằng xã hội là một giá trị nhằm xác lập mối quan hệ giữa người với người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống theo nguyên tắc tương xứng giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ và là phạm trù mang tính nhân loại
Công bằng xã hội là khái niệm mang tính lịch sử cụ thể
Công bằng xã hội là một trường hợp riêng của bình đẳng xã hội
Nguyên tắc cơ bản của công bằng xã hội:
Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm quyền lợi
Thứ hai, nguyên tắc công bằng về cơ hội
Thứ ba, nguyên tắc phân phối theo sự cống hiến
Thứ tư, nguyên tắc quan tâm đến người yếu thế
3) Điều kiện thực hiện công bằng xã hội
Thực hiện công bằng xã hội ở không chỉ là hướng tới mục tiêu của chủ nghĩa xã hội mà còn là một động lực quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế
-xã hội của đất nước, là một yêu cầu bức thiết của công cuộc đổi mới, chấn hưng đất nước
Khái niệm: Thực hiện công bằng xã hội là những hoạt động cụ thể của toàn bộ hệ thống chính trị, các lực lượng, tổ chức xã hội và người dân theo chức năng, vị trí, vai trò của mình làm cho những nội dung của công bằng xã hội trở thành hiện thực trong đời sống xã hội
Những nhân tố chủ yếu tác động đến việc thực hiện công bằng xã hội:
Trình độ phát triển kinh tế
Chế độ chính trị, đặc biệt là bản chất của giai cấp cầm quyền và của nhà nước ở mỗi nước chi phối, quy định việc thực hiện công bằng xã hội
Các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
Tính chất của thời đại
Trang 7 Phản ánh chủ nghĩa xã hội là chế độ đầu tiên trong lịch sử được xây dựng trên nguyên tắc công bằng xã hội
Thực hiện công bằng xã hội hiện nay, những mâu thuẫn nảy sinh đòi hỏi phải được nghiên cứu và giải quyết là:
Mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội
Mâu thuẫn giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội của Nhà nước
Mâu thuẫn giữa lợi ích nhà đầu tư và lợi ích người lao động
Mâu thuẫn trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo
4) Công bằng xã hội – mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
Để đạt được công bằng thực sự, một cách tuyệt đối chỉ khi con người không còn lệ thuộc vào phân công lao động nữa, lúc đó khoảng cách giữa lao động trí óc và lao động chân tay được rút ngắn tối đa, lao động không còn là phương tiện
để sinh sống nữa mà là một nhu cầu hoạt động và phát triển Khi đó, cá nhân được phát triển một cách toàn diện, sức sản xuất xã hội sẽ có sự tiến bộ vượt bậc chưa từng có trong lịch sử, của cải trở nên dư thừa “Chỉ khi đó người ta mới có thể vượt hẳn ra khỏi giới hạn chật hẹp của pháp quyền tư sản và xã hội mới có thể ghi trên
lá cờ của mình: Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu!”
Trong giai đoạn chủ nghĩa xã hội của Cộng sản chủ nghĩa, mặc dù chế độ công hữu về tư liệu sản xuất đã được thiết lập, song phương thức phân phối tương ứng đó vẫn chưa đạt tới sự công bằng thực sự Đó mới chỉ là một bước tiến bộ nhất định bước đầu về công bằng xã hội Điều quan trọng là cùng với chế độ công hữu thì sản xuất càng phải phát triển, mọi cá nhân phải có cơ hội phát huy mọi tiềm năng để vươn tới sự ngang nhau về năng lực, điều kiện, cơ hội, khi đó mới có thể đạt được sự công bằng tuyệt đối
Công bằng xã hội được xét theo 2 chiều:
Theo chiều ngang: nghĩa là đối xử như nhau đối với những người đóng góp như nhau Đòi hỏi phải đối xử bình đẳng giữa những người có cùng năng lực
và cống hiến thụ hưởng như nhau
Theo chiều dọc: nghĩa là đối xử khác nhau với những người có những khác biệt bẩm sinh, trình độ, năng lực hoặc điều kiện sống khác nhau Thể hiện ở việc nhà nước có chính sách đãi ngộ, tạo điều kiện, mở rộng khả năng tiếp cận cho người nghèo, những nhóm người dễ bị tổn thương đến với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục, việc làm, nguồn vốn, mạng lưới an sinh xã hội
Trang 8 Công bằng của từng cá nhân, giai cấp và nhóm người chưa phải là công bằng xã hội thực sự, công bằng xã hội còn phải có tính xã hội, tức là công bằng chung, phổ biến của toàn xã hội, đó là điều kiện, môi trường để tính giai cấp của khái niệm này tồn tại và phát triển Xã hội càng phát triển, nhu cầu và năng lực thực thi công bằng xã hội của người lao động càng cao, càng đòi hỏi sự thống nhất trong thuộc tính giai cấp và thuộc tính xã hội của công bằng xã hội
Công bằng xã hội là một trong năm mục tiêu quan trọng nhất mà Đảng ta
đã xác định trong Đại hội XI (2011) : “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” hướng tới xây dựng chủ nghĩa xã hội
Công bằng xã hội thường được xét ở nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, giáo dục, pháp quyền, y tế, an sinh xã hội,…
Công bằng xã hội là một động lực phát triển kinh tế - xã hội, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội bởi những nguyên nhân sau:
Một là, công bằng xã hội là yếu tố có tác động trực tiếp đến lợi ích của chủ thể hoạt động, do vậy nó kích thích tính năng động sáng tạo của mọi thành viên trong
xã hội huy động các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực trong và ngoài nước vào việc phát triển kinh tế
Hai là, có công bằng xã hội, người lao động mới phát huy hết nhiệt tình và khả năng lao đông, không ngừng nâng cao năng suất lao động để tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm có chất lượng
Ba là, có công bằng xã hội, các nhà kinh doanh mới chịu bỏ vốn, chấp nhận rủi
ro để đầu tư cho sản xuất
Bốn là, có công bằng xã hội con người sẽ được hưởng các nhu cầu về an sinh
xã hội một cách phù hợp
Năm là, có công bằng xã hội sẽ thực hiện được chế độ giáo dục phổ thông miễn phí và tạo điều kiện cơ sở vật chất cho học tập, không có sự phân biệt giới tính, dân tộc, đẳng cấp trong việc hưởng thụ nền giáo dục mới - giáo dục xã hội chủ nghĩa, đảm bảo được nội dung và phương pháp giáo dục phù hợp cho từng đối tượng, từng lứa tuổi Như vậy, con người sẽ được hưởng mức giáo dục ngang nhau có đầy đủ điều kiện để cùng hoàn thiện và phát triển năng lực kỹ năng như nhau
Theo đó, công bằng xã hội là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo tăng trưởng kinh tế một cách lâu dài theo hướng tiến bộ xã hội, phát triển xã hội văn minh, ấm lo, hạnh phúc
Trang 9Phần 2: VẬN DỤNG GIẢI QUYẾT THỰC TIỄN: CÔNG BẰNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM – NHỮNG MÂU THUẪN CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP
I LÝ LUẬN CHUNG
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nhận thức sâu sắc rằng, ở Việt Nam, độc lập dân tộc là điều kiện đầu tiên để thực hiện công bằng xã hội và chủ nghĩa xã hội là cái nôi quan trọng để thực hiện các mục tiêu công bằng
xã hội toàn diện
Công bằng xã hội được hiểu là sự ngang nhau về phương diện liên quan đến mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ Đảm bảo công bằng xã hội có nghĩa là đảm bảo cho tất cả các nhóm người trong xã hội được hưởng một mức phúc lợi và dịch vụ tối thiểu phù hợp với trình độ phát triển và khả năng đáp ứng chung của xã hội và khác với “ sự cào bằng bình quân”
Vấn đề công bằng trong chủ nghĩa xã hội diễn ra ở rất nhiều nội dung khác nhau, dưới đây tôi xin trình bày một trong các nội dung cụ thể là: “ Công bằng trong giáo dục đại học ở Việt Nam - những mâu thuẫn cơ bản và giải pháp”
Tư tưởng về công bằng giáo dục đã được Hồ Chí Minh khẳng định: “ Tôi chỉ
có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”
Tư tưởng ấy tiếp tục được quán triệt trong các văn kiện Đảng qua các đại hội đặc biệt là Hội nghị TW 4 ( khóa VII) đã xác định “Thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác đinh học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công nhân” là mục tiêu phấn đấu
Công bằng xã hội trong giáo dục đại học: Giáo dục là một trong những điều kiện đảm bảo công bằng xã hội Giáo dục đại học là giai đoạn giáo dục bậc cao thường diễn ra ở các trường đại học, trường cao đẳng, học viện Thực hiện công bằng giáo dục là tạo sự công bằng trong điều kiện trên chuẩn tối thiểu đối với mọi người
Công bằng trong giáo dục đại học: Đây là mục tiêu cần được quan tâm và chú trọng Trong nền kinh tế thị trưởng định hướng xã hội chủ nghĩa, khi Việt Nam gia nhập WTO thì vấn đề giáo dục đại học phải được đặc biệt quan tâm Giáo dục đại học là một trong những yếu tố thúc đẩy dân trí đạt tới một trình độ mới giúp nước
ta bắt kịp với sự phát triển của thế giới
Trang 10II THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN CỦA HẠN CHẾ, NHỮNG MÂU THUẪN CƠ BẢN
1) Thực trạng
a Thành tựu đạt được
Tỷ lệ vào đại học của Viêt Nam đang tăng, giáo dục đại học ngày càng được nhân dân quan tâm:
Theo thống kê mới nhất của Bộ GD-ĐT, năm 2019 có 2.575.305 lượt nguyện vọng, tăng 7,5 % so với năm ngoái
Phương thức vào đại học ngày càng đa dạng: xét thẳng, xét học bạ, xét điểm thi THPTQG
Bộ GD&ĐT thống kê 2019 có 653.000 thí sinh đăng ký lấy kết quả thi để xét tuyển đại học; chỉ tiêu theo phương thức khác ( như theo năng lực, học bạ) là 141.968 thí sinh
Hệ thống giáo dục ngày càng phát triển:
Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, tính đến ngày 30/6/2019 cả nước đã có 121 cơ
sở giáo dục đại học và 3 trường cao đẳng sư phạm đạt tiêu chuẩn kiểm định, chiếm 51% tổng số các trường đại học học viện trong cả nước
Về kiểm định chương trình đào tạo, có 16 chương trình đào tạo của 7 trường đại học được đánh giá theo tiêu chuẩn trong nước và 128 chương trình của 24 trường đại học học viện được đánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế
QS World University Rankings công bố ngày 7/6/2018, lần đầu tiên Việt Nam
có 2 đại diện nằm trong top 1.000 trường đại học tốt nhất thế giới là ĐHQG TP HCM và ĐHQGHN
Các chương trình đào tạo kỹ sư chất lượng cao, chương trình đào tạo kỹ
sư, cử nhân tài năng, chương trình tiên tiến được nhiều trường đại học quan tâm phát triển
Bộ GD&ĐT cho biết đến nay đã có gần 550 chương trình hợp tác và liên kết đào tạo đang hoạt động giữa 85 cơ sở giáo dục Việt Nam với 258 cơ sở giáo đại học nước ngoài thuộc 33 quốc gia và vùng lãnh thổ
Chính sách giáo dục ngày càng được nhà nước quan tâm phát triển:
Hiện cả nước, có trên 13 nghìn người dân tộc thiểu số có trình độ trên đại học, đại học, cao đẳng; hơn 78 nghìn người có trình độ trung học chuyên nghiệp
Hệ thống các trường dự bị đại học và các khoa dự bị đại học dân tộc đang được phát triển cả về quy mô đào tạo và cơ sở vật chất