Ở Việt Nam, người lao động ở các công ty dầu khí thường nhận được mức lương cao hơn so với người lao động ở các ngành khác do tính chất đặc thù của công việc là thường làm việc ở các dàn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN
ĐỀ TÀI
LÝ LUẬN CỦA CÁC MÁC VỀ TIỀN CÔNG VÀ VẬN DỤNG VÀO VẤN
ĐỀ TIỀN LƯƠNG CỦA CÁC CÔNG TY DẦU KHÍ Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY LỚP: L07 NHÓM: H, HK211
GVHD: THS NGUYỄN TRUNG HIẾU
SINH VIÊN THỰC HIỆN
BTL
ĐIỂM BTL
GHI CHÚ
Trang 2TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021 BÁO CÁO KẾT QUẢ LÀM VIỆC NHÓM
STT Mã số SV Họ và tên Nhiệm vụ được
phân công
% Điểm BTL
Điểm BTL Ký tên
Trang 31
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Kết cấu đề tài 4
Chương 1: TIỀN CÔNG TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN 5
1.1.Hàng hóa sức lao động 5
1.2.Bản chất của tiền công 8
1.2.1 Định nghĩa tiền công 8
1.2.2 Định nghĩa tiền lương 8
1.2.3 Phân biệt tiền công và tiền lương 8
1.3 Các hình thức của tiền công 11
1.4 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế 12
1.5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tiền công 14
Chương 2: VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG CỦA CÁC CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT NAM HIỆN NAY 16
2.1 Các khái niệm 16
2.1.1 Quỹ tiền lương 16
2.1.2 Một số quỹ bảo vệ quyền lợi 18
2.2 Thực trạng và nguyên nhân phát triển của vấn đề tiền lương ở các công ty dầu khí Việt Nam hiện nay 20
2.2.1 Khái quát về các công ty dầu khí Việt Nam 20
2.2.2 Những thành tựu đạt được và nguyên nhân của những thành tựu đó 20
Trang 42
2.2.3 Những hạn chế tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó 29
2.3 Phương hướng và giải pháp nhằm cải thiện tiền lương ở các công ty dầu
khí Việt Nam 31
2.3.1 Phương hướng, kế hoạch sản xuất kinh doanh trong năm 2021 31
2.3.2 Giải pháp nhằm cải thiện tiền lương ở các công ty dầu khí Việt Nam 32 KẾT LUẬN 34 TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
5 NLSH: năng lượng sinh học
6 KDXD: kinh doanh xăng dầu
7 CHXD: cửa hàng xăng dầu
8 CBNV: cán bộ nhân viên
9 VN: Việt Nam
Trang 53
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, khi chúng ta sống trong một xã hội hiện đại, văn minh việc lao động, sản xuất hàng hóa trở thành điều tất yếu Khi chủ nghĩa tư bản phát triển, việc người lao động làm thuê cho các nhà tư bản dần trở nên phổ biến Theo C.Mác, sức lao động
mà người lao động làm thuê bỏ ra là một loại hàng hóa đặc biệt vì giá trị hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó còn bao hàm cả yếu tố tinh thần (những loại hàng hóa khác không có) và lịch sử và cũng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng Ông cho rằng: “Nếu lao động là hàng hóa, thì hàng hóa đó cũng phải
có giá trị Nhưng lao động là thực thể và là thước đo nội tại của giá trị, bản thân lao động là không có giá trị Vì thế lao động không phải là hàng hóa, cái mà công nhân bán cho nhà tư bản chính là sức lao động Do đó tiền công mà nhà tư bản trả cho công nhân là giá cả của sức lao động.” Từ đó, C.Mác đã khẳng định: “Bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, hay giá cả của sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá cả của lao động
Và tiền công phần nào che đậy đi bản chất bóc lột của nhà tư bản”
Dựa trên những lý luận của C.Mác, đất nước ta đã xây dựng một hệ thống tiền công đa dạng nhưng vẫn còn nhiều bất cập, chưa chặt chẽ và hợp lí trong nhiều lĩnh vực, trong đó có ngành dầu khí Ở Việt Nam, người lao động ở các công ty dầu khí thường nhận được mức lương cao hơn so với người lao động ở các ngành khác do tính chất đặc thù của công việc là thường làm việc ở các dàn khoan ngoài biển khơi, ít có thời gian chăm sóc gia đình.Từ đó, chúng ta có thể nhận thấy sự cấp thiết của việc chi trả tiền công cho người lao động xứng đáng với công sức họ bỏ ra một cách công bằng, bình đẳng Tuy nhiên, dưới tình hình giá dầu giảm do đại dịch Covid 19 thì các công ty dầu khí đang đối mặt với những khó khăn, thử thách lớn, nên vấn đề tiền lương của người lao động là cần được xem xét và đánh giá Số lượng người lao động phải nghĩ việc tăng cao, các công ty chỉ giữ lại những người có trình độ lao động cao
để đảm bảo không bị đứt gãy chuỗi cung ứng và vì thế lương của họ tăng cao hơn bình thường khá nhiều Trước tình hình tiền người lao động tăng cao như vậy, thì họ cũng
Trang 64
phải đối mặt với vấn đề tiền thuế tăng cao có thể đến 35% Trong khi những người lao động thất nghiệp nhưng họ vẫn phải chi trả chi tiêu hằng ngày Đây là một vấn đề khá nan giải hiện nay Vì vậy, nhóm L07H mới quyết định chọn đề tài này
2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: lý luận của C.Mác về tiền lương
Phạm vi nghiên cứu: Tiền công ở các công ty dầu khí của Việt Nam từ những năm 2003 đến nay
3 Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, hiểu được vai trò và bản chất của tiền công, tiền lương, làm rõ tiền
công, tiền lương là gì, vấn đề về tiền lương của công nhân còn tương đối thấp
Thứ hai, làm rõ được ý nghĩa của việc nghiên cứu tiền công
Thứ ba, làm rõ vấn đề tiền lương của người lao động ở các công ty dầu khí ở
Việt Nam hiện nay, những khó khăn, thử thách gì trong mùa dịch covid 19
Thứ tư, đưa ra giải pháp khắc phục, định hướng phát triển cho các công ty dầu
khí Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp biện chứng duy vật
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
Phương pháp thống kê, so sánh
Phương pháp phân tích, tổng hợp, khảo sát và tổng kết thực tiễn
5 Kết cấu đề tài
Bản báo cáo đề tài sẽ được chia ra làm 2 chương chính:
Chương 1: Tiền công trong chủ nghĩa tư bản
Chương 2: Vấn đề tiền lương của các công ty dầu khí Việt Nam hiện nay
Trang 75
Chương 1: TIỀN CÔNG TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
1.1 Hàng hóa sức lao động
Để hiểu thế nào là hàng hóa sức lao động, chúng ta sẽ đi phân tích sức lao động
là gì và những điều kiện nào khiến sức lao động trở thành một loại hàng hóa Cụ thể như sau:
Sức lao động là khả năng lao động, sản xuất bao gồm cả thể lực và trí lực Nó đóng góp một phần không nhỏ, thậm chí là đóng vai trò quan trọng trong quá trình vận hành, sản xuất ra các loại sản phẩm, hàng hóa khác
Trong cơ chế thị trường hiện nay, tiền lương và giá cả đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng XHCN Tuy nhiên, các vấn đề xung quanh lương và giá cả thị trường ngày càng phức tạp, lương và giá có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau Mỗi khi lương tăng thì giá lại biến động khó lường, lương và giá như có một cuộc
“rượt đuổi” nhưng lương không thể biến động theo giá Cho nên Đảng và nhà nước ta cần có những chính sách mạnh mẽ để hoàn thiện tiền lương Qua bài phân tích sau đây tổng đài tư vấn Luật Quang Huy chúng tôi xin giải quyết về vấn đề: “Lí luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác và sự vận dụng lý luận này trong cải cách chính sách tiền công (tiền lương) hiện nay”
Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
Khái niệm sức lao động:
Theo C.Mác, “Sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong than thể một con người, trong nhân cách sinh động của một con người, thể lực và trí lực mà con ngời phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”.Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng là điêu kiện cơ bản của sản xuất nhưng không phải trong bất kì điều kiện nào sức lao động cũng là hàng hóa Thực tiễn lịch sử cho thấy, sức lao động chính của người nô lệ không phải là hàng hóa, vì bản than người nô lệ thuộc sở hữu của chủ nô,anh ta không có quyền bán sức lao động của mình Người thợ thủ công tự
do tuy được tự ý sử dụng sức lao động của mình, nhưng sức lao động của anh ta cũng
Trang 86
không phải hàng hóa, vì anh ta có tư liệu sản xuất để làm ra sản phẩm nuôi sống mình chứ chưa buộc phải bán sức lao dộng để sống
Sức lao động chỉ có thể trở thành hành hóa trong những điều kiện nhất định sau đây:
Thứ nhất: người lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao
động của bản thân mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa
Thứ hai: người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất, để
tồn tại buộc anh ta phải bán sức lao động của mình để sống
Sự tồn tại đồng thời của hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động trở thành hàng hóa Sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định để tiền biến thành tư bản tuy nhiên để tiền biến thành tư bản thì lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ phải phát triển đến một giai đoạn nhất định
Trong các hình thái xã hội trước chủ nghĩa tư bản chỉ có sản phẩm của lao động mới là hàng hóa Chỉ đến khi sản xuất hàng hóa phát triển đến một mức độ nhất địng nào đó, các hình thái sản xuất cũ (sản xuất nhỏ, phường hội, phong kiến) bị phá vỡ, thì mới xuất hiện những điều kiện để cho sức lao động trở thành hàng hóa, chính sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động đã làm cho sản xuất hàng hóa trở nên có tính chất phổ biến và đã báo hiệu ch sự ra đời của một thời đại mới trong lịch sử xã hội – thời đại của chủ nghĩa tư bản
Cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng
Giá trị hàng hoá sức lao động:
Giống như các hàng hoá khác, giá trị hàng hoá sức co động cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định
Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của con người Như vậy thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt nuôi sống bản thân người công nhân và gia đình anh ta, hay nói cách khác, giá trị hàng hoá sức lao động được đo gián tiếp rằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động
Trang 97
Mặc dù bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử nhưng đối với mỗi một nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định, thì quy mô những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định, do đó có thể xác định được lượng giá trị hàng hoá sức lao động do những bộ phận sau đây hợp thành:
Một là: giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái
sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân
Hai là: phí tổn đào tạo người công nhân
Ba là: giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái
và gia đình người công nhân
Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng
sức lao động, tức là quá trình lao động của người công nhân
Quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hoá sức động khác với quá trình tiêu dùng hàng hoá thông thường ở chỗ
Đối với các hàng hóa thông thường, sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến mất theo thời gian
Đối với hàng hoá sức lao động, quá trình tiêu dùng chính là quá trình sản xuất
ra một loại hàng hoá nào đó, đồng thời là quá trình tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá của bản thân hàng hoá sức lao động Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà
tư bản sẽ chiếm đoạt Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động có chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là nó có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Đây chính là chìa khoá để giải thích mâu thuẫn của công thức chung của tư bản Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển hóa thành tư bản
Không giống với những loại hàng hoá thông thường, hàng hoá sức lao động là loại hàng hoá đặc biệt Vì nó được hình thành bởi con người với những nhu cầu phức tạp và đa dạng, về cả vật chất lẫn tinh thần theo quá trình phát triển của xã hội
Theo đó, công nhân không chỉ có nhu cầu đáp ứng về vật chất mà còn cần đáp ứng những nhu cầu về tinh thần như: giải trí, được khuyến khích, được tôn trọng,…Và
Trang 10Bên cạnh đó, hàng hoá sức lao động là một loại hàng hoá tạo ra giá trị thặng dư cho xã hội Điều này thể hiện ở chỗ người lao động luôn tạo ra những hàng hoá khác
có giá trị lớn hơn giá trị của sức lao động để đáp ứng nhu cầu và mục tiêu của người sử dụng lao động
1.2 Bản chất của tiền công
1.2.1 Định nghĩa tiền công
Tiền công trong ngành công nghiệp giải trí gọi là cát-xê (từ tiếng Pháp là cachet) là khoản tiền người lao động được hưởng sau khi đã đóng góp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ (người sử dụng lao động) và thường được thuê với hợp đồng làm việc (giao kèo) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được đóng gói vào một công việc hay chức năng
1.2.2 Định nghĩa tiền lương
Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập mà có thể biểu hiện bằng tiền và được
ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm
1.2.3 Phân biệt tiền công và tiền lương
Ở nước ta, nhiều người hay nhầm lẫn giữa hai khái niệm tiền công và tiền lương
Giống nhau: Tiền công và tiền lương trên cơ bản có thể hiểu là số tiền được chi
ra tương xứng với mức đóng góp của người lao động
Khác nhau:
Trang 119
Một là: về mặt ý nghĩa, tiền công có thể hiểu là lượng tiền mà người nhận được
trên cơ sở thời gian và sức lực bỏ ra dựa trên để hoàn thành một công việc nhất định Còn tiền lương là số tiền cố định được trả cho nhân viên theo định kì để đánh giá hiệu suất và năng suất của họ vào cuối tháng
Hai là: tiền công được sử dụng trả với đối tượng lao động có trình độ bán kỹ
năng hoặc không có kỹ năng và tiền lương ngược lại được trả cho nhân viên lành nghề,
có trình độ cao Người được nhận tiền công được gọi là nhân công còn người được nhận tiền lương sẽ được gọi là nhiên viên
Ba là: tiền công không gắn với số giờ làm việc của người lao động, trong khi
tiền lương thường được trả theo số giờ lao động (lương thời gian) hay sản phẩm (lương sản phẩm)
Bốn là: chu kỳ thanh toán tiền công thường được tính mỗi tháng hoặc hai tuần
một lần, trong khi tiền lương được trả theo tuần
Năm là: tiền công không được thỏa thuận trước mà phụ thuộc vào kết quả lao
động Ngược lại, tiền lương được thỏa thuận trước giữa người sử dụng lao động và người lao động
Sáu là: nhân công sẽ được trả them tiền cho những giờ làm còn nhiên viên sẽ
không được them một chi phí nào
Để có thể hiểu cụ thể, chúng ta hãy đánh giá cụ thể về bản chất của tiền công:
a Có thể hiểu người thuê bỏ tiền ra để đổi sức lao động của công nhân chứ không phải
là lao động Tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động, mà chỉ là giá trị hay giá cả của hàng hóa sức lao động
b Tính đầy đủ của tiền công: Mức tiền công tối thiểu được trả (có thể là một mức tiền công cố định hoặc một tỷ lệ cố định) đủ để đáp ứng nhu cầu của người lao động và gia đình họ có cân nhắc đến, mức tối đa và phù hợp nhất có thể, trong mối liên hệ với thông lệ và điều kiện tại quốc gia đó:
- Một mức tiền lương chung cấp quốc gia, chi phí sinh hoạt, phúc lợi an sinh xã hội và các tiêu chuẩn sinh hoạt tương đối của các nhóm xã hội khác
Trang 1210
- Các yếu tố kinh tế, bao gồm yêu cầu phát triển kinh tế, mức năng suất và mong ước đạt được và duy trì một mức độ tuyển dụng cao
- Thay đối về chi phí sinh hoạt và các điều kiện kinh tế khác
c Biểu hiện bề ngoài của đời sống xã hội tư bản, công nhân làm việc cho nhà tư bản một thời gian nhất định, sản xuất ra một lượng hàng hóa hay hoàn thành một số công việc nào đó thì nhà tư bản trả cho công nhân một số tiền nhất định đó là tiền công Biểu hiện bề ngoài của đời sống xã hội tư bản, công nhân làm việc cho nhà tư bản một thời gian nhất định, sản xuất ra một lượng hàng hóa hay hoàn thành một số công việc nào đó thì nhà tư bản trả cho công nhân một số tiền nhất định đó là tiền công Hiện tựơng đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả của lao động Sự thật thì tiền công không phải là giá trị hay giá cả lao động, vì lao động không phải là hàng hóa
Sở dĩ như vậy là vì:
- Nếu lao động là hàng hóa thì nó phải có trước, phải được vật hóa trong một hình thức
cụ thể nào đó Tiền đề để cho lao động vật hóa được là phải có tư liệu sản xuất Nhưng nếu người lao động có tư liệu sản xuất, thì họ sẽ bán hàng hóa do mình sản xuất ra, chứ không bán "lao động"
- Việc thừa nhận lao động là hàng hóa dẫn tới một trong hai mâu thuẫn về lý luận sau đây:
+ Thứ nhất: nếu lao động là hàng hóa và nó được trao đổi ngang giá, thì nhà tư
bản không thu được lợi nhuận (giá trị thặng dư); điều này phủ nhận sự tồn tại thực tế của quy luật giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản
+ Thứ hai: còn nếu "hàng hóa lao động" được trao đổi không ngang giá để có
giá trị thặng dư cho nhà tư bản, thì phải phủ nhận quy luật giá trị
- Nếu lao động là hàng hóa, thì hàng hóa đó cũng phải có giá trị Nhưng lao động là thực thể và là thước đo nội tại của giá trị, bản thân lao động thì không có giá trị Vì thế, lao động không phải là hàng hóa, cái mà công nhân bán cho nhà tư bản chính là sức lao động Do đó, tiền công mà nhà tư bản trả cho công nhân là giá cả của sức lao động
Trang 1311
=> Vậy, bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, hay giá cả của sức lao động nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá cả của lao động
d Hình thức biểu hiện đó đã gây ra sự nhầm lẫn Điều đó là do những thực tế sau đây:
Thứ nhất: đặc điểm của hàng hóa sức lao động là không bao giờ tách khỏi
người bán, nó chỉ nhận được giá cả khi đã cung cấp giá trị sử dụng cho người mua, tức
là lao động cho nhà tư bản, do đó bề ngoài chỉ thấy nhà tư bản trả giá trị cho lao động
Thứ hai: đối với công nhân, toàn bộ lao động trong cả ngày là phương tiện để
có tiền sinh sống, do đó bản thân công nhân cũng tưởng rằng mình bán lao động Còn đối với nhà tư bản bỏ tiền ra để có lao động, nên cũng nghĩ rằng cái mà họ mua là lao động
Thứ ba: lượng của tiền công phụ thuộc vào thời gian lao động hoặc số lượng
sản phẩm sản xuất ra, điều đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả lao động
e Tiền công đã che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư, thành lao động được trả công và lao động không được trả công, do đó tiền công che đậy mất bản chất bóc lột của chủ nghĩa
tư bản
1.3 Các hình thức của tiền công
Cứ sau khoảng thời gian lao động nhất định, người lao động làm thuê sẽ được trả một khoản tiền công nhất định Điều đó thậm chí làm cho con người lao động cũng nhầm lẫn hiểu là người mua sức lao động trả công cho mình Trái lại, tiền công chính
là do hao phí sức lao động của người lao động làm thuê tự trả công cho mình thông qua sổ sách của người mua sức lao động mà thôi Nhìn chung, tiền công sẽ có hai hình thức cơ bản sau đây:
- Tiền công tính theo thời gian:
+ Khái niệm: Là tiền công mà số số lượng của nó nhiều hay ít phụ thuộc vào thời gian mà người lao động đã lao động cho nhà tư bản
Trang 1412
+ Tiền công tính theo thời gian còn có thể được chia thành nhiều loại như: tiền công tính theo ngày (tiền công ngày), tiền công tính theo tuần (tiền công tuần) và tiền công tính theo tháng (tiền công tháng) Tiền công ngày hay tiền công tuần chưa thể hiện rõ được mức tiền công đó cao hay là thấp, nó còn tuỳ theo lượng lao động dài hay ngắn Do đó, muốn đánh giá chính xác mức tiền công cần phải căn cứ vào độ dài của ngày lao động và cường độ lao động Giá cả của một giờ lao động là thước đo chính xác mức tiền công tính theo thời gian
- Tiền công tính theo sản phẩm:
+ Khái niệm: Là tiền công mà số số lượng của nó nhiều hay ít phụ thuộc vào số lượng sản phẩm mà người lao động đã sản xuất cho nhà tư bản
+ Tiền công tính theo thời gian là cơ sở để định giá tiền công tính theo sản phẩm Với mỗi sản phẩm khác nhau sẽ được trả với tiền công khác nhau Đơn giá tiền công được xác định bằng thương số giữa tiền công trung bình của công nhân trong một ngày chia cho số lượng sản phẩm trung bình họ làm ra trong một ngày Hay nói cách khác, đơn giá tiền công là tiền công trả cho người lao động khi họ sản xuất ra một sản phẩm
+ Tiền công tính theo sản phẩm đã làm phần nào cho quan hệ bốc lột của chủ nghĩa tư bản bị mất đi, người lao động càng làm được nhiều sản phẩm thì càng nhận được nhiều tiền Bên cạnh đó, cách tính tiền công theo sản phẩm ngoài việc giúp cho nhà tư bản dễ dàng hơn trong việc quản lí, giám sát được quá trình lao động tạo ra sản phẩm còn góp phần kích thích người lao động lao động tích cực, nâng cao năng suất lao động tạo ra nhiều sản phẩm hơn để nhận được tiền công cao hơn
1.4 Tiền công danh nghĩa và tiền công thực tế
Tiền công danh nghĩa là số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động của mình cho nhà tư bản
Cũng có thể hiểu tiền công danh nghĩa là khoản tiền mà người lao động thỏa thuận, ký kết hợp đồng với chủ doanh nghiệp được pháp luật thừa nhận Không phụ thuộc vào các yếu tố khác thì đó là khoản tiền lương cố định sau khi thực hiện một chu
kì lao động Trên danh nghĩa thì khoản tiền này sẽ không thay đổi Nói cách khác, tiền
Trang 1513
lương (tiền công) danh nghĩa là toàn bộ số tiền theo thỏa thuận mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động phù hợp với kết quả lao động mà người đó đã cống hiến
Bởi vì tiền công danh nghĩa là khoản tiền mà người lao động nhận được khi tham gia vào quan hệ lao động nhưng chưa tính đến các khoản thuế, bảo hiểm và các khoản đóng góp khác theo quy định mà người lao động có nghĩa vụ thực hiện, vì thế,
nó chưa thể phản ánh được mức sống của người lao động
Để xem xét mức sống của người lao động người ta căn cứ vào lượng hàng hóa
và dịch vụ mà người lao động mua được (hay trao đổi được) từ tiền lương danh nghĩa của mình sau khi đã trừ đi các khoản thuế, đóng bảo hiểm và các khoản phí khác theo quy định (phí công đoàn ) mà không căn cứ vào số lượng tiền người lao động sở hữu Bởi lẽ, lượng hàng hóa và dịch vụ người lao động tiêu dùng (hoặc có thể mua được) còn phụ thuộc vào mức giá trên thị trường hàng hóa Sự phản ánh tiêu dùng đó gọi là tiền lương thực tế của người lao động
Tiền công thực tế là tiền công được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa tư liệu tiêu dùng và dịch vụ mà người công nhân mua được bằng tiền công danh nghĩa của mình
Có thể nói “Tiền là giá cả của sức lao động”, nên sự vận động của nó gắn liền với sự biến đổi của giá trị sức lao động Lượng giá trị sức lao động chịu ảnh hưởng của các nhân tố tác động ngược chiều nhau
• Nhân tố tác động làm tăng giá trị sức lao động như: sự nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động, sự tăng cường độ lao động và sự tăng lên của nhu cầu cùng với sự phát triển của xã hội
• Nhân tố tác động làm giảm giá trị sức lao động đó là sự tăng năng suất lao động làm cho giá cả tư liệu tiêu dùng bé đi
Sự tác động qua lại của các nhân tố đó dẫn tới quá trình phức tạp của sự biến đổi giá trị sức lao động, do đó dẫn tới sự biến đổi phức tạp của tiền công thực tế
C.Mác đã vạch ra rằng xu hướng chung của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là nâng cao mức tiền công trung bình mà là hạ thấp mức tiền công ấy Bởi lẽ
Trang 16hạ thấp
Nhưng sự hạ thấp của tiền công thực tế chỉ diễn ra như một xu hướng, vì có những nhân tố chống lại sự hạ thấp tiền công Một mặt, đó là cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi tăng tiền công Mặt khác, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản ngày nay, do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ nên nhu cầu về sức lao động có chất lượng cao ngày càng tăng đã buộc giai cấp tư sản phải cải tiến tổ chức lao động cũng như kích thích người lao động bằng lợi ích vật chất Đó cũng là một nhân tố cản trở xu hướng hạ thấp tiền công
Do tiền công danh nghĩa là giá cả sức lao động, nên nó có thể tăng lên hay giảm xuống tuỳ theo sự biến động của quan hệ cung – cầu về hàng hoá sức lao động trên thị trường Trong một thời gian nào đó, nếu tiền công danh nghĩa không thay đổi, nhưng giá cả tư liệu tiêu dùng và dịch vụ tăng lên hoặc giảm xuống, thì tiền công thực tế sẽ giảm xuống hay tăng lên tuỳ vào từng trường hợp
1.5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tiền công:
Toàn bộ tiền lương của doanh nghiệp trả cho nhân viên do công việc làm của
họ, là động lực chủ yếu kích thích nhân viên làm việc tốt Tiền lương là thu nhập chủ yếu giúp cho nhân viên làm thuê duy trì và nâng cao mức sống cho họ và gia đình họ
và họ có thể hoà đồng với trình độ văn minh trong xã hội ở một mức độ nhất định, tiền lương là một bằng chứng thể hiện giá trị, địa vị uy tín của một người lao động đối với gia đình, doanh nghiệp và xã hội
Tiền lương còn thể hiện chính sách đãi ngộ của doanh nghiệp đối với người lao động Nhân viên luôn tự hào đối với mức lương của mình; khi nhân viên cảm thấy việc trả lương không xứng đáng với việc làm của họ, họ sẽ không hăng hái, tích cực làm việc Hệ thống tiền lương giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần đối với nhân viên
Trang 1715
Tiền lương lúc này được hiểu là số tiền mà chủ sử dụng lao động trả cho người lao động tương ứng với số lượng và chất lượng lao động tiêu hao trong quá trình làm việc
Hiểu theo nghĩa rộng, tiền lương không chỉ bao hàm các yếu tố tài chính mà còn có cả các yếu tố phi tài chính
Phần tài chính bao gồm tài chính trực tiếp và gián tiếp:
+ Tài chính trực tiếp bao gồm tiền lương, tiền thưởng, tiền hoa hồng
+ Tài chính gián tiếp bao gồm bảo hiểm, chế độ phúc lợi…
Phần phi tài chính chứa đựng các lợi ích mang lại cho người lao động từ bản thân công việc và môi trường làm việc như sức hấp dẫn của công việc, sự vui vẻ, mức
độ tích luỹ kiến thức, tự học hỏi, sự ghi nhận của xã hội
Trả công lao động là một hoạt động quản lý nhân sự có ý nghĩa rất lớn trong việc giúp cho tổ chức đạt được hiệu suất cao cũng như tác động một cách tích cực tới đạo đức lao động của mọi người lao động Tuy nhiên, tác dụng của trả công còn tuỳ thuộc vào khả năng chi trả và ý muốn trả công của công ty cho người lao động trong tương quan với sự đóng góp của họ Một cơ cấu tiền công hợp lý sẽ là cơ sở để xác định lượng tiền công công bằng nhất cho từng ngời lao động cũng nh là cơ sở để thuyết phục họ về lượng tiền công đó
Các tổ chức cần quản trị có hiệu quả chương trình tiền công, tiền lương của mình vì kết quả của chương trình đó có ý nghĩa đặc biệt lớn Tiền công không chỉ ảnh hưởng tới người lao động mà còn tới cả tổ chức và xã hội:
- Đối với người lao động: người lao động quan tâm đến tiền công vì nhiều lý do:
Tiền công, tiền lương là phần cơ bản nhất trong thu nhập của người lao động, giúp cho họ và gia đình trang trải các chi tiêu, sinh hoạt, dịch vụ cần thiết Tiền công, tiền lương kiếm được ảnh hởng đến địa vị của ngời lao động trong gia đình, địa vị của
họ trong tơng quan với các bạn đồng nghiệp cũng như giá trị tương đối của họ đối với
tổ chức và đối với xã hội
Trang 1816
Khả năng kiếm được tiền công cao hơn sẽ tạo ra động lực thúc đẩy người lao động ra sức học tập để nâng cao giá trị của họ đối với tổ chức thông qua sự nâng cao trình độ và sự đóng góp cho tổ chức
- Đối với tổ chức và doanh nghiệp:
Tiền công là một phần quan trọng của chi phí sản xuất Tăng tiền công sẽ ảnh hưởng tới chi phí, giá cả và khả năng cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường
Tiền công, tiền lương là công cụ để duy trì, gìn giữ và thu hút những nưgời lao động giỏi, có khả năng phù hợp với công việc của tổ chức
Tiền công, tiền lương cùng với các loại thù lao khác là công cụ để quản lý chiến lược nguồn nhân lực và có ảnh hưởng đến các chức năng khác của quản lý nguồn nhân lực
- Đối với nhà nước và xã hội:
Tiền công có thể có ảnh hưởng quan trọng tới các nhóm xã hội và các tổ chức khác nhau trong xã hội Tiền công cao hơn giúp cho người lao động có sức mua cao hơn và điều đó làm tăng sự thịnh vượng của cộng đồng nhưng mặt khác có thể dẫn tới tăng giá cả và làm giảm mức sống của những người có thu nhập không đuổi kịp mức tăng của giá cả Giá cả tăng cao lại có thể làm giảm cầu về sản phẩm và dịch vụ và dẫn tới giảm công việc làm
Tiền công đóng góp một phần đáng kể vào thu nhập quốc dân thông qua con đường thuế thu nhập và góp phần làm tăng nguồn thu của chính phủ cũng như giúp cho chính phủ điều tiết được thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội
Chương 2: VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG CỦA CÁC CÔNG TY DẦU KHÍ VIỆT
NAM HIỆN NAY 2.1 Các khái niệm
2.1.1 Quỹ tiền lương
Trang 1917
Trong Nghị định 53/2016/NĐ-CP có nói rất rõ về quỹ tiền lương, có thể chia làm hai đối tượng là người lao động và quản lý công ty chuyên trách
2.1.1.1 Người lao động:
Được xác định dựa vào số lao động kế hoạch và mức tiền lương bình quân kế hoạch
Mức tiền lương bình quân kế hoạch được xác định dựa vào mức tiền lương được đề ra trong hợp đồng lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động, mức tiền này được làm ra dựa theo kết quả sản xuất, kinh doanh của năm trước liền kề
và gắn với chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh kế hoạch của công ty
• Đối với công ty có thu về lợi nhuận thì mức tiền bình quân kế hoạch được tính trên cơ sở theo kết quả sản xuất, kinh doanh của năm trước liền kề gắn với mức tăng hoặc năng suất lao động kế hoạch so với thực hiện năm trước liền kề và đảm bảo mức tăng tiền lương bình quân phải thấp hơn mức tăng năng suất lao động bình quân
• Đối với công ty không thu về lợi nhuận hoặc bị lỗ thì mức tiền lương bình quân kế hoạch được tính bằng mức tiền lương bình quân trong hợp đồng lao động và tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ theo quy định của Bộ luật lao động
Tuỳ theo tình hình thực tế và dựa trên quỹ tiền lương theo kế hoạch thì công ty
sẽ xác định đơn giá tiền lương để điều hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạm ứng tiền lương cho người lao động Mỗi công ty sẽ có một quy chế trả lương và phân phối tiền lương riêng cho người lao động nhưng điểm chung là tiền lương sẽ luôn gắn liền với độ đóng góp và tạo ra hiệu quả trong công việc của người lao động
2.1.1.2 Người quản lý công ty chuyên trách
Được xác định dựa vào số lượng người quản lý công ty chuyên trách và mức lương bình quân kế hoạch
Mức tiền lương bình quân kế hoạch được chia làm hai đối tượng nhỏ: người đại diện vốn nhà nước và không đại diện vốn nhà nước
Là người đại diện vốn nhà nước: được xác định dựa vào mức tiền lương bình quân thực hiện năm trước liền kề gắn với việc bảo toàn và phát triển vốn của doanh