1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những điểm mới cơ bản của Luật NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 so với Luật NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006

18 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 43,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, NLĐ có nhiều cơ hội để di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm tìm kiếm cơ hội việc làm tốt hơ, có mức thu nhập cũng như các chế độ đãi ngộ cao hơn. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, có dân số đông, nguồn lao động dồi dào dẫn đến sự cạnh tranh việc làm trong nước ngày càng nhiều dẫn tới việc dư thùa nguồn lao động, NLĐ không có việc làm dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của kinh tếxã hội. Chính vì vậy, số lượng NLĐ Việt Nam làm việc tại nước ngoài ngày càng tăng cao dẫn đến đòi hỏi pháp luật phải có những quy định kịp thời điều chỉnh nhằm quản lý NLĐ làm việc tại nước ngoài.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, NLĐ có nhiều cơ hội để di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm tìm kiếm cơ hội việc làm tốt hơ, có mức thu nhập cũng như các chế độ đãi ngộ cao hơn Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, có dân số đông, nguồn lao động dồi dào dẫn đến sự cạnh tranh việc làm trong nước ngày càng nhiều dẫn tới việc dư thùa nguồn lao động, NLĐ không có việc làm dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của kinh tế-xã hội Chính vì vậy, số lượng NLĐ Việt Nam làm việc tại nước ngoài ngày càng tăng cao dẫn đến đòi hỏi pháp luật phải có những quy định kịp thời điều chỉnh nhằm quản lý NLĐ làm việc tại nước ngoài

Trang 2

Danh mục từ viết tắt

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Danh mục từ viết tắt 1

NỘI DUNG 1

I Phân tích những điểm mới cơ bản của Luật NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 so với Luật NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 1

1 Bổ sung thêm hình thức người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài 1

2 Người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu bị ngược đãi, quấy rối tình dục 2

3 Doanh nghiệp được cấp Giấy phép hoạt động phải có vốn từ 5 tỷ đồng 3

4 Thêm các hành vi bị cấm khi đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài 4

5 Quy định thêm danh mục các khu vực cấm đi làm việc ở nước ngoài 4

6 Người lao động không phải hoàn trả tiền môi giới 5

7 Người lao động chỉ phải trả một phần phí dịch vụ 5

8 Quy định cụ thể mức trần tiền dịch vụ 6

II Bài tập tình huống 7

1 Các thỏa thuận về thử việc của công ty X đối với A là đúng hay sai? 7

2 Để HĐLĐ được hợp pháp , công ty X và A phải đảm bảo những điều kiện 8

gì khi giao kết hợp đồng? 8

3 Trường hợp phát sinh tranh chấp với công ty X, A có thể gửi đơn đến cơ quan, tổ chức nào để yêu cầu giải quyết? 11

KẾT LUẬN 12

Danh mục tài liệu tham khảo 13

Trang 4

NỘI DUNG

I Phân tích những điểm mới cơ bản của Luật NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 so với Luật NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006

1 Bổ sung thêm hình thức người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

Căn cứ Điều 5, Luật NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020

đã liệt kê các hình thức người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng như sau:

(1) Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài ký với đơn vị sự nghiệp để thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế (quy định mới)

(2) Hợp đồng hoặc thỏa thuận bằng văn bản ký với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, bao gồm:

- Doanh nghiệp Việt Nam hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu công trình, dự án ở nước ngoài;

- Doanh nghiệp Việt Nam đưa người lao động đi đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề ở nước ngoài;

- Tổ chức, cá nhân Việt Nam đầu tư ra nước ngoài

Theo đó, Luật này đã bổ sung thêm hình thức người lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua đơn vị sự nghiệp để thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế Cụ thể, đây là các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ, cơ quan thuộc Chính thủ được giao nhiệm vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.Pháp luật đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài 2006 mới chỉ giới hạn ở bốn hình thức đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong khi trên thực tế hiện nay, các hình thức đi làm việc ở nước ngoài rất

đa dạng Do đó việc mở rộng các hình thức đi làm việc ở nước ngoài để đảm bảo mọi NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đều được pháp luật điều chỉnh Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý số lượng lao động làm

Trang 5

việc tại nước ngoài, bên cạnh đó mở rộng hình thức làm việc tại nước ngoài thông qua đơn vị sự nghiệp để thực hiện điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế còn khuyến khích, tăng cơ hội làm việc, giao lưu và nâng cao cao tay nghề của NLĐ

2 Người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu bị ngược đãi, quấy rối tình dục

Tại điểm đ Khoản 1 Điều 6 Luật NLĐVN đi làm việc tại nước ngoài 2020

nêu rõ: Người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng khi bị người sử dụng lao động ngược đãi, cưỡng bức lao động hoặc có nguy cơ rõ ràng đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe hoặc bị quấy rối tình dục trong thời gian làm việc ở nước ngoài.

Bên cạnh đó, người lao động khi làm việc ở nước ngoài còn được bổ sung thêm các quyền sau:

(1) Được tư vấn, hỗ trợ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ và hưởng các lợi ích trong hợp đồng lao động, hợp đồng đào tạo nghề;

(2) Không phải đóng bảo hiểm xã hội hoặc thuế thu nhập cá nhân hai lần ở Việt Nam và ở nước tiếp nhận lao động hoặc vùng lãnh thổ đến làm việc nếu Việt Nam và nước hoặc vùng lãnh thổ đó đã ký Hiệp định về bảo hiểm xã hội hoặc Hiệp định tránh đánh thuế hai lần;

(3) Được tư vấn và hỗ trợ tạo việc làm, khởi nghiệp sau khi về nước và tiếp cận các dịch vụ tư vấn tâm lý xã hội tự nguyện…

Như vậy, có thể thấy rằng việc đảm bảo đảm quyền lợi cho NLĐ làm việc ở

nước ngoài đã được quan tâm, chú trọng hơn Vấn đề bị ngược đãi, cưỡng bức lao động hoặc có nguy cơ rõ ràng đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe hoặc

bị quấy rối tình dục trong thời gian làm việc luôn là một trong những vấn đề nóng của thị trường lao động Chính vì đứng ở vai trò yếu thế hơn so với

NSDLĐ nên người lao động thường có khả năng bị xâm hại về tính mạng, sức khoẻ và danh dự Đặc biệt, đối với người lao động làm việc ở nước ngoài do

Trang 6

khác biệt văn hoá, ngôn ngữ, chịu sự điều chỉnh của cả pháp luật Việt Nam và nước ngoài nên dễ dàng là đối tượng bị xâm hại Vì vậy, việc bổ sung quy định NLĐ làm việc ở nước ngoài đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu bị ngược đãi, quấy rối tình dục là vô cùng cần thiết Bên cạnh đó, NLĐ còn được bổ sung thêm các quyền được tư vấn, hỗ trợ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ; kông phải đóng bảo hiểm xã hội hoặc thuế thu nhập cá nhân hai lần ở Việt Nam và ở nước tiếp nhận lao động hoặc vùng lãnh thổ đến làm việc nếu Việt Nam và nước hoặc vùng lãnh thổ đó đã ký Hiệp định về bảo hiểm xã hội hoặc Hiệp định tránh đánh thuế hai lần; được tư vấn và hỗ trợ tạo việc làm, khởi nghiệp sau khi về nước và tiếp cận các dịch vụ tư vấn tâm lý xã hội tự nguyện…Điều này minh chứng cho thấy pháp luật Việt Nam đang dần hoàn thiện và là hàng rào pháp lý bảo vệ NLĐ

ở nước ngoài, chính vì chính sách hỗ trợ này đang và sẽ khuyến khích NLĐ yên tâm làm việc tại nước ngoài

3 Doanh nghiệp được cấp Giấy phép hoạt động phải có vốn từ 5 tỷ đồng

Điều kiện để được cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã được Luật mới điều chỉnh tại Điều 10 Theo đó, doanh nghiệp cần đáp ứng thêm các điều kiện như:

(1) Có vốn điều lệ từ 05 tỷ đồng trở lên, có chủ sở hữu, tất cả thành viên, cổ

đông là nhà đầu tư trong nước; (2)Người đại diện theo pháp luật có ít nhất

05 năm kinh nghiệm (quy định hiện hành là 03 năm) trong lĩnh vực đưa

người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng hoặc dịch vụ việc làm;(3)Có đủ số lượng nhân viên nghiệp vụ thực hiện các nội dung hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; (4)Có cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu giáo dục định hướng cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; (5)Có trang thông tin điện tử…

Hợp đồng lao động do người lao động trực tiếp giao kết với người sử dụng lao động ở nước ngoài Quy định bắt buộc tăng vốn của doanh nghiệp được cấp giấy phép lao động nhằm tăng độ bền vững của doanh nghiệp, thiết lập sự tin tưởng

Trang 7

và uy tín đối với đối tác và người lao động Bên cạnh đó, việc này còn, đ ảm bảo tiêu chí an toàn trong họa động khi doanh nghiệp tăng quy mô hoạt động,tăng tính hiệu quả, ổn định và phát triển của doanh nghiệp do có đồng vốn dồi dào để đầu tư kinh doanh Đây vừa là quy định chắn chắn hoạt động của doanh nghiệp

ổn định vừa tạo cho người lao động tâm lý yên tâm làm việc quy công ty dịch vụ

uy tín

4 Thêm các hành vi bị cấm khi đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

Theo đó, so với quy định hiện nay tại Luật năm 2006, Điều 7 Luật mới đã bổ sung nhiều hành vi bị cấm khi đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, như: (1)Lôi kéo, dụ dỗ, hứa hẹn, quảng cáo, cung cấp thông tin gian dối hoặc dùng thủ đoạn khác để lừa đảo người lao động; lợi dụng việc tuyển dụng lao động để mua bán người, bóc lột, cưỡng bức lao động…; (2) Phân biệt đối xử trong lao động, cưỡng bức lao động trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; (3) Áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác, ngoài ký quỹ và bảo lãnh; (4) Thu tiền môi giới của người lao động; thu tiền dịch vụ của người lao động không đúng quy định; (5) Tự ý ở lại nước ngoài trái pháp luật hoặc tự ý chấm dứt hợp đồng không đúng quy định…

Khi tham gia các quan hệ pháp luật lao động, người lao động thường là bên yếu thế và bất lợi hơn về nhiều mặt Việc xây dựng pháp luật về lao động nói chung và luật về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài nói riêng luôn cần quan tâm, quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người lao động cũng như có

cơ chế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động Như vậy, quy định trên nhằm nâng cao quản lý, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động khi làm việc tại nước ngoài

5 Quy định thêm danh mục các khu vực cấm đi làm việc ở nước ngoài

Khoản 13 Điều 7, Luật này đã quy định thêm danh mục các khu vực bị cấm khi đi làm việc ở nước ngoài hoặc đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước

Trang 8

ngoài: (1) Khu vực đang có chiến sự hoặc đang có nguy cơ xảy ra chiến sự; (2) Khu vực đang bị nhiễm xạ; (3) Khu vực bị nhiễm độc; (4) Khu vực đang có dịch bệnh nguy hiểm

Mặc dù thời gian qua, Nhà nước và các doanh nghiệp đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng, thực hiện các quy định pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ Việt Nam làm việc ở nước ngoài Tuy nhiên, NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài vẫn chưa thực sự được bảo vệ đầy đủ quyền lợi hợp pháp Tình trạng NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài bị bóc lột, bị lạm dụng, bị xâm hại đến sức khỏe thậm chí cả tính mạng do bị đẩy vào những môi trường làm việc cực kỳ khắc nghiệt Việc bổ sung quy định này mang ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, đảm bảo sự bình đẳng, công bằng đối với người Việt Nam làm việc tại nước ngoài

6 Người lao động không phải hoàn trả tiền môi giới

Luật mới đã bỏ quy định “Người lao động có trách nhiệm hoàn trả cho doanh nghiệp dịch vụ một phần hoặc toàn bộ tiền môi giới theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” nêu tại khoản 1 Điều 20 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006

Như vậy, từ năm 2022, người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng sẽ không cần hoàn trả tiền môi giới cho doanh nghiệp dịch vụ Những năm gần đây, số lượng người lao động làm việc ở nước ngoài có dấu hiệu gia tăng Phân lớn NLĐ sẽ tìm đến các nước phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản…

để nâng cao thu nhập của mình Tuy nhiên, mức sống ở các nước này tương đối đắt đỏ so mới Việt Nam nên họ luôn phải làm việc chăm chỉ để vừa trang trải chi phí, vừa kiếm được thêm thu nhập tích cóp Từ đó, quy định này ra đời nhằm hỗ trợ người lao động giảm thiểu chi phí tiền dịch vụ khi đi làm việc ở nước ngoài

7 Người lao động chỉ phải trả một phần phí dịch vụ

Tại điểm d khoản 2 Điều 23 Luật mới, trường hợp bên nước ngoài tiếp nhận lao động đã trả tiền dịch vụ thì doanh nghiệp dịch vụ chỉ được thu từ người lao

Trang 9

động số tiền còn thiếu so với mức tiền dịch vụ đã thỏa thuận Khác biệt rất lớn

so với Điều 21 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 quy định, doanh nghiệp dịch vụ thoả thuận với người lao động về việc thu tiền dịch vụ một lần trước khi người lao động xuất cảnh hoặc thu nhiều lần trong thời gian người lao động làm việc ở nước ngoài

Ngoài ra, tại khoản 3, Điều 23 Luật mới, khi hoàn trả tiền dịch vụ do người lao động phải về nước trước thời hạn mà không phải lỗi của họ, doanh nghiệp dịch vụ còn phải trả lãi suất tính theo tỷ lệ tương ứng với thời gian còn lại của Hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

Quy định này nhằm hỗ trợ các khoản chi phí cho NLĐ khi làm việc tại nước ngoài Đây có thể coi là sự san sẻ số tiền dịch vụ cho NLĐ nhằm giảm bớt gánh nặng phải nộp tiền nhiều lần và tạo điều kiện, khuyến khích NLĐ làm việc tại nước ngoài

8 Quy định cụ thể mức trần tiền dịch vụ

Tại khoản 4 Điều 23 Luật NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 đã quy định cụ thể mức trần tiền dịch vụ mà doanh nghiệp dịch vụ được phép thu từ người lao động như sau:

(1) Mức trần tiền dịch vụ thu từ người lao động không quá 01 tháng tiền lương của người lao động theo hợp đồng cho mỗi 12 tháng làm việc Đối với sỹ quan

và thuyền viên làm việc trên tàu vận tải biển, mức trần là không quá 1,5 tháng tiền lương cho mỗi 12 tháng làm việc

(2) Trường hợp thỏa thuận trong hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài từ 36 tháng trở lên thì tiền dịch vụ không được quá 03

tháng tiền lương của người lao động

(3) Trường hợp có thỏa thuận về việc thu tiền dịch vụ cho thời gian gia hạn hợp đồng, thì mức tiền dịch vụ tối đa cho mỗi 12 tháng gia hạn làm việc không quá 0,5 tháng tiền lương của người lao động;

Trang 10

(4) Đối với một số thị trường, ngành, nghề, công việc cụ thể, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định mức trần tiền dịch vụ thấp hơn các quy định trên

Mặc dù Luật NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 đã

có quy định mức trần tiền dịch vụ mà người lao động phải trả cho doanh nghiệp đưa đi làm việc ở nước ngoài tuy nhiên vẫn chưa cụ thể Chính vì sự lỏng lẻo đó, các doanh nghiệp sẽ có những khoản thu không rõ ràng nên trên thực tế số tiền

mà người lao động phải bỏ ra để có thể “xuất ngoại” cao hơn rất nhiều Nhiều doanh nghiệp bắt người lao động đặt cọc, thế chấp nhà, quyền sử dụng đất, để chống người lao động bỏ trốn ra ngoài làm việc Điều này tạo nên áp lực tâm lý rất lớn cho người lao động, tạo ra một vòng luẩn quẩn: Do làm ăn dễ dàng, thu nhập cao > Lao động bỏ trốn ra ngoài làm việc > Doanh nghiệp Việt Nam thu phí nhiều > Người lao động phải vay mượn nhiều hơn > Bỏ trốn ra ngoài với hy vọng kiếm tiền nhanh hơn để trả nợ > Doanh nghiệp thu phí + yêu cầu đặt

cọc/ký quỹ cao hơn > Lao động bỏ trốn nhiều hơn Vì vậy, quy định này đã được quy định rõ ràng, cụ thể hơn tại khoản 4 Điều 23 Luật NLĐVN đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 nhằm bảo vệ NLĐ, tránh tình trạng doanh nghiệp lợi dụng sự chưa rõ ràng của quy định để thu cao hơn số tiền trần dịch vụ

II Bài tập tình huống

Công ty X ký kết HĐLĐ đối với 1 nhóm công nhân trong đó có A mới 16 tuổi

Do sợ A còn nhỏ tuổi, không thực hiện được công việc nên trước khi ký kết hợp đồng, công ty X có thỏa thuận A phải thử việc trong thời hạn 3 tháng, mức lương bằng 85% công việc làm thử Hỏi:

1 Các thỏa thuận về thử việc của công ty X đối với A là đúng hay sai?

Trong trường hợp trên, thoả thuận về thử vệc của công ty X đối với A gồm:

- Thời gian thử việc: A phải thử việc tại công ty X trong vòng 3 tháng

- Mức tiền lương thử việc: 85% công việc làm thử

Ngày đăng: 04/01/2022, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w