Về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Từ khi thụ lý vụ kiện đếnthời điểm này Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định pháp luật về thụ lý vụ án hành chính như: tiến hành lập hồ sơ, t
Trang 1VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỈNH GL Số: 10 /PB-VKS-HC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Cần Thơ, ngày …… tháng …… năm …….
PHÁT BIỂU của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm
Căn cứ Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 43, Điều 190 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Điều 27 Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cáo và Tòa án nhân dân tối cao.
Hôm nay, Tòa án nhân dân tỉnh GL mở phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án hành chính “khởi kiện Quyết định hành chính” giữa:
Người khởi kiện:
- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Sinh năm 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 9, phường Đông Lân, thành phố P, tỉnh GL
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mai Anh Tuấn - Sinh năm: 1977,
theo giấy ủy quyền ngày 19.5.2014 (BL22) (có mặt)
- Địa chỉ: 33 đương Minh Khai, TP P, tỉnh GL.
- Người bị kiện: Chánh thanh tra Sở Văn Hóa, Thể thao và Du Lịch tỉnh
GL(vắng mặt)
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Văn Thành - Phó Chánh
Thanh Tra Sở Văn Hóa, thể thao và du lịch tỉnh GL ( có mặt), theo văn bản ủy quyền số …………/UQ-UBND ngày ………… (BL……….)
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Thường, bà Nguyễn Thị Lành, ông Phan Văn, bà Nguyễn Thị Thùy Trang (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: LS Hà
Bích Thủy, LS Nguyễn Thanh Tú
LS Lâm Sơn Hải
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và quá trình tham gia phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh GL có ý kiến như sau:
I/ Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
1 Tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án:
Mẫu số 13/TTHC
Theo QĐ số 204/QĐ-VKSTC Ngày 01 tháng 06 năm 2017
Trang 2a Về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Từ khi thụ lý vụ kiện đến
thời điểm này Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định pháp luật về thụ lý vụ án hành chính như: tiến hành lập hồ sơ, tiếp nhận chứng cứ; tổ chức đối thoại giữa các đương sự và chấp hành đúng thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại Điều 20; Điều 38; Điều 125; Điều 126; Điều 130 Luật tố tụng hành chính.
b Về tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử tại phiên tòa: Thấy
rằng HĐXX đã tiến hành đúng thành phần và thực hiện đúng các quy định tại Điều 148 đến Điều 189 Luật tố tụng hành chính.
c Về tuân theo pháp luật tố tụng của Thư ký phiên tòa: Thư ký đã thực
hiện đúng quyền và nhiệm vụ của mình theo quy định tại các Điều 41, Điều 167
và Điều 169 Luật tố tụng hành chính.
2 Về tuân theo pháp luật tố tụng của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác (nếu có):
a Đối với người khởi kiện: Đã tuân thủ các quy định tại các Điều 9; Điều
10; Điều 55; Điều 56; Điều 78; Điều 83; Điều 115 đến Điều 119 Luật tố tụng hành chính.
b Đối với người bị kiện: thực hiện đầy đủ theo quy định tại các Điều 55,
Điều 57 và Điều 128 Luật tố tụng hành chính.
c Đối với người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi lích hợp pháp của đương sự: Thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định.
II/ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
1 Thẩm quyền thụ lý:
Do không đồng ý với Quyết định số 23/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính do ông Trần Ngọc Minh (phó giám đốc kiêm chánh thanh tra sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh GL ban nên bà Nguyễn Thị Tuyết đã làm khởi kiện yêu cầu hủy toàn bộ Quyết định Đây là khiếu kiện quyết định hành chính của Phó Giám đốc kiêm Chánh thanh tra sở Do đó, việc Tòa án nhân dân tỉnh GL thụ lý
là đúng thẩm quyền quy định tại các Điều 30 và Điều 32 Luật tố tụng hành chính
2 Xét thời hiện khởi kiện:
Ngày 20/04/2014, bà Nguyễn Thị Tuyết nhận được Quyết định trả lời khiếu nại số 01/QĐ-TTR Chánh thanh tra sở văn hóa thể thao, du lịch Do không đồng
ý với các nội dung trong quyết định giải quyết khiếu nại số 01 nên ngày 02/5/2014 bà Tuyết làm đơn khởi kiện vụ án hành chính là còn thời hiệu khởi
Trang 33 Xét Quyết định hành chính bị khởi kiện
Thứ nhất xét theo yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết đề nghị Tòa
án Nhân dân tỉnh GL tuyên hủy bỏ Quyết định xử phạt hành chính số 23, ngày 10/3/2014 VKS nhân dân tỉnh GL nhận thấy trong quá trình lập biên bản xác minh tình tiết cho tới khi ra QĐ số 23 ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra sở du lịch, thể thao và văn hóa tỉnh GL có một số sai phạm: Thứ nhất là về thẩm quyền
ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quyết định số 23 xử phạt bà Tuyết vì cho rằng bà vi phạm dẫn
đến bị người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện để thực hiện hoạt động mại dâm là thuộc vào Mục 2 chương 2 Nghị định 167/2013/NĐ-CP vi phạm về phòng, chống tệ nạn xã hội Nên không nằm trong thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo Điều 69 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ
Thứ hai quy định tại Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của
Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa – thông tin chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28 tháng 12 năm 2013 trong khi sự kiện pháp lý xảy ra vào ngày 23 tháng 12 năm 2013 lại được Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao
và Du lịch sử dụng làm căn cứ quyết định xử phạt bà Tuyết là không đúng quy định của pháp luật
Thứ ba, xác định sai đối tượng áp dụng Quyết định số 23/QĐ-XP ngày 10 tháng 3 năm 2014 xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Tuyết vì cho rằng bà “ thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” là không đúng và không có cơ
sở vì trên thực tế không hề có hành vi mua bán dâm nào xảy ra theo quy đinh tại khoản
1, 2, 3 Điều 3 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm 2003 “1 bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác; 2 mua dâm
là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu; 3 Mại dâm là hành vi mua bán dâm” Bằng chứng là tại thời điểm
Đoàn thanh tra lập biên bản xử lý vi phạm hành chính ngày 23/12/2013 không phát hiện, thu giữ bất kỳ vật chứng nào cho thấy ông Nguyễn Văn Thường, bà Nguyễn Thị Lành hay ông Phan Văn, bà Thùy có hành vi mua bán dâm và trong các Bản tường
Trang 4trình ngày 23/12/2013 họ đều khai là có quan hệ tình cảm với nhau, không hề có sự trao đổi tiền bạc, lợi ích vật chất khác
Thứ tư là lập biên bản không đầy đủ thông tin Biên bản số 11/BB-VPHCngày
23/12/2013 được lập nhưng không ghi đầy đủ thông tin cụ thể tại biên bản ghi thông tin của người chứng kiến, người xử phạt không đầy đủ, có bà Nguyễn Thùy Trang không xác định là ai? Bà Trang ký biên bản với tư cách gì?
Thứ năm Biên bản số 11 vi phạm về thể thức văn bản Căn cứ theo K2 Đ58
Luật XLVPHC 2012 quy định: “Biên bản vi phạm hành chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm; biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý; tình trạng tang vật, phương tiện bị tạm giữ; lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ, lời khai của họ; quyền và thời hạn giải trình về vi phạm hành chính của người vi phạm hoặc đại diện của tổ chức vi phạm; cơ quan tiếp nhận giải trình.”
Trong BB số 11 chỉ ghi nhận các hành vi nêu trên đã vi phạm vào điểm … khoản … điều … NĐ 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực văn hóa thông tin mà không ghi rõ điều khoản áp dụng cho bà Tuyết Đồng thời, về Thông tin người chứng kiến không ghi rõ họ tên, địa chỉ…nhưng cuối biên bản lại có chữ ký của người làm chứng Như vậy, tôi có thể khẳng định việc lập
BB xử lý VPHC của Đoàn thanh tra đã vi phạm về thể thức văn bản được quy định trong Luật XLVPHC 2012 Vì vậy, Chánh thanh tra sở không thể lấy BB vi phạm như vậy để làm căn cứ ra QĐ xử phạt VPHC đối với bà Tuyết
Thứ sáu QĐ số 23 và BB số 11 áp dụng văn bản QPPL chưa có hiệu lực PL để
ra QĐ xử phạt VPHC Căn cứ K1 Đ83 Luật ban hành QPPL 2008 quy định “Văn bản
quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó”
Theo quy định trên, thì hành vi vi phạm của bà Tuyết sẽ được áp dụng văn bản quy phạm PL có hiệu lực tại thời điểm có hành vi vi phạm Tuy nhiên, căn cứ để xác định HVVP trong BB số 11 lập ngày 23/12/2013 căn cứ NĐ 158/2013/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 Sau đó, ông Minh đã đính chính lại bằng CV số 02/2014/CV-TTr ngày 18/3/2014 là áp dụng NĐ 167/2013/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 28/12/2013 đối với hành vi vi phạm của bà Tuyết, nội dung đính chính về lĩnh vực xử phạt vi
Trang 5phạm hành chính từ hoạt động văn hóa, thông tin thành an ninh, trật tự, an toàn XH, đính chính thời gian lập BB số 11, ngày giao QĐ xử phạt cho bà Tuyết,đính chính ngày có hiệu lực đối với QĐ số 23…không có đính chính phần căn cứ áp dụng từ NĐ158 sang NĐ 167 Như vậy, tôi có thể khẳng định QĐ số 23 áp dụng căn cứ chưa
có hiệu lực PL tại thời điểm xảy ra HVVP để xử phạt hành vi VPHC đối với bà Tuyết
Điều này là không phù hợp với nguyên tắc áp dụng văn bản QPPL được quy định.
Từ những phân tích nêu trên thấy rằng, yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết là có cơ sở để chấp nhận.
4.Từ những phân tích nêu trên, tôi đề nghị HĐXX:
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính.
+ Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của bà Trần Thị Tuyết về việc yêu cầu hủy Quyết định xử lý vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra sở văn hóa thể thao, du lịch, giao lại cho cơ quan có thẩm quyền
xử lý hành vi không vào sổ của nhà trọ Hoàng Lan.
Trên đây là quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, đề nghị Hội đồng xem xét.
Nơi nhận:
- Tòa án xét xử;
- Lãnh đạo viện;
- HSKS.
Ch (03b)
KIỂM SÁT VIÊN
MÃ THÚY MI