ghiên cứu khoa học hay tiếng Anh gọi là Scientific Research là quá trình áp dụng các phương pháp nghiên cứu từ những người nghiên cứu có trình độ chuyên môn nhằm tìm ra kiến thức mới, những ứng dụng kỹ thuật có hiệu quả và những mô hình mới có ý nghĩa với thực tiễn. Hoạt động trong nghiên cứu khoa học là đi tìm hiểu, quan sát, thí nghiệm và đôi khi phải trải nghiệm thử,… dựa trên cơ sở những già đã thu thập được về số liệu, tài liệu,…
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN
-o0o -MÔN HỌC: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ XANH TẠI THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bình Dương, tháng 08 năm 2018
Trang 2MỤC LỤC ĐỀ CƯƠNG
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Nội dung nghiên cứu
4 Phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
B PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN KHU VỰC THỦ DẦU MỘT - BÌNH DƯƠNG
1.1 Bối cảnh ra đời khu đô thị Thủ Dầu Một - Bình Dương
1.1.1 Điều kiện địa lý – tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
1.1.1.2 Khí hậu, thủy văn – thủy triều
1.1.1.3 Địa hình, địa chất và thổ nhưỡng
1.1.2 Các yếu tố văn hóa – xã hội
1.1.2.1 Văn hóa cư trú – nếp sống
1.1.2.3 Văn hóa tín ngưỡng
1.1.2.5 Các phương thức hoạt động kinh tế
1.2 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển khu vực Thủ Dầu Một – Bình Dương
1.2.1 Giai đoạn từ đầu thế kỉ XVII đến năm 1861:
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1861 đến năm 1954:
1.2.3 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975:
1.2.4 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay:
1.3 Khái niệm về đô thị xanh
Trang 31.3.1 Khái niệm đô thị xanh
1.3.2 Một số yếu tố cơ bản của đô thị xanh
1.4 Xây dựng và phát triển đô thị xanh
1.4.1 Lược sử quá trình phát triển đô thị xanh trên thế giới
1.4.2 Một số đô thị xanh tiêu biểu trên thế giới
1.4.3 Tình trạng phát triển đô thị xanh tại Việt Nam
1.4.4 Những hạn chế trong việc xây dựng đô thị xanh tại Việt Nam
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN ĐÔ THỊ XANH 2.1 Cơ sở pháp lý
2.2 Cơ sở khoa học hình thành và phát triển đô thị xanh
2.2.1 Các nguyên tắc xây dựng đô thị xanh
2.2.2 Các tiếp cận đô thị xanh
2.2.3 Tiêu chí đánh giá đô thị xanh
2.3 Bài học kinh nghiệm
2.3.1 Những bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng và phát triển đô thị xanh
2.3.1 Những bài học kinh nghiệm trong việc chỉnh trang đô thị cũ
3.3 Đề xuất giải pháp xây dựng và phát triển đô thị xanh
3.4 Đề xuất giải pháp chỉnh trang đô thị cũ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4NỘI DUNG ĐỀ CƯƠNG
A PHẦN MỞ ĐẦU
6 Lý do chọn đề tài
Đô thị hóa là sự phát triển tất yếu, thể hiện trong cấu trúc không gian đôthị qua các khu vực: Trung tâm – Vành đai – Vùng đô thị chức năng và theo 4giai đoạn chủ yếu:
1 Đô thị hóa: tập trung phát triển khu vực trung tâm
2 Ngoại ô hóa: tập trung phát triển khu vực ngoại ô
3 Suy thoái đô thị: giảm dân cư khu vực trung tâm và các đô thị chứcnăng
4 Tái đô thị hóa: dân cư tăng trở lại trong khu trung tâm và vùng đô thịchức năng
Các đô thị biến đổi nhanh chóng, quá trình đô thị hóa đã khai thác và sửdụng triệt để tài nguyên thiên nhiên, năng lượng Điều này làm môi trường ở đôthị ngày càng bị ô nhiễm, tài nguyên thiên nhiên suy thoái, thách thức tính bềnvững của cảnh quan, tài nguyên và dịch vụ hệ sinh thái trong đô thị Phát triển đôthị loại xanh, carbon thấp và thông minh mới sẽ đóng một vai trò quan trọngtrong việc thay đổi khí hậu
Tạo ra một chuẩn mực cho phát triển đô thị xanh để được áp dụng trong
đô thị là việc làm vô củng cần thiết Một thành phố được thiết kế tốt có thể cảithiện chất lượng không khí, giảm tiếng ồn, và giảm thiểu sử dụng năng lượng
Nó có thể tạo ra không gian thú vị cho tất cả mọi người, từ trẻ em đến người caotuổi Nó làm cho các khu phố trở nên hấp dẫn hơn, tạo ra một đô thị sống tốt vớinhiều sức sống và thịnh vượng kinh tế hơn
7 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 5- Xây dựng tiêu chí hình thành và phát triển đô thị xanh phù hợp với tínhchất đô thị Thủ Dầu Một, Bình Dương.
- Đề xuất các giải pháp phát triển đô thị xanh và chỉnh trang đô thị cũ
8 Nội dung nghiên cứu
- Để hướng đến mục tiêu đã nêu, luận văn nghiên cứu giải quyết nhữngvấn đề sau:
+ Nghiên cứu tổng quan quá trình hình thành và phát triển khu vực đô thịThủ Dầu Một – Bình Dương, nghiên cứu tổng quan quá trình hình thành và pháttriển đô thị xanh trên thế giới
+ Dựa trên cơ sở khoa học và những bài học kinh nghiệm thực tế ngoàinước nhằm vận dụng đưa ra những giải pháp thích hợp để hình thánh, phát triển
và chỉnh trang đô thị cũ thành đô thị xanh trong tương lai
9 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: khu vực thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
- Về mặt thời gian: từ cuối thế kỷ XVII (thời điểm bắt đầu tiến trình đô thịhoá tại khu vực Thủ Dầu Một) đến năm 2030 (phù hợp với quy hoạch phân khuthành phố Thủ Dầu Một đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được phêduyệt)
- Về chủng loại: Đô thị xanh
10.Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin: từ các nguồn tư liệu thành văn như sáchbáo, bài viết, tạp chí, luận văn nhằm làm nguồn tài liệu, cơ sở tham khảo, cửangõ cho những định hướng, giải pháp cụ thể, khả thi cho bài toán hình thànhphát triển đô thị xanh và chỉnh trang đô thị cũ thành đô thị xanh trong tương lai
- Phương pháp điều tra khảo sát: nhằm tiếp cận với thực tế khu vực đô thịThủ Dầu Một về chức năng đô thị, hình thức thẩm mỹ có giá trị, nhằm so sánh,đánh giá và đưa ra những phân tích mang tính khoa học và hợp lý
Trang 6- Phương pháp phân tích: trên cơ sở so sánh, đối chiếu, đánh giá để rút ranhững nhận xét và suy đoán cho những giải pháp, kết luận cần thiết phục vụ chomục tiêu đã đặt ra.
- Phương pháp tổng hợp: là phương pháp tổng hợp thông tin nhằm đề xuấtcác giải pháp cho việc hình thành phát triển đô thị xanh và chỉnh trang đô thị cũthành đô thị xanh trong tương lai
B PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT
TRIỂN KHU VỰC THỦ DẦU MỘT - BÌNH DƯƠNG 1.1 Bối cảnh ra đời khu đô thị Thủ Dầu Một - Bình Dương
1.1.1 Điều kiện địa lý – tự nhiên
1.1.1.1 Vị trí địa lý
1.1.1.2 Khí hậu, thủy văn – thủy triều
Khu vực Thủ Dầu Một nằm trong vùng Đông Nam Bộ, có khí hậu nhiệtđới gió mùa, nắng ẩm mưa nhiều, độ ẩm khá cao, phân biệt 2 mùa mưa nắng rõrệt Mùa mưa ở đây đến sớm hơn miền Tây Nam Bộ Những tháng 7, 8, 9thường là những tháng mưa dầm, có những trận mưa kéo dài 1 - 2 ngày đêm liêntục Đặc biệt, nơi đây hầu như không có bão mà chỉ bị ảnh hưởng những cơn bãogần Như vậy, khí hậu nói chung có nhiều thuận lợi cho việc sản xuất, định cưsinh sống lâu dài, làm nền tảng cho một đô thị phát triển bền vững, an cư lạcnghiệp
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10; mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4năm sau
- Nhiệt độ trung bình năm: 26,5ºC - 33ºC; nhiệt độ cao nhất trung bìnhnăm: 33ºC - 38ºC; nhiệt độ thấp nhất trung bình năm: 24,5ºC
- Lượng mưa trung bình là: 1773mm
- Độ ẩm tương đối trung bình: 80%
Trang 7- Tốc độ gió trung bình: khoảng 0,5 m/s.
- Hướng gió chính là Tây Nam, tháng 10, 11, 12 chuyển hướng gió Bắc vàĐông Bắc
- Số giờ nắng: 2.443 giờ/năm
- Bức xạ nhiệt không lớn lắm: khoảng 3400 kcal/h
Chế độ thủy văn của các con sông, rạch chảy qua tỉnh Bình Dương thayđổi theo mùa: mùa mưa nước lớn từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô (mùa kiệt)
từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau tương ứng với 2 mùa mưa, nắng Khu vực chịutác động nhiều nhất bởi sông Sài Gòn với nhiều rạch ở trên địa bàn
1.1.1.3 Địa hình, địa chất và thổ nhưỡng
Khu vực Thủ Dầu Một là vùng đồng bằng đất đai phì nhiêu, màu mỡ đượcphù sa bồi đắp bởi sông Sài Gòn Nằm giữa hạ lưu của sông Sài Gòn, nơi đây cóđịa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Bắc xuống Nam Toàn khu vực đổ vềtrung tâm theo 2 hướng Đông Tây và Bắc Nam, khu vực nằm ven sông có nhiềukênh rạch nên rất thuận tiện cho thoát nước Vị trí thấp nhất là khu vực phíaNam (lưu vực rạch Thầy Năng) có cao độ +1,2 m, cao nhất là khu vực phíaĐông, đoạn giáp với đất khu dự án thế kỷ XXI, có cao độ khoảng +20,4 m (sovới cao độ chuẩn Quốc gia) Nhìn chung địa hình có xu hướng thấp dần về phíasông tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng trọt và xây dựng do dễ dàng thoátnước bề mặt
Theo số liệu lấy từ các công trình xây dựng trong khu vực thì nền đất khu
vực ở đây có độ chịu lực trung bình từ 0,5 – 1,5 kg/cm2.
Khu vực Thủ Dầu Một có 2 loại đất chính là đất xám trên phù sa cổ và đấtnâu vàng trên phù sa cổ, có độ chịu lực cao, vững chắc thuận lợi cho việc xâydựng các công trình công nghiệp và quân sự Ngoài ra còn có đất cao lanh, đấtsét trắng, đất sét màu, sạn trắng, đá xanh, đá ong,…Đây còn là một vùng đấtđược thiên nhiên ưu đãi chứa đựng nhiều loại khoáng sản phong phú chính là cái
Trang 8nôi để các ngành nghề truyền thống ở Bình Dương sớm hình thành và phát triểnnhư gốm sứ, điêu khắc, mộc, sơn mài,…Trong suốt quá trình khai phá định cưlập nghiệp, tạo dựng làng xã, chủ nhân của mảnh đất này qua bao thế hệ đấutranh để tồn tại và phát triển đã cải tạo vùng đất sình lầy ven sông thành mộtvùng đất canh tác nuôi sống con người và hơn thế nữa giờ đây là khu vực trungtâm đô thị bậc nhất của Bình Dương.
1.1.2 Các yếu tố văn hóa – xã hội
1.1.2.1 Văn hóa cư trú – nếp sống
Từ xa xưa cách đây gần 3 thế kỷ, cũng như nhiều làng quê khác trên địabàn đất Thủ, khu vực Thủ Dầu Một còn là vùng đất hoang vu với những đầm lầy
ở vùng ven sông Sài Gòn Nhờ vào sức lao động cần cù, bền bỉ không kém phầndũng cảm, những người Việt đến khẩn hoang vùng đất này, đã xây dựng và pháttriển làm thay đổi diện mạo nơi đây
Nhà cửa, làng xã ở khu vực Thủ Dầu Một thường bình yên, tĩnh lặng giữathiên nhiên Nếp sống nhà vườn phong lưu thể hiện rõ nơi những căn nhà chữĐinh ba gian bề thế, cổ kính Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, thời Tự Đức, nơiđây xưa thuộc trấn Phiên An, giữa hai huyện Bình Dương (Tân Bình) và PhướcLong [hình ảnh], dân cư trù mật, mái ngói, phố chợ liền lạc là xứ phồn hoa đôhội của đất Gia Định, cả nước không đâu sánh bằng
Cư trú trên cù lao là loại hình cư trú đặc trưng tại Nam Bộ nói chung và tạikhu vực Thủ Dầu Một nói riêng, cù lao được kiến tạo và bồi đắp bởi trầm tíchphù sa sông Khi chưa có người ở, cù lao là vùng hoang dã, cô lập, hẻo lánh giữasông nước Những lớp người đầu tiên đến cù lao khẩn hoang trải dài qua cuộcsống nhọc nhằn về vật chất lẫn tinh thần Sau khi được khai phá, đất cù lao phù
sa màu mỡ đã cho năng suất hoa lợi cao gấp 3, 4 lần Người ta chọn cù lao để cưtrú còn vì môi trường sinh thái trong lành, không gian tĩnh mịch Nhiều dòng họ
Trang 9giàu có chọn cù lao để cư trú nên nơi đây hiện vẫn tồn tại những ngôi nhà cổ đồsộ.
Cư trú ven sông, ven rừng cũng là một nét đặc trưng trong đặc điểm cư trúcủa con người đất Thủ xưa Nhà văn Sơn Nam đã trình bày trong cuốn “Địa chíSông Bé” như sau:
“Theo tư liệu của sĩ quan Pháp là Đờ-Gra-Mông (Lucien De Grammont) thì đã có một viên quản đồn điền nắm quyền, dân tập trung ở khu vực gọi
“đường phố dài”, tại thủ (đồn) có đến 22 xí nghiệp cở lớn chuyên đóng ghe Tác giả này không ghi chi tiết Ta suy luận là những trại cưa xẻ gỗ đóng ghe tải (grands chantiers de construction) Có lẽ người Hoa tập trung về đây chăng?”
Như vậy ta thấy, ở khu vực Thủ Dầu Một xưa, ngoài những ngôi làng ẩnmình giữa thiên nhiên yên tĩnh thì còn có những làng ghe, trại cưa xẻ gỗ có quy
mô rất lớn, hoạt động sôi nổi, nổi tiếng khắp vùng
Trong quá trình biến đổi và phát triển đã mai mục dần những nề nếpphong kiến cổ xưa là điều tất yếu Tuy nhiên, nếp sống kính trọng ông bà tổ tiênvẫn luôn được gìn giữ qua nhiều thế hệ Vì thế cũng giống như những nhà ởtruyền thống ở miền Bắc, Trung, nhà ở truyền thống Bình Dương dành phầntrịnh trọng nhất trong nhà cho việc thờ cúng ông bà tổ tiên
1.1.2.3 Văn hóa tín ngưỡng
Văn hóa thờ cúng trong gia đình như: Thờ cúng gia tiên, thờ cúng dòng
họ, thờ cúng gia thần đã tác động lớn đến kiến trúc truyền thống tại khu vực ThủDầu Một Theo tín ngưỡng chung của người Việt Nam nên người dân nơi đâythường lập bàn thờ gia tiên ở ngay giữa ngôi nhà chính Trang trí bàn thờ gia tiên
là các bức hoành phi, liễn đối Từ xa xưa, người dân khu vực chợ Thủ Dầu Mộtcòn thờ cả thần thánh, trời phật và tổ tiên quá cô Chiếc bàn thờ được định hìnhrất sớm và bàn thờ Phật trong nhà cũng được đặt ở vị trí trang trọng như bàn thờ
tổ tiên Về sau sống gần người Hoa, trong những người Việt làm nghề thủ công,
Trang 10buôn bán cũng lập trang thờ Quan công và phật Bà Thánh Mẫu Người Hoa nơiđây đa số đều thờ cúng tổ tiên và các thánh như người Việt Họ đã lập ra cácngôi chùa riêng như chùa Bà, Linh Không Đàn,…
Hơn 300 năm những người di cư đã đến đây khai phá, dựng nhà lập ấp,xây dựng cuộc sống ổn định lâu dài Và cho đến hôm nay những ngôi đền, ngôichùa có trên trăm năm tuổi vẫn được người dân nơi đây trân trọng gìn giữ, được
du khách gần xa biết đến Ớ ngay trung tâm thành phố Thủ Dầu Một có ngôichùa Bà, thờ Thiên hậu Thánh mẫu được xây dựng vào giữa thế kỷ 19 Hàngnăm lễ hội chùa Bà được tổ chức vào 3 ngày từ 13 - 15 tháng 1 Âm lịch, thu hútlên đến cả triệu người đến tham dự cúng lễ, cầu phúc, cầu lộc cho năm mới Lễhội chùa Bà Thủ Dầu Một giờ đây đã trở thành một lễ hội dân gian lớn vớinhững nét văn hoá độc đáo nổi tiếng ở vùng Đông Nam Bộ
Ở khu vực Thủ Dầu Một, từ sau thế kỷ XVII, lần lượt có các tông Phậtgiáo Đại Thừa từ các nơi khác thâm nhập và hoạt động như Phật giáo cổ truyền,Lục Hoa tàng, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tịnh Độ cư sĩ, Tăng gia khất sĩ,…Các hệphái này hoạt động riêng rẽ nhau Mãi về sau cùng đứng vào tổ chức Phật giáotỉnh Bình Dương và hiện nay, từ sau năm 1981 cũng quy tụ vào Giáo Hội Phậtgiáo Việt Nam Ngôi chùa cổ nhất ở khu vực Thủ Dầu Một là Hội Khánh Tự.Nơi đây là trung tâm Phật giáo cổ truyền của cả vùng đất Bình An ngày xưa
1.1.2.5 Các phương thức hoạt động kinh tế
Gần 3 thế kỷ trước, địa phận khu vực Thủ Dầu Một – Bình Dương ngàynay được bao phủ bởi quần thể rừng nhiệt đới rậm rạp và hoang sơ Sau khi Phápxâm lược, cảnh quan, kinh tế - xã hội có sự thay đổi mạnh mẽ nhưng rừng vẫnchiếm diện tích lớn Chính vì thế, nghề khai thác, chế biến gỗ rất phát triển ở nơiđây giai đoạn này Việc phát triển ngành gỗ ảnh hưởng rất lớn đến nghệ thuậttrang trí trong các công trình kiến trúc truyền thống trong giai đoạn này Nguyễn
Trang 11Liên Phong trong “Nam kỳ nhân vật phong tục diễn ca” đã đề cập tới thợ Thủnhư sau:
…“Nhà khéo cất tốn bạc muôn
Tiếng đồn thợ Thủ ráp khuôn kỹ càng”
Hay như câu sau cho thấy sự phát triển của các trại cưa xẻ gỗ, làm ghe:
…“Trại ghe trại ván sẳn cùng
Sông sâu nước chảy điệp trùng bán buôn”
Một trong những ngành kinh tế quan trọng, không thể không kể đến ở ThủDầu Một trong giai đoạn này là tiểu thủ công nhiệp: làm gốm, gỗ, sơn mài…Tiểu thủ công nghiệp góp phần lớn vào tính độc đáo của các kiến trúc truyềnthống ở khu vực Thủ Dầu Một - Bình Dương
Thương nghiệp là một trong những thế mạnh của khu vực Thủ Dầu Mộtkhông chỉ hiện nay mà cả trước kia Từ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, hoạtđộng trao đổi, mua bán đã diễn ra sôi nổi trong các bộ phận dân cư sống trênvùng đất này với nhiều loại hàng hóa Trong đó, có những sản phẩm gắn liền với
“thương hiệu” như: gốm sứ, tranh sơn mài, nông sản, đồ gỗ,…
Hoạt động thương nghiệp, đặc biệt là gốm ở Bình Dương ngày càng pháttriển Một số tài liệu của Pháp ghi nhận: “Vùng ngoại vi Chợ Lớn, Gia Định,Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Bà Rịa, người bản xứ có những xưởng làm lu, vại vànhiều sản phẩm sành sứ khác, như hệ, bình cấm hoa, gạch,…Các cơ sở này ngàymột phát triển và sản phẩm có giá trị nghệ thuật ngày càng cao”
1.2 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển khu vực Thủ Dầu Một – Bình Dương
1.2.1 Giai đoạn từ đầu thế kỉ XVII đến năm 1861:
Cư dân khu vực Thủ Dầu Một ngày nay là những người Việt phương Bắc
di dân lâu đời Trong lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ Năm 1623, vua ChânLạp chấp thuận cho chúa Nguyễn mượn xứ Prei Nokor và Kas Krobey lập trạm
Trang 12thuế Sau đó trải qua loạt sự kiện chính trị và quân sự trong mối quan hệ giữa cácchúa Nguyễn ở đàng trong và chính quyền Chân Lạp Kết quả của sự kiện này làngười Việt ngày càng đổ vào Đồng Nai lập nghiệp.
Năm 1698, chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh (Kỉnh) vào kinh lượcvùng đất phương Nam, xác lập cương thổ, xây dựng thiết chế hành chính lập phủGia Định gồm hai huyện Phước Long và Dinh Trấn Biên (gồm toàn bộ miềnĐông Nam Bộ ngày nay) và huyện Tân Bình với Dinh Phiến Trấn (gồm TâyNinh, thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Long An,…ngày nay) Đây là đơn vịhành chính được xác lập đầu tiên trên vùng đất mới khai khẩn của người Việt ởphương Nam Lúc này dân số người Việt có hơn bốn chục ngàn hộ, tức làkhoảng hai trăm ngàn dân Từ đó đến năm 1757, toàn bộ vùng đất Nam Bộ ngàynay hoàn toàn thuộc về đất của chúa Nguyễn Người Việt đổ xô vào khai hoangngày càng nhiều Làng xóm người Việt định hình vững chắc
Nếu vùng Lái Thiêu, Thị Tính ở miền Đông được người Việt đến lậpnghiệp sớm thì khu vực chợ Thủ Dầu Một người Việt chắc chắn đến khẩn hoang
từ năm 1698, năm Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Gia Định.Trong quá trình dưới một trăm năm, từ Thị Tính đổ về Lái Thiêu kéo lên, vùngđất này hội tụ dân cư ngày càng đông đúc để trở thành lỵ sở của Tổng Bình Anrồi huyện Bình An
Nếu khu vực Chánh Nghĩa ven sông và khu vực Xóm Guốc, Bà Lụa, PhúThọ được cư dân đến sớm thì khu vực chợ Thủ Dầu Một cư dân hội tụ có muộnhơn, nhưng lại tập trung đông nhanh hơn do việc hình thành lỵ sở của huyệnBình An
Người Việt là lực lượng đầu tiên và chủ yếu đến khai khẩn vùng đất ThủDầu Một Sau đó người Hoa mới đến và đã có vai trò quan trọng nhất định trong
sự xây dựng vẻ phồn thịnh về kinh tế cho vùng đất Người Hoa đến khu vực chợThủ Dầu Một đông nhất vào giữa thế kỷ XIX, sau hậu quả của cuộc chiến tranh
Trang 13nha phiến gây loạn lạc cả vùng duyên hải Đông Nam Trung Hoa Lúc này khuvực Thủ Dầu Một đã trở thành trung tâm kinh tế và văn hóa của huyện Bình An.Chính lúc đó, ngôi chùa Bà mới được xây dựng với cơ sở đầu tiên ở cạnh rạchHương chủ Hiếu, sau này năm 1923 mới dời về vị trí hiện nay
Từ sau năm 1698, khu vực Thủ Dầu Một ngày càng đông người Việt đếnsinh sống Diện mạo cảnh quan tự nhiên được thay đổi nhanh chóng với sự xuấthiện những cụm cư dân buổi đầu được gọi bằng các đơn vị như: Trang, Trại,Man, Nậu,…về sau đông người hơn đặt thành xóm Và cũng từ đó, những tênxóm nguyên sơ bắt đầu xuất hiện như: Xóm Dầu Đặc, Xóm Suối Sâu, Xóm Bến
Xe, Xóm Dầu Vàng, Xóm Cây Xung,…Những tục danh địa phương ấy dần bịquên lãng và được thay bằng những địa danh hành chánh như: Phú Lợi, BìnhĐiềm
Thời Tổng và huyện Bình An Thôn Phú Cường được thành lập do sự sátnhập một số thôn nhỏ khác Đây là huyện lỵ của huyện Bình An, trung tâm vănhóa và kinh tế của toàn huyện Khu vực chợ Thủ Dầu Một lúc đó thuộc tổngBình Điền, huyện Bình An, tỉnh Biên Hòa (năm 1832)
Toàn bộ cảnh quan địa lý khu vực Thủ Dầu Một thời huyện lỵ Bình An đãdần dần thay đổi theo chiều hướng phát triển thịnh vượng sung túc Rừng hoangbãi lầy bị đẫy lùi khá xa nhưng vẫn còn ở vùng chung quanh nhất là vùng giápranh Phú Hòa, An Thạnh Khu vực ven sông Sài Gòn đã có người đông đúc vớinhà cửa vườn tược, đường xá, cầu cống, đền chùa xinh đẹp
Khu vực Thủ Dầu Một huyện lỵ Bình An đã có một bước phát triển dài
Nó trở thành trung tâm kinh tế văn hóa lớn nhất của huyện Bình An Sức pháttriển của nó nhờ những điều kiện thuận lợi đã vượt cả Lái Thiêu, Thị Tính, TânHoa (Tân Ba, chợ Đồng Văn) vốn có lịch sử hình thành và phát triển trước nókhá lâu
Trang 141.2.2 Giai đoạn từ năm 1861 đến năm 1954:
Dưới thời Pháp thuộc ngày 12 tháng 2 năm 1861, tàu chiến Pháp tấn côngđồn binh Thủ Dầu Một và chiếm đóng huyện Bình An Kể từ đó khu vực ThủDầu Một xưa thuộc vùng đất Bình An vào tay quản lý của Pháp Từ năm 1862đến năm 1889, vùng đất Bình An bị thay đổi liên tục về địa lý hành chính liênquan đến khu vực Thủ Dầu Một
Ngày 20 tháng 12 năm 1889, Hạt Thủ Dầu Một được đổi thành tỉnh ThủDầu Một Đơn vị hành chính cấp tỉnh đánh dấu chấm dứt thời kỳ quân quản,chuyển sang chế độ hành chính dân sự ở Nam Kỳ Tỉnh Thủ Thủ Dầu Một thànhlập từ đó và tồn tại cho đến năm 1956
Tình Thủ Dầu Một sau khi ổn định có 12 tổng với 119 làng Khu vực ThủDầu Một là một trong tổng số 119 làng của tỉnh Thủ Dầu Một và cũng là tỉnh lỵcủa tỉnh Khu vực Thủ Dầu Một lúc đó thuộc Tổng Bình Điền và có vị trí giớihạn như sau: Bắc giáp Chánh Mỹ; Nam giáp sông Bà Lụa và làng An Thạnh;Đông giáp làng Phú Hòa; Tây giáp sông Sài Gòn Diện tích toàn thể được 11,9cây số vuông Dân số chỉ khoảng 5000 người Trong đó có độ 1000 người Hoa
và Minh Hương Đến năm 1912 tổng dân số nơi đây đã lên đến 12.000 người Sốlượng người Hoa trên dưới ngàn người, kể cả Minh Hương, Châu Âu tập trungđông nhất tỉnh, độ dưới 30 người
Khu vực Thủ Dầu Một tuy đã phát triển mạnh mẽ nhưng vùng chungquanh mãi đến năm 1945 vẫn còn nhiều chỗ rừng rậm hoang vu Cọp dữ vẫn cònhoành hành nhất là những năm cuối thế kỷ 19 sau khi quân Pháp chiếm đóng.Trong gần 100 năm thống trị người Pháp đã làm được nhiều việc Kèm theo đó
là sức sống sáng tạo và xây dựng mạnh mẽ của người dân đã góp phần thúc đẩykhu vực Thủ Dầu Một trở thành vùng buôn bán sầm uất, phong cảnh sinh đẹpnhất Nam Kỳ
Trang 151.2.3 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975:
Dưới thời tỉnh lỵ Bình Dương sắc lệnh 143/NV ngày 22 tháng 10 năm
1956 thành lập một loạt tỉnh nhỏ từ những tỉnh lớn hơn thời Pháp thuộc TỉnhThủ Dầu Một được chia thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Long Tỉnh BìnhDương được thành lập gồm 6 quận, 41 xã Khu vực Thủ Dầu Một trở thành tỉnh
lỵ của Bình Dương Cấp Tổng được bãi bỏ Từ năm 1967 đơn vị làng thời Phápđổi thành đơn vị xã Khu vực chợ Thủ Dầu Một thuộc phường Phú Cường là mộttrong 41 xã của tỉnh Bình Dương
Trong gần 20 năm là tỉnh lỵ của Bình Dương, diện mạo cảnh quan của khuvực Thủ Dầu Một cũng thay đổi khá nhiều Những mảng xanh của khu rừnghoang dần dần mất đi, nhường chỗ cho xóm làng đông đúc
1.2.4 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay:
Ngày 30 tháng 04 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, khu vựcThủ Dầu Một thuộc phường Phú Cường là một trong 10 xã phường của thị xãThủ Dầu Một, tỉnh Thủ Dầu Một Sau hai lần tách nhập (tháng 8 năm 1975 vàtháng 12 năm 1976) khu vực này thuộc thị xã Thủ Dầu Một tỉnh Sông Bé
Ngày 1 tháng 1 năm 1997, khu vực chợ Thủ Dầu Một thuộc phường PhúCường, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Từ thời điểm đó khu vực ThủDầu Một có những bước phát triển vượt bậc là địa bàn trung tâm của tỉnh, nơitập trung các trung tâm dịch vụ - thương mại nên được tỉnh tập trung nhiềunguồn kinh phí lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình chỉnh trang đôthị
1.3 Khái niệm về đô thị xanh
1.3.1 Khái niệm đô thị xanh
Không gian xanh đô thị bao gồm mọi thứ ở các thành phố có thảm thựcvật Nói chung nó đôi khi được gọi là "Cơ sở hạ tầng xanh", bao gồm toàn bộ
Trang 16cảnh quan làm việc ở các thành phố phục vụ các vai trò như cải thiện chất lượngkhông khí, bảo vệ tốt và kiểm soát ô nhiễm (Girling và Kellett, 2005)
Hiện tại, khái niệm "Thành phố xanh" bị coi là một mở rộng phát triển bềnvững ở đô thị bối cảnh (Lewis, 2015) và đại diện cho mô hình kiến trúc củatương lai, nơi các cấu trúc đô thị tương thích với môi trường và chất lượng cuộcsống (ELCA, 2011)
Thành phố xanh là thành phố thể hiện hiệu quả môi trường cao so vớithành lập điểm chuẩn về:
i) Chất lượng tài sản môi trường (không khí, nước, đất / đất và đa dạngsinh học),
ii) Sử dụng hiệu quả các nguồn lực (nước, năng lượng, đất đai và vật liệu)
và iii) giảm thiểu và thích nghi đối với các rủi ro phát sinh từ biến đổi khí hậu,đồng thời tối đa hóa lợi ích kinh tế và xã hội và xem xét bối cảnh của nó (quy
mô dân số, cơ cấu kinh tế xã hội và địa lý và khí hậu đặc điểm)
1.3.2 Một số yếu tố cơ bản của đô thị xanh
- Môi trường tự nhiên: Đất, nước, không khí
- Môi trường vật chất: Các công trình: các không gian ở, công cộng,thương mại, dịch vụ, công viên, cây xanh, công nghiệp, kho tàng, giao thông, hạtầng kỹ thuật, không gian giao tiếp, giao lưu
Trang 17- Môi trường phi vật chất: Văn hóa, tinh thần, sự an toàn, ổn định, cânbằng và công bằng
- Điều kiện sống tốt: về vật chất (ăn, uống, thu nhập, được làm việc) vàtinh thần (hưởng thụ, ngủ, nghỉ ngơi, vui chơi, sinh hoạt)
1 Không gian xanh
1.4 Xây dựng và phát triển đô thị xanh
1.4.1 Lược sử quá trình phát triển đô thị xanh trên thế giới
Có nhiều tóm tắt về quá trình hình thành và phát triển của đô thị sinh thái.Nhận biết được quá trình hình thành và phát triển của đô thị sinh thái giúp ta cómột nền tảng vững chắc cho việc tiếp cận nghiên cứu về đô thị sinh thái
Trang 18Tóm tắt quá trình phát triển đô thị sinh thái theo Nguyễn Văn Long, Ngô Thị Minh Thê, Lê đức Viên, Nguyễn Hoàng Linh, 2017
STHĐT buổi đầu không được khởi xướng bởi các nhà sinh học và sinhthái học Các thuật ngữ “hệ sinh thái” và “sinh thái học cảnh quan” đã lần lượtđược đưa ra vào những năm 1935 và 1939 Vài thập kỷ gần đây, các nhà sinhthái học vẫn chỉ tập trung nhiều vào nghiên cứu “thiên nhiên vắng mặt conngười” Tuy nhiên, cũng có một số điểm sáng nghiên cứu về phân bố không gian
và sự phong phú của động thực vật tại các thành phố ở châu Âu trong giai đoạn
từ năm 1940 tới 1950 sau thế chiến thứ II (Sukopp, 1990, 2002) Những nghiêncứu này chủ yếu được thực hiện bởi các nhà thực vật – động vật học, đại diệncho một cách tiếp cận sinh thái học – sinh học trong đô thị mà đôi khi được gọi
là “trường phái Berlin”
Tại Bắc Mỹ, Adams (1935), một nhà sinh thái động vật học và là ngườitiên phong trong lĩnh vực sinh thái học năng lượng, đã thảo luận khá sâu về mốiquan hệ của sinh thái tổng quát với sinh thái học nhân văn Nội dung được trìnhbày trong cuốn sách sinh thái vào năm 1940, với tiêu đề “mối quan hệ giữa sinhthái học và lợi ích của con người” trong một hội nghị chuyên đề tại Hoa Kỳ(Adams, 1940) Stearns (1970) cũng thừa nhận rằng các nhà sinh học nhìn chung
đã bỏ qua môi trường đô thị trong các nghiên cứu của họ và khẳng định rằng: “Ýnghĩa của các khái niệm sinh thái như: Sự đa dạng, diễn thế, sơ đồ năng lượng,chuỗi thức ăn, động lực dân số và lãnh thổ rất quan trọng trong việc quản lý cácthành phố” Dù những nghiên cứu này là cột mốc quan trọng trong lịch sử củaSTHĐT, nhưng chúng vẫn không thể làm thay đổi nhận thức của các nhà sinhthái rằng: Các thành phố “không xứng đáng” là một địa điểm nghiên cứu
Do vậy, hầu như không thể tìm thấy những phát biểu về STHĐT trong cáctạp chí chính thống của khoa học sinh thái từ cuối thập niên 1980 tới đầu nhữngnăm 1990 Tuy nhiên, một số yếu tố khiến các nhà sinh thái học khi đó quan tâm
Trang 19nhiều hơn tới các khu vực đô thị – Đó là mối quan ngại ngày càng tăng về tácđộng xấu tới môi trường từ quá trình đô thị hóa, sự gia tăng các quan điểm sinhthái nhấn mạnh sự mất cân bằng và động lực đám sinh cảnh (patch dynamics),cũng như ảnh hưởng rộng của phong trào phát triển bền vững đang diễn ra khi
đó Việc thành lập các dự án liên ngành quy mô lớn, chẳng hạn như hai dự ánnghiên cứu sinh thái dài hạn (LTER) tại Hoa Kỳ được hỗ trợ bởi tổ chức khoahọc quốc gia Hoa Kỳ lànghiên cứu hệ sinh thái Baltimore (BES) và nghiên cứusinh thái dài hạn miền Trung Arizona-Phoenix (CAP-LTER), đã đóng một vaitrò quan trọng trong việc trẻ hóa gần đây của STHĐT “Phiên bản mới” củaSTHĐT sau này có đặc trưng là tăng cường yếu tố “liên ngành” và “xuyênngành” trong các chuyên đề nghiên cứu
Tóm tắt quá trình phát triển đô thị sinh thái theo Lưu Đức Hải, 2001, Vấn đề đô thị sinh thái trong phát triển đô thị ở Việt Nam
Ý tưởng về đô thị sinh thái có nguồn gốc từ những năm 80 của thế kỷ XX
và đã được công bố lần đầu tiên bởi các học giả Đức, nó liên quan trực tiếp đếncác cuộc tranh cãi về trách nhiệm đối với hệ sinh thái vốn đã được đưa ra từnhững năm 60 Các khái niệm đô thị sinh thái đầu tiên xoay quanh sự trao đổi vềnhững hoạt động diễn ra trong đô thị như: Vòng tròn năng lượng, nước, chấtthải, khí thải…
Trong vài năm qua, phong trào xây dựng các đô thị sinh thái đã phát triểntrên toàn thế giới Khai sinh ra phong trào Ecocity là Richard Register, mộtchuyên gia thiết kế đô thị được quốc tế công nhận Ông đã thành lập Khoa Đô thịsinh thái ở Berkeley (Mỹ) vào năm 1975, và đã cố gắng tổ chức một số hội nghịđịa phương để biến đổi Berkeley để thành một Ecocity Nhóm Sinh thái học đôthị sau này được chuyển thành Ecocity Builders, một tổ chức phi chính phủ gắntrách nhiệm môi trường với phát triển đô thị thông qua giáo dục cộng đồng và tư
Trang 20vấn với các chính phủ và các nhà quy hoạch Phương châm của nhóm là “để xâydựng lại nền văn minh trong sự cân bằng với thiên nhiên.”
Năm 1990, Những gì do Register và The Ecocity Builders khởi xướng đãtrở thành một thành phần quan trọng của phong trào Ecocity Hội nghị Ecocityquốc tế, đã được tổ chức hai năm một lần sau đó, trên năm châu lục khác nhau.Tháng 8 năm 2002, hội nghị được tổ chức tại Thẩm Quyến, một đô thị vườn củaTrung Quốc Kể từ năm 1990, hội nghị đã trở thành một trong những diễn đànquan trọng nhất về phát triển bền vững
Các nguyên tắc của phong trào Ecocity khá đơn giản: mọi người có thểsống, làm việc, mua sắm tại các cửa hàng, vui chơi trong một khoảng cách gần
và giao thông là thứ mà người dân cần sử dụng khi họ đang ở chỗ mà họ khôngmuốn ở Lựa chọn giao thông đầu tiên trong ecocity phải là đi bộ, xe đạp là thứhai, thứ ba là phương tiện giao thông công cộng, và cuối cùng mới đến xe hơi
1.4.2 Một số đô thị xanh tiêu biểu trên thế giới
Bắt đầu vào cuối thập niên 1950, khi những nhà quy hoạch đô thị củathành phố bắt đầu khuyến khích việc xây dựng các tòa nhà ở cao tầng tại khuWest End của Vancouver đưa ra các yêu cầu nghiêm ngặt về không gian để bảo
vệ tuyến, tầm nhìn và không gian xanh Sự thành công của các khu phố dày đặcnày dẫn đến việc tái kiến thiết các điểm đô thị công nghiệp, như North FalseCreek và Coal Harbour, bắt đầu vào giữa thập niên 1980 Kết quả là một hạt