Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; đất nước
Trang 1XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC 1975-1981
A Khái quát về Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930 là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam trong thời đại mới, Hồ Chí Minh viết: Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Marx-Lenin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền và là chính đảng duy nhất được phép hoạt động tại Việt Nam theo Hiến pháp Theo Cương lĩnh và Điều lệ chính thức hiện nay, Đảng là đại diện của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Marx-Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động
Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã giành được trong hơn 90 năm qua đều gắn liền với quá trình xây dựng, trưởng thành và phát triển của Đảng Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; đất nước đã thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới
B Nội dung
1 Đường lối, chủ trương của Đảng
1.1 Bối cảnh lịch sử
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) đã kết thúc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta, đưa cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn mới: cả nước quá độ đi lên CNXH với nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn
- Thuận lợi:
+ Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954 – 1975) đã đạt những thành tựu to lớn và toàn diện, xây dựng được những cơ sở vật chất – kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội Miền Nam được hoàn toàn giải phóng
+ Đất nước thống nhất tạo cơ hội để thế mạnh của mỗi vùng, miền được phát huy
và bổ sung cho nhau trong phát triển
Trang 2+ Nhân dân ta vô cùng phấn khởi, hăng hái bắt tay xây dựng cuộc sống mới với niềm tin to lớn vào Đảng và con đường đi lên CNXH
+ Quan hệ quốc tế mở rộng, viện trợ nhân đạo, vốn vay phát triển cho Việt Nam được khôi phục Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hàng chục nước, nhất là các nước tư bản chủ nghĩa, tranh thủ được sự giúp đỡ về vật chất của nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế nhằm khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh Việt Nam nhanh chóng gia nhập Liên Hợp Quốc (20/9/1977)
- Khó khăn:
+ Chiến tranh cũ (1954-1975) và chiến tranh mới (1978-1990) đã để lại những hậu quả nặng nề về kinh tế, văn hóa, xã hội; các nguồn lực của đất nước bị tổn thất nghiêm trọng; đời sống của nhân gặp muôn vàn khó khăn, thiếu thốn
+ Mỹ thực hiện bao vây, cấm vận Việt Nam bắt đầu từ 1/5/1975 đồng thời lôi kéo, tập hợp bọn phản động trong và ngoài nước, bọn phản động quốc tế tăng cường chống phá Việt Nam
+ Thực hiện kinh tế: tập trung, quan liêu, bao cấp Chế độ kế hoạch hóa tập trung, bao cấp tràn lan
Có thể thấy, nền kinh tế nước ta lúc này vốn đang trong giai đoạn thấp kém, Thiên tai dồn dập, dự trữ nguyên vật liệu đang bị cạn kiệt Các nguồn lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của ta rất hạn chế; viện trợ của các nước XHCN sụt giảm, đã làm cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội bắt đầu xuất hiện Hầu hết chỉ tiêu của Nhà nước không đạt được Đời sống nhân dân căng thẳng, thiếu thốn, tình trạng đói ăn xuất hiện
1.2 Đường lối, chủ trương của Đảng
Ngày 30/4/1975 đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
Tuy nhiên về mặt hình thức ở miền Nam vẫn còn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Miền Bắc là Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng Hòa Một nước thống nhất không thể có hai chính quyền
→ Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 24 (8-1975) chủ trương: Nhanh chóng thống nhất nước nhà về mặt nhà nước, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH Hội nghị nhấn mạnh: Thống nhất đất nước vừa là nguyện
vọng thiết tha của nhân dân cả nước, vừa là quy luật khách quan của sự phát triển của Cách mạng Việt Nam
Trang 3 Ngày 3-1-1976 Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 228-CT/TW nêu
rõ tầm quan trọng của cuộc Tổng tuyển cử và giao trách nhiệm cho các cấp
ủy lãnh đạo cuộc bầu cử
25-4-1976 cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất được tiến hành và bầu ra 492 đại biểu
Từ 24-6 đến 3-7-1976, kỳ họp thứ Nhất của Quốc hội nước Việt Nam thống nhất tại Thủ đô Hà Nội Quốc hội quyết định:
Đặt tên nước ta là nước Cộng hoà XHCN Việt Nam; Quốc kỳ nền đỏ sao vàng 5 cánh, Thủ đô là Hà Nội, quốc ca là bài Tiến quân ca, quốc huy mang dòng chữ Cộng hòa XHCN Việt Nam; Thành phố Sài Gòn đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh
Bổ nhiệm các chức vụ lãnh đạo cao nhất của đất nước:
Đồng chí Tôn Đức Thắng: chủ tịch nước
Đồng chí Trường Chinh: Chủ tịch Quốc hội
Các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Hữu Thọ: Phó chủ tịch nước
Từ ngày 14 đến 20-12-1976 tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IV của Đảng đã họp nhằm tổng kết quá trình cách mạng dân tộc, dân chủ ở nước ta và đề ra đường lối cách mạng XHCN
Đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam, sửa đổi
Điều lệ Đảng
Đại hội lần thứ IV của Đảng đã nêu lên ba đặc điểm lớn của cách mạng nước
ta trong giai đoạn mới:
Một là, nước ta từ một xã hội mà nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ tiến
thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa
Hai là, Tổ quốc ta đã hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước tiến lên CNXH với
những thuận lợi lớn, song cũng còn nhiều khó khăn do hậu quả của chiến tranh và tàn dư của chủ nghĩa thực dân mới gây ra
Ba là, cách mạng XHCN ở nước ta tiến hành trong hoàn cảnh quốc tế thuận lợi,
song cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa thế lực cách mạng và thế lực phản cách mạng trên thế giới còn gay go, quyết liệt
Bầu Ban Chấp hành Trung ương: 101 ủy viên chính thức, 32 ủy viên dự khuyết, bầu đồng chí Lê Duẩn làm Tổng Bí thư của Đảng
Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khẳng định thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi đi vào lịch
sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX
Những đặc điểm trên nói lên rằng, nước ta có đủ điều kiện đi lên và xây dựng thành công CNXH song đó là sự nghiệp khó khăn, phức tạp, lâu dài đòi hỏi Đảng
Trang 4và nhân dân ta phải phát huy cao độ tính chủ động, tự giác, sáng tạo trong quá trình Cách mạng XHCN
Trên cơ sở đánh giá đúng đặc điểm và tình hình đất nước, Đại hội đã xác
định Đường lối chung của cách mạng XHCN trong giai đoạn mới là:
Nắm vững chuyên chính vô sản, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học-kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học-kỹ thuật là then chốt;
Đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá
độ lên CNXH;
Xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn XHCN, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới XHCN;
Xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu
Đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội;
Xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và XHCN
Góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH
Đường lối xây dựng kinh tế XHCN:
Đẩy mạnh công nghiệp hoá XHCN
Ưu tiên phát triển CN nặng trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ → cơ cấu kinh tế công-nông nghiệp;
Vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương
Kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới
Đối ngoại
15/9/1976, Việt Nam tiếp nhận ghế thành viên chính thức quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
29/6/1978, Việt Nam ra nhập hội đồng tương trợ kinh tế (khối SEV)
31/11/1978, Việt Nam kí hiệp ước hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô
Từ 1975-1977, nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 23 nước
20/9/1977, tiếp nhận ghế thành viên Liên hợp quốc
Tuy nhiên, từ năm 1979, lấy cơ sự kiện Campuchia, các nước Asean tham gia liên minh thực hiện bao vây cô lập Việt Nam (1 trong những nguyên nhân gây khủng hoảng kinh tế trầm trọng trong những năm 80 của thế kỉ
XX ở Việt Nam)
Trang 5( Ngay sau khi thống nhất đất nước , đầu tháng 5/1975, quân Khơ me đỏ liên tục tấn công chúng ta trên đảo Thổ Chu và dọc biên giới phía Tây Nam VN-Campuchia Để bảo vệ lãnh thổ VN, trước lời kêu gọi của mặt trận nhân dân cứu quốc Campuchia, chúng ta đã đưa quân vào Phnompenh.
1979, mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước trên khu vực và thế giới rất xấu bởi
sự kiện ta đưa quân vào Campuchia → nhiều nước cho rằng Việt Nam đã xâm lược Campuchia → Đưa ra lệnh bao vây về kinh tế và cô lập về chính trị đối với VN)
→ Tăng cường quan hệ kinh tế với các nước xã hội chủ nghĩa anh em đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác
Đến 1980, chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 106 nước
Trên cơ sở đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới, Đại hội đã xác định các nội dung về:
Phương hướng và nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 1976 -1980:
Vừa xây dựng đất nước, vừa cải tạo XHCN
Đẩy mạnh cách mạng tư tưởng và văn hoá, xây dựng và phát triển nền văn hoá mới
Coi trọng nhiệm vụ quốc tế và chính sách đối ngoại của Đảng
Nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
Cải thiện một bước đời sống nhân dân
1.3 Những tìm tòi, khảo nghiệm đổi mới kinh tế
Sau khi đất nước thống nhất, cả nước quá độ lên CNXH, mô hình kinh tế kế hoạch hóa (một mô hình đã giúp chúng ta huy động và tập trung được mọi nguồn lực để chiến đấu và chiến thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ) vẫn được thực hiện
Tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn 1975: Đó là giai đoạn chúng ta đã phạm
phải một số sai lầm cơ bản
Cơ chế kế hoạch hóa tập trung khiến kinh tế Liên Xô bắt đầu có dấu hiệu khủng hoảng Trong quan hệ quốc tế, Mỹ và nhiều quốc gia châu Âu thực hiện cấm vận kinh tế với Việt Nam
Còn ở trong nước, chiến lược phát triển kinh tế dựa trên cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp Nền kinh tế chỉ dựa vào hai thành phần quốc doanh
và tập thể, kinh tế tư nhân không được phát triển, thị trường không được công nhận… đã làm thui chột động lực tăng trưởng của nền kinh tế, đặc biệt là trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Có thể nói là cả nước làm không đủ ăn!
Trước hoàn cảnh đó, vấn đề sống còn là đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng Đảng ta đã giành nhiều trí tuệ, công sức nghiên cứu tìm tòi, khảo nghiệm, đổi mới mô hình và cơ chế quản lý kinh tế Từ đó có những tìm tòi thử nghiệm và
Trang 6cách làm mới, mạnh dạn và sáng tạo, sát với yêu cầu cấp bách của đời sống kinh
tế
Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (8-1979), với chủ trương bằng mọi cách
"làm cho sản xuất bung ra", là bước đột phá đầu tiên của quá trình tìm tòi và thử nghiệm đó
Trước hết, Hội nghị xác định phải coi nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay là động viên cao độ và tổ chức toàn dân đẩy mạnh sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp nhằm đảm bảo lương thực, thực phẩm, cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp, tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu Việc xây dựng kế hoạch phải tính đến yếu tố thị trường, và sự tồn tại của thị trường tự do là tất yếu
Về cải tạo xã hội chủ nghĩa, phải tận dụng các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể để phát triển sản xuất; phải tùy từng ngành nghề, từng mặt hàng và xuất phát từ hiệu quả kinh tế mà vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức sản xuất cho thích hợp
Tháng 10-1979, Hội đồng Chính phủ công bố quyết định xóa bỏ những trạm kiểm soát ngăn sông cấm chợ Người sản xuất có quyền đưa sản phẩm ra trao đổi ngoài thị trường không phải nộp thuế sau khi làm đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước
Ngày 22-6-1980, Trước hiện tượng “khoán chui” ở một số các hợp tác xã nông nghiệp, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông báo số 22, cho phép các địa phương mở rộng thí điểm khoán sản phẩm và khoán việc đối với cây lúa trong các hợp tác xã nông nghiệp
Trên mặt trận phân phối lưu thông, ngày 23-6-1980, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 26/NQ-TW về cải tiến công tác phân phối, lưu thông Nghị quyết đã
đề ra mục tiêu, biện pháp và các bước cụ thể của việc cải tiến công tác phân phối lưu thông
Ngày 13-1-1981, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 100/CT-TW về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp Theo tinh thần của Chỉ thị này, mỗi xã viên nhận mức khoán trên một diện tích nhất định và tự mình làm 3 khâu: cấy, chăm sóc và thu hoạch, còn những khâu khác do hợp tác xã đảm nhiệm Nếu thu hoạch vượt mức khoán thì xã viên được hưởng
Ngày 21-1-1981, Trong lĩnh vực công nghiệp, trên cơ sở tổng kết các hiện tượng “xé rào” và làm thí điểm nhằm phát triển công nghiệp, Chính phủ đã ban hành Quyết định 25-QĐ/CP về quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh
Cùng ngày, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 26-QĐ/CP về việc
mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của Nhà nước
Trang 7Những tìm tòi, đổi mới từng phần từ 1979-1981 được xuất phát từ thực tế cuộc sống, dựa trên những sáng tạo của nhân dân, của địa phương Đó là những giải pháp tình thế, hướng vào giải quyết những khó khăn trước mắt về đời sống kinh tế,
xã hội Những ý tưởng ban đầu của đổi mới tuy còn sơ khai, chưa cơ bản và toàn diện, nhưng đó là bước mở đầu có ý nghĩa, đặt những cơ sở đầu tiên cho quá trình đổi mới toàn diện sau này Những đổi mới từng phần nêu trên chưa đủ sức giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra vì nó vẫn nằm trong bối cảnh chung là mô hình chủ nghĩa xã hội cũ, tư duy về kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp cơ bản còn tồn tại Thực tiễn đòi hỏi Đảng phải tiếp tục tìm tòi đổi mới mạnh hơn về kinh tế.
2 Tổ chức, thực hiện đường lối
2.1 Xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước
a Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước và hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước, Việt Nam chuyển sang giai đoạn đất nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội
* Mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội:
Độc lập và thống nhất là điều kiện tiên quyết để đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Tiến lên chủ nghĩa xã hội sẽ đảm bảo cho nền độc lập và thống nhất đất nước thêm bền vững
Độc lập và thống nhất đất nước không những gắn với nhau mà còn gắn với chủ nghĩa xã hội Đó là con đường phát triển hợp quy luật của cách mạng nước ta
b Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng
Trước hoàn cảnh lịch sử trong nước và thế giới có nhiều thuận lợi đồng thời cũng có nhiều khó khăn thách thức, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 14 đến
ngày 20/12/1976
Dự Đại hội có 1008 đại biểu thay mặt hơn 1.5 triệu đảng viên trong cả
nước Đến dự Đại hội còn có 29 đoàn đại biểu các Đảng (Đảng cộng sản, Đảng công nhân, phong trào giải phóng dân tộc) và các tổ chức quốc tế
Đại hội đã thông qua Báo cáo chính trị, Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ
và mục tiêu kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980), Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng, Bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 101 ủy viên chính thức, 32 dự khuyết
Đại hội đã xác định các nội dung:
Trang 8 Phương hướng và nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 1976-1980 là phát triển và cải tạo kinh tế, văn hoá, phát triển khoa học, kỹ thuật;
Đẩy mạnh cách mạng tư tưởng và văn hoá, xây dựng và phát triển nền văn hoá mới;
Tăng cường Nhà nước xã hội chủ nghĩa, phát huy vai trò của các đoàn thể, làm tốt công tác quần chúng;
Coi trọng nhiệm vụ quốc tế và chính sách đối ngoại của Đảng;
Nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
Đại hội lần IV của Đảng là đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, khẳng định và xác định đường lối đưa cả nước tiến lên CNXH
mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn
c Kế hoạch Nhà nước 5 năm (1976 – 1980)
- Chủ trương: Đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu của kế hoạch 5 năm (1976-1980)
Xây dựng cơ sở vật chất của CNXH,hình thành cơ cấu kinh tế mới,
Cải thiện đời sống nhân dân
2.2 Bảo vệ Tổ quốc XHCN
a Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam
Ngay sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, tập đoàn Khơ Me Đỏ do
Pôn Pốt cầm đầu ở Campuchia, đã tiến hành khiêu khích, xâm phạm nhiều vùng lãnh thổ nước ta từ Tây Ninh – Hà Tiên
Đầu tháng 5/1975 chúng đánh chiếm đảo Thổ Chu và Phú Quốc
Từ 18-30/4/1977, quân Pôn Pốt tấn công trên tuyến biên giới An Giang, giết hàng ngàn dân thường
Ngày 25/7/1977, 4 sư đoàn quân Pôn pốt tiến sâu vào nước ta 19km, tàn sát
9000 dân thường thuộc 13 xã của huyện Tân Biện tỉnh Tây Ninh
Ngày 22/12/1978, 19 sư đoàn tiến đánh Tây Ninh, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lấn biên giới Tây Nam nước ta
Trước tình hình đó thực hiện quyền tự vệ chính đáng quân Việt Nam kết hợp với lực lượng cách mạng Campuchia, tiến công tiêu diệt lực lượng Pôn pốt, ngày 7 – 1 – 1979, PhnomPenh được giải phóng khơme đỏ bị lật đổ
Trang 9Ngày 18-2-1979, Việt Nam và Campuchia ký Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và hợp tác:
Quân đội Việt Nam có mặt ở Campuchia để giúp bạn bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và hồi sinh đất nước Hành động đó của Việt Nam là chính nghĩa
và cũng xuất phát từ nhu cầu tự vệ chính đáng được ghi nhận trong Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc và đã được nhân dân Campuchia và thế giới ghi nhận
- Từ 14/7/1979, Bộ Tổng tham mưu ra lệnh rút từng bộ phận quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia về nước Đến ngày 26/9/1989, đợt rút quân cuối cùng đã hoàn thành
=> Ý nghĩa: đem lại hòa bình cho biên giới Tây Nam.
b Cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới phía Bắc.
Một số nhà lãnh đạo Trung Quốc ủng hộ bọn Pôn Pốt nên đã khiêu khích ta ở dọc biên giới phía Bắc Họ dựng lên sự kiện "nạn kiều", cắt viện trợ, rút chuyên gia, liên tiếp lấn chiếm dẫn đến xung đột trên tuyến biên giới phía Bắc
Sáng ngày 17/2/1979, Trung Quốc đã dùng 32 sư đoàn tiến công dọc biên giới nước ta từ Móng Cái đến Phong Thổ (Lai Châu) gây ra những thiệt hại rất nặng nề
Để bảo vệ lãnh thổ, quân dân ta đã kiên quyết đánh trả Ngày 18/3/1979, quân Trung Quốc phải rút khỏi nước ta
=> Ý nghĩa:
Giữ gìn hòa bình, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ
Khôi phục tình đoàn kết, hữu nghị hợp tác giữa VN - Trung Quốc -
Campuchia với tinh thần "khép lại quá khứ, mở rộng tương lai"
3 Đánh giá sự lãnh đạo của Đảng giai đoạn 1975-1981
3.1 Thành tựu đã đạt được
Hoàn thành thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước là thành tựu nổi bật, có ý nghĩa to lớn; đó là cơ sở để thống nhất nước nhà trên các lĩnh vực khác, tạo
ra sức mạnh toàn diện của đất nước; là điều kiện tiên quyết để đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
Đạt được những thành tựu quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội Đó
là cơ sở để thống nhất tư tưởng hành động của toàn Đảng, toàn dân; là cơ sở
để Đảng ta từng bước cụ thể hóa, bổ sung, phát triển nhận thức về con
đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng phù hợp hơn
Trang 10 Giành thắng lợi to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, giữ vững trật tự an ninh, xã hội và hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc tế
Kế hoạch 5 năm do Đại hội đề ra đã đạt nhiều thành tựu trong khôi phục kinh
tế, văn hóa, giáo dục, y tế Tầng lớp tư sản mại bản ở miền Nam bị xóa bỏ
Thành tựu:
*Trong khôi phục và phát triển kinh tế.
Phục hồi công, nông nghiệp, giao thông vận tải
- Nông nghiệp, diện tích gieo trồng tăng lên gần 2 triệu ha, nông nghiệp được trang
bị thêm máy móc
- Công nghiệp: nhiều nhà máy được gấp rút xây dựng như nhà máy điện, cơ khí, xi măng
- Giao thông vận tải được khôi phục và xây dựng mới nhiều tuyến đường Tuyến đường sắt thống nhất từ Hà Nội đi TPHCM hoạt động trở lại
*Công cuộc cải tạo XHCN
- Cải tạo XHCN được đẩy mạnh, giai cấp tư bản mại bản bị xoá bỏ , đại bộ phận nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể, thủ công nghiệp và thương mại được sắp xếp tổ chức lại
*Văn hóa, giáo dục, y tế:
Xoá bỏ những biểu hiện văn hóa phản động, xây dựng văn hoá mới, hệ thống giáo dục từ mầm non, phổ thông đến đại học đều phát triển, công tác chăm lo sức khỏe nhân dân được quan tâm
3.2 Hạn chế và nguyên nhân
a Hạn chế:
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội VI của Đảng (12-1986) đã nghiêm túc kiểm điểm, chỉ rõ những sai lầm, khuyết điểm của cả thời kỳ 1975-1986 và nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó Cụ thể là:
hoàn thành, đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội từ cuối những năm 70
và kéo dài trong nhiều năm Biểu hiện của khủng hoảng là:
Sản xuất tăng trưởng chậm và không ổn định: Từ năm 1976 đến 1979, đầu tư của nhà nước cho nông nghiệp không ngừng tăng, nhưng năng suất và sản