Trên cơ sở Biên bản vi phạm hành chính nêu trên, ngày 10/3/2014, Thanhtra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hànhchính trong hoạt động văn hóa, thể th
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
HỒ SƠ SỐ: 12 KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH
Gíao viên hướng dẫn:………
Trang 2BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN HỒ SƠ HÀNH CHÍNH
I Tóm tắt nội dung vụ án
Bà Nguyễn Thị Tuyết là chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ nhà trọ bình dânHoàng Lan (Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Hộ kinh doanh cá thể số 39A8005684) tại tổ 9, phường Đông Lân, thành phố P, tỉnh G.L
Vào lúc 21 giờ 10 phút, ngày 23/12/2013, Đoàn kiểm tra của Thanh tra sởVăn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L đã đến kiểm tra cơ sở kinh doanh của bàTuyết Quá trình kiểm tra, Đoàn đã lập Biên bản vi phạm hành chính trong hoạtđộng văn hóa, thể thao và du lịch số 11/BB-VPHC đối với bà Tuyết với nội dung
“tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan, phòng 11 có ông Nguyễn Văn Thường
và bà Nguyễn Thị Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục); phòng số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy kết hôn đang ở chung phòng xem ti vi; tại thời điểm kiểm tra phòng số 11, chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lợi” Từ đó, đưa ra
kết luận “chủ cơ sở nhà trọ Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hành
vi vi phạm như trên”.
Trên cơ sở Biên bản vi phạm hành chính nêu trên, ngày 10/3/2014, Thanhtra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hànhchính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch số 23/QĐ-XPHC với nội dung
xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Tuyết vì đã có hành vi “thiếu tinh thần tráchnhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về anninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” (áp dụng khoản 1 Điều 25 Nghị định167/2013/NĐ-CP), với hình thức xử phạt là phạt tiền 15.000.000 đồng
Cho rằng, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP ngày10/3/2014 là không phù hợp với quy định của pháp luật vì đã không áp dụng đúngquy định của pháp luật và việc xử phạt không có căn cứ nên ngày 24/3/2014 bàTuyết đã làm đơn khiếu nại Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
Quá trình giải quyết, Thanh tra Sở xác định việc xử lý vi phạm đối với bàTuyết là hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật nên ngày 20/4/2014 đã banhành Quyết định số 01/QĐ-TTr về việc giải quyết đơn khiếu nại xử phạt vi phạmhành chính lần đầu, với nội dung không chấp nhận khiếu nại của bà Tuyết mà vẫngiữ nguyên quyết định 23/QĐ-XP
Không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại, bà Tuyết đã làm đơn khởikiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G.L hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hànhchính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
Tòa án nhân dân tỉnh G.L đã thụ lý (bà Tuyết đã nộp tạm ứng án phí), giảiquyết vụ án và ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2014/QĐST-XX ngày10/9/2014
Trang 3II Các văn bản pháp luật dự kiến áp dụng để giải quyết vụ án
1 Luật tố tụng hành chính 2015 (LTTHC);
2 Luật khiếu nại 2011 (LKN);
3 Pháp lệnh số 10/2003/PL-UBTVQH11 về phòng chống mại dâm năm2003;
4 Nghị định 178/2004/NĐ-CP ngày15/10/2004 của Chính phủ hướng dẫnpháp lệnh phòng chống mại dâm;
5 Nghị định 72/2009/NĐ-CP ngày 03/09/2009 của Chính phủ quy định điềukiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện;
6 Nghị định 73/2010/NĐ-CP ngày 12/07/2010 của Chính phủ về xử phạt viphạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội;
7 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội;
8 Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xửphạt hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo;
9 Nghị quyết 01/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng thẩm phánTòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết56/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội về việc thi hành LTTHC;
10 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng thẩm phánTòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của LTTHC;
11 Thông tư số 33/2010/TT-BCA ngày 05/10/2010 của Bộ công an quyđịnh cụ thể điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành nghề kinh doanh cóđiều kiện
III Xác định tư cách đương sự
Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Tuyết (khoản 8 Điều 3 Luật tố tụng hànhchính 2015);
Người bị kiện: Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (khoản 9Điều 3 Luật tố tụng hành chính 2015);
Đối tượng khởi kiện: Quyết định số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 (khoản 2Điều 3 Luật tố tụng hành chính 2015);
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Thường; Bà Nguyễn Thị Lành; ÔngPhan Văn; Bà Nguyễn Thị Thùy (khoản 1 Điều 62 Luật tố tụng hành chính 2015)
Trang 4IV Câu hỏi dự kiến tại phiên tòa
Với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Người khởi kiện
-bà Tuyết:
1 Hỏi người bị kiện:
Tại biên bản vi phạm vi phạm hành chính lập ngày 23/12/2013, Đoàn kiểmtra đã căn cứ vào Nghị định 158/2013/NĐ-CP để xác định hành vi vi phạm đúngkhông?
Vậy theo ông các hành vi vi phạm của cơ sở bà Tuyết có thuộc sự điều chỉnhcủa Nghị định này hay không?
Quyết định xử lý vi phạm số 23/QĐ-XP căn cứ vào Điều 25 Nghị định số167/2013/NĐ-CP để xác định hành vi vi phạm đúng không?
Vậy ông có ý kiến gì khi Biên bản vi phạm hành chính và quyết định xửphạt căn cứ vào các quy định pháp luật khác nhau để xác định hành vi vi phạm?
Theo ông thì việc nam và nữ ở cùng phòng khách sạn với nhau mà không cóGiấy chứng nhận đăng ký kết hôn là hành vi mua bán dâm phải không?
Vậy ông cho biết hoạt động mại dâm trong trường hợp này được xác địnhnhư thế nào theo quy định của pháp luật và ông có các chứng cứ chứng minh haykhông?
Vào ngày kiểm tra 23/12/2013 tại nhà trọ Hoàng Lan, Đoàn kiểm tra củaThanh tra Sở có lập biên bản hành vi mua bán dâm của hai cặp nam nữ tại phòng
2 Hỏi người khởi kiện
Từ khi lập biên bản vi phạm hành chính cho đến khi ra quyết định xử phạt,
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L có mời bà lên làm việc không?
Quyết định xử phạt số 23/QĐ-XP đã gây ra những ảnh hưởng như thế nàocho công việc và cuộc sống của bà?
Tại phiên tòa hôm nay, bà có yêu cầu gì khác không?
3 Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Thường hãy cho hội đồng xét biết ông có quan hệ như thế nào với bàLành?
Vào ngày 23/12/2013 ông Thường và bà Lành có bị Thanh tra sở lập biên
Trang 5bản về hành vi mua bán dâm không?
Ông Văn bà Thuỳ có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn chưa?Ông Thường bà Lành có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn chưa?
Trang 6V Luận cứ bảo vệ khách hàng
Kính thưa Hội Đồng Xét Xử! Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát!
Thưa quý Luật sư đồng nghiệp!
Tôi là luật sư Đỗ Thị Minh Anh, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ ChíMinh, tham gia phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chongười khởi kiện – bà Nguyễn Thị Tuyết trong vụ án “Yêu cầu hủy Quyết định xửphạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra SởVăn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L” với người bị kiện - Chánh thanh tra SởVăn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án kết hợp với quá trình tranh tụng tại phiên tòahôm nay, tôi có một số quan điểm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà NguyễnThị Tuyết như sau:
1 Áp dụng văn bản pháp luật chưa có hiệu lực để xử phạt hành vi vi phạm gây bất lợi cho người vi phạm.
Nghị định 167/2013/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 28/12/2013 (theo khoản 1điều 72 Nghị định này) Tại thời điểm xảy ra sự việc, tức ngày lập biên bản số11/BB-VPHC ngày 23/12/2013, nghị định này vẫn chưa có hiệu lực Theo khoản 1
Điều 73 của nghị định 167/2013/NĐ-CP “Đối với hành vi vi phạm hành chính
trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy, phòng chống bạo lực gia đình xảy ra trước ngày Nghị định này
có hiệu lực mà sau đó mới phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết thì áp dụng các quy định có lợi cho cá nhân, tổ chức vi phạm”.
Liên quan đến trường hợp này, việc áp dụng các quy định tại khoản 1 Điều 25Nghị định 167/2013/NĐ-CP sẽ không có lợi cho bà Tuyết so với việc áp dụngđiểm đ khoản 3 Điều 14 Nghị định 73/2010/NĐ-CP và Khoản 2 Điều 20 nghị định178/2004/NĐ-CP (là các nghị định được thay thế bởi Nghị định 167/2013) Cụ thể
là theo điểm đ khoản 3 điều 14 NĐ 73/2010 “Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
15.000.000 đồng “ đối với hành vi “ tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm, ma túy,
cờ bạc hoặc các hoạt động khác trái pháp luật” Khoản 2 Điều 20 Nghị định
178/NĐ-CP “Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với người
đứng đầu cơ sở kinh doanh quản lý do thiếu tinh thần trách nhiệm để hoạt động mại dâm xảy ra ở cơ sở mình quản lý mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”.
Trong khi đó khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP lại quy định “phạttiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người đứng đầu cơ sở kinhdoanh dịch vụ do thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hoạt động mua dâm, bándâm ở cơ sở mình quản lý” Có thể thấy mức xử phạt đối với hành vi tương ứngquy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP cao hơn so vơi nghị định 73/2010 và nghịđịnh 178/2004 Như vậy việc áp dụng quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CPtrong trường hợp này sẽ làm tăng trách nhiệm hành chính và không có lợi cho
Trang 77người vi phạm Điều này trái với nguyên tắc áp dụng hiệu lực hồi tố nói chung vàtrái với quy định tại khoản 1 điều 73 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP nói riêng.
Trang 82 Quyết định xử phạt số 23/QĐ-XP được ban hành đã hết thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Căn cứ theo điều Điều 66 Luật xử lý VPHC về thời hạn ra quyết định xử phạt
vi phạm hành chính quy định: “(1) Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp
mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản (2) Có thể gia hạn nhưng không quá 30 ngày”.
Căn cứ theo quy định pháp luật như trên thì thời hạn tối đa để Chánh thanhtra Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh G.L (Chánh thanh tra) ra Quyết định xửphạt đối với bà Tuyết (kể cả thời gian gia hạn) là 60 ngày
Thế nhưng bà Tuyết bị lập biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHCvào ngày 23/12/2013 Căn cứ vào biên bản vi phạm này đến ngày 10/3/2014 bàTuyết bị ban hành Quyết định xử phạt số 23/QĐ-XP xử phạt về hành vi vi phạm.Như vậy kể từ ngày bà Tuyết bị lập biên bản vi phạm đến ngày có quyết định xửphạt là 77 ngày Bên cạnh đó, việc gia hạn không được thực hiện đúng theo trình tựluật định, theo quy định tại khoản 1 điều 66 Luật xử phạt vi phạm hành chính:
“Trong trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và
thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn”.
Tại phiên tòa hôm nay người bị kiện cũng thừa nhận rằng ông Trần NgọcMinh là người có thẩm quyền xử phạt nhưng tại văn bản xin gia hạn 02/TT-TTrngày 16/01/2014 người ký văn bản lại là Thượng Tá Nguyễn Thạc, ở đây có thểthấy rằng có sự mâu thuẫn về thẩm quyền ký văn bản gia hạn Việc gia hạn này làkhông đúng, vì thế đây được coi là vụ việc thông thường người có thẩm quyền phải
ra quyết định xử phạt trong vòng 7 ngày
Từ đó chứng minh rằng Chánh thanh tra ra Quyết định xử phạt số 23/QĐ-XP
xử phạt đối với bà Tuyết đã là quá 60 ngày theo quy định tại Điều 66 Luật xử lýVPHC Quyết định số 23 đã vi phạm pháp luật về thời hạn ra quyết định xử phạt viphạm hành chính
3 Hành vi vi phạm và hành vi bị xử phạt là không đồng nhất với nhau,
bà Tuyết không có vi phạm theo như nội dung Quyết định xử phạt.
Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính năm
2012 quy định :“ Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành
chính do pháp luật quy định”.
Căn cứ theo biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC vào ngày
23/12/2013 thì bà Tuyết có hành vi vi phạm là “ tại thời điểm kiểm tra nhà trọ
Trang 9Hoàng Lan phòng 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành không
có giấy đăng ký kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục); phòng số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có giấy đăng ký kết hôn đang ở chung phòng xem ti vi; tại thời điểm kiểm tra tại phòng số 11 chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành”.
Quyết định xử phạt số 23/QĐ-XP lại ghi chủ nhà trọ Hoàng Mai có hành vi
vi phạm hành chính là “ thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác
lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm”, để áp dụng khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013
của Chính phủ
Khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định: “Phạt tiền từ
15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người đứng đầu cơ sở kinh doanh dịch vụ do thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hoạt động mua dâm, bán dâm ở
cơ sở do mình quản lý”, căn cứ vào quy định này Chánh thanh tra đã ban hành
sự tự nguyện, hợp pháp của vợ chồng ông Thường, bà Lành, không có sự mua bándâm xảy ra ở đây
Đồng thời theo quy định tại khoản 5 Điều 3 pháp lệnh phòng chống mại dâm
quy định: “tổ chức hoạt động mại dâm là hành vi bố trí, sắp xếp để thực hiện việc
mua dâm, bán dâm” Phía người bị kiện không chứng minh được chủ thể nào là
người tổ chức, chủ thể nào bán dâm, chủ thể nào mua dâm…cho nên kết luận chorằng chủ nhà trọ Hoàng Lan tạo điều kiện để tổ chức hoạt động mại dâm là không
có căn cứ
Trường hợp qua kiểm tra phòng số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn ThịThùy không có giấy đăng ký kết hôn đang ở chung phòng xem ti vi Ông Văn trìnhbày ông Văn và bà Thùy đã là bạn nhau từ trước, đã tổ chức đám hỏi nhưng chưacưới, bà Thùy đang mang bầu Ông Văn, bà Thùy đến thăm nhau, thuê phòng trọxem tivi, để nghỉ ngơi là chuyện bình thường, không vi phạm pháp luật Do đó nếucho rằng chủ nhà trọ Hoàng Lan tạo điều kiện để tổ chức hoạt động mại dâm cũng
là chưa có căn cứ
Trang 10Thêm nữa, Bà Tuyết không có nghĩa vụ yêu cầu khách thuê phòng phải xuấttrình Giấy đăng ký kết hôn Theo quy định cũ tại Mục 8.5 Phần IV Thông tư02/2001/TT-BCA đã hết hiệu lực ngày 20/11/2010 có quy định tổ chức, cá nhânhoạt động ngành nghề cho thuê lưu trú phải bố trí phòng nghỉ nam riêng, nữ riêng(trừ trường hợp gia đình, vợ chồng) Tuy nhiên Thông tư 33/2010/TT-BCA thaythế Thông tư 02/2001/TT-BCA đã hủy bỏ quy định này Do đó bà Tuyết không cótrách nhiệm yêu cầu khách thuê phòng chứng mình họ là vợ chồng hợp pháp.
Như vậy Quyết định xử phạt số 23/QĐ-XP xử phạt đối với bà Tuyết là
“ thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” là hoàn toàn
không đúng sự thật, không có cơ sở, không có căn cứ
Trang 114 Chánh thanh tra ban hành Quyết định số 23 vượt quá thẩm quyền
mà pháp luật cho phép.
Căn cứ vào Điều 69 Nghị định 167 quy định về thẩm quyền xử phạt hành
chính của Thanh tra, Quản lý thị trường như sau: “…Thanh tra Lao động - Thương
binh và Xã hội có thẩm quyền xử phạt theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi quy định tại Mục 2 Chương II;
Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch có thẩm quyền xử phạt theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi quy định tại Mục 4 Chương II; các lực lượng Thanh tra chuyên ngành, Quản lý thị trường có thẩm quyền xử phạt theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi quy định tại Điều 20 Nghị định này theo chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi, lĩnh vực mình quản lý”.
Chánh thanh tra đã ban hành Quyết định xử phạt số 23/QĐ-XP xử phạt bàTuyết áp dụng tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 167 (nằm trong Mục 2 Chương IINghị định 167) Mà theo quy định tại Điều 69 Nghị định 167 thì thẩm quyền xửphạt thuộc lĩnh vực này là của Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội chứkhông phải của thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Phía Thanh tra Lao động - Thương binh và Xã hội hoàn toàn không có bất lývăn bản ủy quyền nào cho phép Chánh thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch thựchiện công việc này, như vậy Chánh thanh tra ban hành Quyết định xử phạt số23/QĐ-XP đã vượt quá quyền hạn mà pháp luật cho phép
5 Thời hạn bàn giao quyết định không đúng quy định pháp luật
Điều 3 của Quyết định xử phạt số 23/QĐ-XP quy định thời gian giao quyếtđịnh cho đương sự là 03 ngày và không giao trực tiếp hay qua đường bưu điện màlại gọi điện thoại để bà Tuyết lên nhận quyết định như trong công văn167/CV-VHTTDL của Sở VH-TT-DL đã thừa nhận Căn cứ theo Điều 70 Luật
XLVPHC quy định: “Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định xử
phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, người có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt phải gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cơ quan thu tiền phạt và cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi hành.
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính được giao trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm và thông báo cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt biết.”
Luật XLVPHC chỉ cho phép trong thời hạn 2 ngày phải giao quyết định cho
bà Tuyết nhưng chính trong quyết định lại ghi là 3 ngày là vi phạm, đồng thời trênthực tế đến ngày 17/3/2014 mới giao quyết định này cho bà Tuyết, tức là 8 ngày đãquá thời hạn giao
Qua các nội dung tôi trình bày như trên có thể chứng minh Quyết định xửphạt số 23/QĐ-XP ban hành không hợp pháp, áp dụng pháp luật hồi tố gây bất lợicho người vi phạm, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính khi đã hết thời hạn,
và việc ban hành là hoàn toàn không đúng sự thật, không có cơ sở, không có căn
cứ và người ra quyết định xử phạt không đúng thẩm quyền, quyết định bàn giao