1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI THU HOẠCH DIỄN án tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung giữa nguyên đơn là bà nguyễn thị hảo với bị đơn là ông nguyễn văn nguyệt

10 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 156,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hảo với bị đơn là ông Nguyễn Văn Nguyệt.. Trong thời kỳ hôn nhân ông Nguyệt và b

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

CƠ SỞ TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Môn: Kỹ năng tham gia giải quyết các vụ án Dân sự

Mã hồ sơ: 07

Diễn lần: 01

Ngày diễn: 31/07/2021

Gíao viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Thị Hương Giang

Họ và tên: Đỗ Thị Minh Anh Lớp: LS22.2C

Số báo danh: 006 Vai diễn: NCQ&NVLQ- Cháu Nguyễn Thị Nhi

Tp Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 07 năm 2021

Trang 2

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung giữa nguyên đơn là bà Nguyễn

Thị Hảo với bị đơn là ông Nguyễn Văn Nguyệt.

I Tóm tắt vụ án với tư cách là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Hảo.

Bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương vào ngày 26/3/1999 Bà Hảo và ông Nguyệt có 02 con chung là: cháu Nguyễn Thị Nhi, sinh ngày 04/01/2000 và cháu Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13/6/2007 Trong thời kỳ hôn nhân ông Nguyệt và bà Hảo tạo lập được khối tài sản chung, cụ thể bao gồm: Diện tích 216 m2 đất thuộc thửa 496, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, Thành phố Hải Dương tỉnh Hải Dương đã được UBND huyện Nam Sách cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (“GCNQSDĐ”) cho hai vợ chồng cùng với nhà và các công trình phụ trên đất; Diện tích 1.965 m2 đất ruộng ao khoán của hợp tác xã có địa chỉ tại Bãi Nam khu dân cư số 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt huyện Nam Sách đang sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng với thời hạn thuê từ tháng 01/2013 đến hết tháng 12/2016

Sau khoảng thời gian chung sống hạnh phúc được 02 năm thì bà Hảo và ông Nguyệt phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau và do ông Nguyệt thường đánh đập, chửi bới vợ con Hôn nhân giữa Bà Hảo và Ông Nguyệt ngày càng trở nên trầm trọng Cuối năm 2014, Bà Hảo chuyển về nhà cha mẹ đẻ sống

Ngày 02/01/2016, bà Hảo đã nộp đơn xin ly hôn với ông Nguyệt tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương do cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và mục đích hôn nhân không đạt được

II Các vấn đề pháp lý của vụ án

1 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp

Quan hệ tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn

2 Thời hiệu khởi kiện

Do quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là ly hôn là tranh chấp về quan

hệ nhân thân, chia tài sản chung khi ly hôn, trong đó tranh chấp chia tài sản chung là tranh chấp quyền sử dụng đất, vì vậy căn cứ theo quy định tại khoản 1, Điều 155 Bộ luật dân sự năm 2015 vụ án này thuộc trường hợp không áp dụng thời hạn khởi kiện

3 Đương sự trong vụ án

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hảo; sinh năm: 1978; địa chỉ: Thôn Nam Giàng, Xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nguyệt; sinh năm: 1976; địa chỉ: Thôn Thượng Triệt I,

Xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan gồm:

- Bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang - là bố, mẹ ruột của ông Nguyệt Cùng ngụ địa chỉ: tại Thôn Thượng Triệt I, Xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương

Trang 3

- Ủy ban nhân dân Thành phố Hải Dương (Sau khi điều chỉnh xã Thượng Đạt có địa giới hành chính thuộc Thành phố Hải Dương Do đó UBND huyện Nam Sách đã bàn giao toàn bộ hồ sơ tài liệu, hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình, cá nhân cho UBND Thành phố Hải Dương quản lý Vì vậy, đối với yêu cầu hủy GCNQSDĐ của ông Nguyệt và bà Thoa thì UBND Thành phố Hải Dương là đương sự với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án này)

- Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh thành phố Hải Dương do vợ chồng bà Hảo và ông Nguyệt có khoản nợ chung đối với Ngân hàng

4 Thẩm quyền tòa án

Do đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hải Dương

5 Các văn bản pháp luật áp dụng

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành;

Bộ luật dân sự năm 2015;

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Luật Đất đai năm 1993;

Các văn bản pháp luật liên quan khác

III Yêu cầu của nguyên đơn và các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu

1 Yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hảo

Về quan hệ hôn nhân: Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mâu

thuẫn kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị Hảo yêu cầu Tòa

án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn Nguyệt

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt 02 con chung là:

(i) cháu Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04/01/2000 theo Giấy khai sinh số 38 đăng ký ngày 01/12/2014 và (ii) cháu Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13/6/2007 theo Giấy khai sinh số 38 đăng ký ngày 20/6/2007 Cháu Nhi hiện đang ở cùng với chị Hảo, cháu Đức Anh đang ở với anh Nguyệt Bà Hảo yêu cầu được được nuôi cả 02 con và không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Hảo yêu cầu chia đôi phần diện tích đất 216 m2 thuộc thửa 496, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách và xin được lấy một nửa phần diện tích đất không có tài sản, còn phần diện tích đất khoán thuê hai bên đã tự thỏa thuận Ngoài ra Bà Hảo cũng không đồng ý với yêu cầu hủy GCNQSDĐ của ông Nguyệt

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt có nợ chung là

khoản vay 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh tại khu Tiền Trung, TP Hải Dương Ông Nguyệt đã trả được 10.000.000đ (Mười triệu đồng) tiền gốc và một phần tiền lãi Số tiền vay còn lại ông Nguyệt nhận trả hết Nếu anh Nguyệt không trả thì chị Hảo nhận trả một nửa theo quy định pháp luật

Trang 4

2 Các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn

- CMND + Hộ khẩu của bà Nguyễn Thị Hảo;

- Giấy đăng ký kết hôn của bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt;

- Giấy khai sinh của cháu Nhi, cháu Anh;

- Bản sao GCNQSDĐ do Ủy bân nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005;

- Đơn đề nghị xin được ở với mẹ của cháu Nhi và cháu Anh;

- Sơ đồ hiện trạng thửa đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2, địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là TP Hải Dương;

- Biên bản thỏa thuận giá trị tài sản và không yêu cầu Tòa án định giá tài sản ngày 20/6/2016;

- Quyết định về việc xử lý đất giao trái thẩm quyền của UBND huyện Nam Sách;

- Bảng tổng hợp danh sách các hộ được cấp GCNQSDĐ;

- Quyết định số 563/2002 QĐ-UB ngày 22/01/2002 của Ủy ban nhân dân huyện Nam Sách về việc xử lý đất giao trái thẩm quyền;

- Danh sách các hộ gia đình, cá nhân xin cấp GCNQSDĐ;

- Bảng tổng hợp danh sách các hộ được giao đất trái thẩm quyền, thu tiền đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

- Hồ sơ vay vốn Ngân hàng Agribank;

- Biên bản xác minh của UBND xã Thượng Đạt 09/3/2016 và ngày 06/5/2016;

- Biên bản số 24/BB-UBND ngày 08/6/2016 của UBND xã Thượng Đạt về xét duyệt nguồn gốc sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn Nguyệt và bà Nguyễn Thị Hảo;

- Công văn của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Dương ngày 10/6/2016;

IV Kế hoạch hỏi

1 Hỏi bị đơn là ông Nguyễn Văn Nguyệt

- Ông và bà Hảo kết hôn khi nào? Trong thời gian chung sống, ông và bà Hảo có thường xảy ra mâu thuẫn hay không?

- Khi chị Hảo bỏ đi về nhà mẹ đẻ thì ông có đi tìm bà ấy về hay không?

- Hiện tại ông đang làm nghề gì và thu nhập như thế nào?

- Mẹ của ông cho vợ chồng ông sử dụng đất và xây dựng nhà trong giai đoạn hôn nhân có đúng không? Việc vợ chồng ông xây nhà có ai biết không? Có ai phản đối không?

- Vợ chồng ông được cấp GCNQSDĐ đối với diện tích 216 m2 đất khi nào? Có ai trong gia đình ông biết về việc này hay không?

- Vào ngày 25/10/2001 có phải ông cùng vợ mình là chị Hảo làm đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ hay không? Khi ông và bà Hảo làm đơn thì có ai trong gia đình ông biết và phản đối hay không?

Trang 5

- Khi ông thuê khoán phần diện tích đất ruộng, ao của hợp tác xã, có sự đồng ý của

bà Hảo không? Bà Hảo có góp công sức gì không trong việc quản lý đất thuê và canh tác trên đất thuê khoán? Hoa lợi có từ diện tích đất khoán này thuộc về ai?

- Khi thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn có bàn bạc với bà Hảo không? Tại sao ông lại dùng quyền sử dụng đất nêu trên vay Ngân hàng khi cho rằng diện tích đất nêu trên không phải của gia đình ông?

2 Hỏi nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hảo

- Trong thời gian chung sống với nhau, ông Nguyệt đối xử với bà và các con như thế nào?

- Ông Nguyệt có thường xuyên đánh đập, chửi bới bà và các con không?

- Ông Nguyệt có

- Ông Nguyệt và bà có bao nhiêu con chung? Ai là người trực tiếp chăm sóc các cháu?

- Công việc của bà hiện tại là gì, và thu nhập là bao nhiêu?

- Trong quá trình cháu Đức Anh sống với ông Nguyệt, bà có thường xuyên đến gặp cháu hay không?

- Nếu được quyền nuôi dưỡng các con thì bà có yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng hay không?

- Bà có thể cho biết phần diện tích đất 216 m2 thuộc thửa 496, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách có nguồn gốc từ đâu?

- Khi mẹ Ông Nguyệt cho vợ chồng bà có ai trong gia đình biết không? Có ai phản đối gì không?

- Bà được cấp GCNQSDĐ năm nào? Cấp cho vợ chồng bà hay cấp riêng cho Ông Nguyệt?

- Khi ông Nguyệt thuê khoán đất, khi ông Nguyệt thuê có thông báo cho bà biết không? Bà có giúp sức gì trong việc canh tác trên phần diện tích nêu trên hay không?

3 Hỏi người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn Cang hoặc

bà Nguyễn Thị Thoa (bố mẹ ruột của bị đơn):

- Ông/Bà cho biết, vợ chồng ông Nguyệt có thường xuyên xảy ra mâu thuẫn hay không? Những lần mâu thuẫn đó, ông bà có đứng ra hòa giải cho hai vợ chồng không?

- Ông/Bà cho biết Ông/Bà cho vợ chồng ông Nguyệt và bà Hảo ở và xây dựng nhà trên đất từ thời gian nào? Viêc vợ chồng anh Nguyệt xây dựng nhà ở trên thửa đất số 496, ông bà có biết không, có phản đối không?

- Ông/Bà có biết việc UBND cấp GCN QSDĐ cho Ông Nguyệt và Bà Hảo không? Nếu biết tại sao lại không có ý kiến về việc cấp giấy đó với chính quyền?

- Từ năm 1999 đến nay, bà có thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với thửa đất số 496 không?

- Ông/Bà có biết vợ chồng ông Nguyệt vay vốn Ngân hàng và đã thế chấp GCN QSDĐ chưa?

Trang 6

4 Hỏi người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là cháu Đức Anh( con chung):

- Bình thường ai dạy cháu học?

- Bố có hay quan tâm hỏi han chuyện cháu học hành hay vấn đề gì khác không?

- Hiện cháu đang sống cùng ai?

- Cháu muốn sống với ai?

- Khi sống cùng bố Nguyệt, bố có cho cháu gặp mẹ Hảo và chị Nhi không?

5 Hỏi người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là cháu Nhi ( con chung):

- Trong thời gian cháu về sống cùng mẹ và bà ngoại, bố có qua thăm và hỏi han cháu không?

- Bố có hay hỏi han chuyện cháu học hành hay các việc khác không?

- Bố có thường hay cáu gắt vô cớ với cháu không?

- Cháu muốn sống với ai hơn?

6 Hỏi người đại diện cho Ủy ban nhân dân xã- Nguyễn Văn Bích, cán bộ địa chính xã Thượng Đạt.

- Ông/bà cho tôi biết việc cấp GCNQSDĐ nói trên có đúng thẩm quyền hay không?

- Ông/bà cho tôi biết GCNQSDĐ của thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2, địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là Thành phố Hải Dương được cấp theo căn cứ nào?

- Ông/bà cho tôi biết nội dung Biên bản số 24/BB-UBND ngày 08/6/2016 có đúng với nguồn gốc đất của theo hồ sơ cấp GCNQSDĐ trên hay không?

Trang 7

V Bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hảo

Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa Vị đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa Tôi là Luật sư Đỗ Thị Minh Anh, đến từ Công ty Luật TNHH 22.2C, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh Tôi tham gia phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Bà Hoàng Thị Hảo – Nguyên đơn trong vụ án tranh chấp

ly hôn, nuôi con và chia tài sản theo hồ sơ thụ lý số 02/TB-TLVA vào ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hải Dương

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các chứng cứ có mà các bên cung cấp theo đúng quy định của pháp luật, qua phiên xét hỏi công khai tại phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin trình bày một số quan điểm pháp lý như sau:

1 Về yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Hảo

Bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương ngày 26/3/1999 Sau khi kết hôn, bà Hảo và ông Nguyệt chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn Nguyên nhân mâu thuẫn là do khác biệt về tính cách và do ông Nguyệt hay đi chơi, về nhà lại chửi bới, đánh đập bà Hảo và các con Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng khi bà Hảo không chịu đựng được nữa phải bỏ về nhà

mẹ đẻ ở, sau đó bà Hảo và ông Nguyệt sống ly thân cho đến nay Nhận thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà Hảo đã làm đơn xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn Nguyệt

Căn cứ theo quy định tại các Điều 51, Điều 55 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì yêu cầu ly hôn của bà Hảo là có cơ sở Bên cạnh đó, theo các biên bản hòa giải của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương ngày 19/5/2016, ngày 17/6/2016 và ngày 12/7/2016 thì ông Nguyệt đồng ý ly hôn với bà Hảo, không còn muốn hàn gắn Do đó, tôi

đề nghị HĐXX chấp thuận yêu cầu ly hôn của thân chủ tôi

2 Về yêu cầu nuôi con

Bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi (sinh ngày 04/01/2000 đến nay đã 19 tuổi) và cháu Nguyễn Đức Anh (sinh ngày 13/6/2007 đến nay đã 12 tuổi) Cháu Nhi hiện đang ở cùng với chị Hảo, cháu Đức Anh đang ở với anh Nguyệt Bà Hảo yêu cầu được được nuôi cả 02 con và không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng Tôi đề nghị HĐXX xem xét để thân chủ tôi được quyền nuôi dưỡng

02 con chung là cháu Nhi và cháu Anh để bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho các cháu bởi các lẽ sau:

Căn cứ theo quy định tại Điều 58, Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì vợ chồng tự thỏa thuận về việc nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên khi ly hôn, nếu không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con, nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải căn cứ vào nguyện vọng của con

Về việc giao cháu Nhi cho thân chủ tôi nuôi dưỡng đã được ông Nguyệt đồng ý theo như lời trình bày tại các biên bản hòa giải ngày 19/5/2016, ngày 17/6/2016 và ngày 12/7/2016 Đồng thời, cháu Nhi cũng có đơn đề nghị được ở với mẹ

Về việc giao cháu Đức Anh cho thân chủ tôi nuôi dưỡng thì cần xem xét đến

Trang 8

gửi đến Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương ngày 22/01/2016, cháu Anh có đề nghị:

“Nếu bố mẹ cháu không ở với nhau nữa cháu xin được với mẹ là Nguyễn Thị Hảo” Bên

cạnh đó, theo biên bản lấy lời khai của cháu Anh ngày 05/7/2016, khi được hỏi nếu bố

mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với ai thì cháu Đức Anh đã trả lời: “Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu xin được ở với mẹ cháu” Do đó, đến thời điểm hiện tại, cháu Đức Anh vẫn mong muốn được ở với mẹ của cháu là bà Nguyễn Thị Hảo Cháu Đức Anh mới 12 tuổi, đây là lứa tuổi có nhiều biến động về mặt tâm sinh lý, nên sau khi ba mẹ ly hôn thì việc sống với mẹ và chị sẽ tốt hơn cho cháu Đức Anh, giúp bảo đảm sự phát triển tốt nhất

về thể chất cũng như tinh thần của cháu Anh Ngoài ra, trong thời gian cháu Đức Anh ở với ông Nguyệt thì ông Nguyệt không cho thân chủ tôi gặp cháu, nếu gặp sẽ đánh cháu Nếu giao cháu Đức Anh cho ông Nguyệt thì sau khi ly hôn quyền được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đức Anh của thân chủ tôi theo khoản 2 Điều 83 Luật HNGĐ 2014 không được bảo đảm

Về điều kiện kinh tế, bà Hảo có đủ điều kiện để chăm sóc và nuôi dưỡng các cháu: Hiện tại bà Hảo đang làm công nhân tại Công ty Trấn An có thu nhập ổn định hàng tháng

từ 4.000.000 - 6.000.000 đồng Khoản tiền này bà Hảo có thể dùng để chăm lo cho cháu Anh ăn học và chi trả các khoản phí sinh hoạt hằng ngày của cháu Bên cạnh đó, cháu Nhi hiện nay đã thành niên và cháu có thể phần nào tự lo cho bản thân cũng như phụ giúp

bà Hảo hướng dẫn và trông nom em của mình Ngoài ra, mặc dù chưa có nhà riêng nhưng

bà Hảo đang sống với mẹ đẻ của mình là bà ngoại của cháu Anh nên hoàn toàn có thời gian giúp bà Hảo chăm sóc, đưa đón cháu Anh đi học khi thân chủ tôi bận việc đột xuất

3 Về tài sản chung của vợ chồng

Đối với tài sản chung: bà Hảo yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà đất có số thửa

496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 Theo các biên bản hòa giải tại tòa án nhân dân thành phố Hải Dương ngày 19/5/2016, ngày 17/6/2016 và ngày 12/7/2016, bà Hảo chỉ đề nghị chia một nửa diện tích đất trên và xin được lấy phần không có tài sản trên đất, không

đề nghị chia tài sản trên đất

Yêu cầu của thân chủ tôi về việc chia đôi diện tích đất có số thửa 496, tờ bản đồ số

01, diện tích 216 m2 theo GCNQSDĐ cấp ngày 31/12/2005 là có cơ sở vì những lý do sau đây:

- Thứ nhất, về nguồn gốc thửa đất 496, tờ bản đồ số 01 đã cấp GCNQSDĐ mang tên bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt, trên cơ sở lời khai của các bên liên quan và xác minh nguồn gốc đất của cán bộ địa chính xã Phượng Đạt và nội dung Công văn của Phòng Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hải Dương ngày 10/6/2016 trả lời tòa án nhân dân thành phố Hải Dương đã khẳng định về trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông Nguyệt và bà Hảo là đúng theo quy định của Luật đất đai năm 2003

và Nghị định 181/2004/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành luật đất đai GCNQSDĐ được Ủy ban nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005 mang tên hai người

là ông Nguyệt và bà Hảo là đúng thẩm quyền và đúng căn cứ, nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật

- Thứ hai, quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên là tài sản chung của vợ chồng bà Hảo và ông Nguyệt

Căn cứ theo quy định tại Điều 33, 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất và trong trường hợp tài sản

Trang 9

thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong GCNQSDĐ phải ghi tên của cả vợ chồng Do đó, trên GCNQSDĐ có ghi nhận tên của Ông Nguyệt và Bà Hảo, và đây được chứng minh là tài sản chung của vợ chồng

Việc ông Nguyệt cho rằng thửa đất trên vẫn thuộc quyền sở hữu của bố mẹ đẻ ông Nguyệt là không có cơ sở, bởi lẽ khi ông Nguyệt và bà Hảo đã được cấp giấy chứng nhận, và khi ông Nguyệt, bà Hảo mang GCNQSDĐ thế chấp ngân hàng, bà Thoa và ông Cang và tất cả các thành viên khác trong gia đình ông Nguyệt đều biết nhưng không phản đối hay thắc mắc gì, cũng không có tranh chấp và chỉ khi vợ chồng bà Hảo ly hôn tranh chấp về tài sản thì ông Nguyệt mới cho rằng đất không phải của vợ chồng ông là không hợp tình lẫn lý

Căn cứ theo Khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân gia đình 2014: “Tài sản chung của

vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh

và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.” và các luận điểm nêu trên, yêu cầu của

thân chủ chúng tôi về việc chia đôi diện tích đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích

216 m2 theo GCNQSDĐ trên là có cơ sở

Ngoài ra, căn cứ theo Án lệ số 03/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân tối cao thông qua ngày 06/4/2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì: “Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng, nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp GCNQSDĐ thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất”

- Có thể thấy, sau khi kết hôn đầu năm 1999, bà Hảo và ông Nguyệt đã được gia đình ông Nguyệt cho vợ chồng bà ra làm nhà trên đất của gia đình Sau đó, gia đình bà Hảo và ông Nguyệt đã làm nhà và công trình phụ trên đất đó rồi dọn ra ở riêng vào cuối năm 1999 Suốt thời gian từ đó đến nay, dưới sự chứng kiến và thừa nhận của nhiều người, gia đình ông Nguyệt bà Hảo đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định, tiến hành kê khai đất năm 2001 và được cấp GCNQSDĐ ngày 31/12/2005

- Xem xét các tính chất, tình tiết trong yêu cầu của thân chủ chúng tôi về việc chia tài sản chung là thửa đất nêu trên, đối chiếu với các tính chất, tình tiết vụ việc tương tự được nêu trong án lệ số 03 nêu trên là có sự tương đồng, giống nhau về vấn đề pháp lý

Do đó, trong vụ án ly hôn này, gia đình thân chủ tôi đã được tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên

- Căn cứ theo Khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân gia đình 2014: “Tài sản chung của

vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”

Vì các lý lẽ trên, tôi đề nghị HĐXX áp dụng Án lệ số 03/2016/AL để công nhận

Trang 10

quyền sử dụng đất đối thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 theo GCNQSDĐ do UBND huyện Nam Sách – tỉnh Hải Dương cấp ngày 31/12/2005 là tài sản chung của vợ chồng thân chủ tôi

3 Về phần nợ chung:

Về phần nợ chung của gia đình bà Hảo và ông Nguyệt với Ngân hàng phát triển Nông thôn Việt Nam ông Nguyệt đã chấp nhận trả hết số nợ một mình nên kính mong HĐXX chấp nhận, không buộc thân chủ tôi phải chịu trách nhiệm liên đới thanh toán khoản nợ này

Từ những lẽ trên, tôi nhận thấy rằng yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật Kính mong HĐXX xem xét và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Hảo

Trên đây là toàn bộ quan điểm của tôi đối với vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản giữa bà Nguyễn Thị Hảo và ông Nguyễn Văn Nguyệt Tôi xin cảm ơn HĐXX

đã chú ý lắng nghe!

Người trình bày

(đã ký)

Luật sư Đỗ Thị Minh Anh

Ngày đăng: 04/01/2022, 01:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w