Ngày 09/01/2016, Công ty Luật K – đại diện theo ủy quyền của bà Thu, có Công văn số 01/2016/CV-K gửi Công ty với các yêu cầu: Tiến hành ra văn bản công khai xin lội bà Thu và thực hiện x
Trang 1BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn: KỸ NĂNG CỦA LS KHI THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VV DÂN SỰ.
Mã hồ sơ: 09
Diễn lần: 03
Ngày diễn: 07/08/2021
Gíao viên hướng dẫn: LS Trần Thị Kim Huế
Họ và tên: Đỗ Thị Minh Anh Lớp: LS22.2C
Số báo danh: 006
Tp Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 08 năm 2021
Trang 2BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
VỀ XỬ LÝ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG THEO HÌNH THỨC SA THẢI
Nguyên đơn: Trần Thị Thu
Bị đơn: Công ty TNHH YD Việt Nam
I Tóm tắt vụ án hồ sơ vụ việc.
Ngày 17/7/2006 bà Trần Thị Thu ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn số YC-S008/PLHĐ-2008 cùng Công ty YD (“YD”) Trong quá trình làm việc, bà Thu giữ chức danh kế toán trưởng, mức lương được hưởng 21.733.600 đồng và các chế
độ khác nhau theo quy định của pháp luật Việt Nam
Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng lao động đã phát sinh tranh chấp Theo đó, từ tháng 6 đến tháng 12/2015, bà Thu nghỉ thai sản theo quy định pháp luật Ngày 09/12/2015, bà Thu trở lại Công ty YD làm việc theo hợp đồng lao động thì bà nhận được Thông báo số 05 – 2015/TB được Công ty ban hành từ ngày 05/12/2015 đối với bà Thu với các nội dung yêu cầu bà Thu tạm dừng làm việc từ ngày 09 tháng 12 năm
2015 đến hết ngày 13/12/2015 với lý do Công ty đang làm rõ một số sai phạm kế toán của bà Thu và mời bà trở lại công ty vào lúc 09 giờ 00 ngày 15/12/2015 để giải quyết vụ việc trên
Ngày 15/12/2015, cuộc họp diễn ra, ban lãnh đạo quy kết sai phạm và yêu cầu bà Thu phải nhận sai phạm, nộp 01 bản hồ sơ cá nhân Ngày 20/12/2015, Công ty ra Thông báo số 07-2015/TB với nội dung mời bà Thu tham gia cuộc họp kỷ luật lao động lúc 09 giờ 00 ngày 25/12/2015 Ngày 25/12/2015, cuộc họp hội đồng kỷ luật được được diễn ra theo như ghi nhận tại Biên bản họp hội đồng kỷ luật
Ngày 30/12/2015, Công ty ra Quyết định số S008 – 14/QĐ với nội dung bố trí bà Thu từ kế toán tại văn phòng sang kế toán phụ trách quản lý kho rác từ ngày 05/01/2016, lương và các chế độ của nhân viên áp dụng theo Điều 31 Bộ luật lao động
Không đồng ý với quyết định trên nên bà Thu đã gửi nhiều văn bản đề nghị công
ty bố trí giải quyết công việc cho bà Thu theo đúng quy định tuy nhiên công ty YD không
có bất cứ phản hồi nào
Ngày 09/01/2016, Công ty Luật K – đại diện theo ủy quyền của bà Thu, có Công văn số 01/2016/CV-K gửi Công ty với các yêu cầu: Tiến hành ra văn bản công khai xin lội bà Thu và thực hiện xin lỗi bà Thu trước toàn thể người lao động; tiến hành sắp xếp lại việc làm cho bà Thu như trước khi nghỉ sinh con và thanh toán toàn bộ số tiền lương cho những ngày không được bố trí việc làm theo đúng HĐLĐ (“Công văn 01”)
Ngày 03/3/2016, Công ty luật có Công văn số 10/2016/CV-K gửi Công ty với yêu cầu: Thanh toán toàn bộ tiền lương cho bà Thu kể từ ngày 09/12/2015 đến hết ngày 01/3/2016, theo mức lương bà Thu được hưởng là 21.733.600 đồng/tháng, là 83.312.133 đồng và thanh toán trợ cấp thôi việc theo Điều 48 BLLĐ (tính từ ngày 17/7/2006 đến ngày 31/12/2008) là 27.167.000 đồng
Ngày 20/3/2016, Công ty ra Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật lao động số 02-BB/VPKL đối với bà Thu với hình thức sa thải
Ngày 01/4/2016, BQL Khu kinh tế Hải Phòng có Công văn số 619/BQL-LĐ về việc phối hợp hòa giải tranh chấp lao động cá nhân với nội dung tổ chức cuộc họp hòa
Trang 3giải lao động vào ngày 07/4/2016 giữa Ban quản lý, Công đoàn khu kinh tế Hải Phòng và các bên có liên quan
Ngày 14/5/2016, diễn ra cuộc họp giữa Ban quản lý, Công đoàn, Công ty và bà
Thu được ghi nhận tại Biên bản làm việc với nội dung: “yêu cầu Công ty trả lời bằng văn bản cho bà Thu chậm nhất vào ngày 22/5/2016 cho đại diện theo ủy quyền của bà Thu là
bà Nguyễn Thu Hà – Công ty luật Sau thời gian này, nếu Công ty không có phản hồi, hai bên có quyền khởi kiện vụ án tại tòa án có thẩm quyền”.
Ngày 29/5/2016, Công ty luật có Công văn số 33/2016/CV-K yêu cầu Công ty thực hiện thanh toán các quyền lợi cho bà Thu
Ngày 06/7/2016, bà Thu đã khởi kiện Công ty đến Tòa án nhân dân huyện AD, Thành phố Hải Phòng
Ngày 15/8/2016, Công ty ban hành Quyết định số 02-QĐ/HĐKL về việc sa thải bà Thu
Ngày 14/10/2016, Tòa án nhân dân huyện AD ban hành thông báo số 04/TB-TLVA về việc thụ lý vụ án
II Các vấn đề pháp lý của vụ án
1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Điểm a khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: “1 Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc không hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp
bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.
Về việc hòa giải tiền tố tụng: Điểm a khoản 1 Điều 201 Bộ luật lao động quy định:
“1 Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải: (a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” vì vậy vụ việc
này không cần hòa giải trước khi tiến hành khởi kiện tại Tòa án
Do đó, quan hệ tranh chấp trong vụ án trên là tranh chấp về lao động
2 Thời hiệu khởi kiện:
Khoản 2 Điều 202 Bộ luật lao động quy định: “2 Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm” Ngày 20/3/2016,
bà Thu bị xử lý kỷ luật sa thải và không được tiếp tục làm việc và đến ngày 06/7/2016 bà Thu đã tiến hành khởi kiện, ngày 14/10/2016, Tòa án nhân dân huyện AD ban hành thông báo số 04/TB-TLVA về việc thụ lý vụ án và việc này vẫn chưa đến 01 năm Vì vậy, thời hiệu khởi kiện vẫn còn tính tới ngày Tòa án thụ lý
3 Tòa án nhân dân có thẩm quyền:
Điểm a khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: “1 Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động phải thông qua thủ tục hòa giải
Trang 4của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc không hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:
a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp
bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.
Điểm c khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này Vậy thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân cấp huyện
Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 39, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì trường hợp bị đơn là tổ chức thì Tòa án nơi bị đơn có trụ sở có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Bị đơn Công ty TNHH YD Việt Nam có trụ sở tại huyện AD, Thành phố Hải Phòng
Vậy thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện AD, Thành phố Hải Phòng
4 Xác định tư cách đương sự
Căn cứ theo khoản 1 Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: “Đương sự trong vụ
án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Do đó, thành phần đương sự trong vụ án này như sau:
- Nguyên đơn: Trần Thị Thu; sinh năm: 1985; địa chỉ số: 6xx, phố Đ, phường
Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng
- Bị đơn: Công ty TNHH YD Việt Nam; Địa chỉ: J12xx, khu CN NM, huyện AD,
Thành phố Hải Phòng do ông Shuhei - Tổng Giám đốc Công ty TNHH YD là người đại diện theo pháp luật
5 Các văn bản pháp luật áp dụng
Bộ luật lao động 2012;
Nghị định 05/2015/NĐ-CP;
Bộ luật dân sự 2005;
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
III Yêu cầu của nguyên đơn và các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu
1 Yêu cầu của Nguyên đơn
Bà Trần Thị Thu buộc Công ty YD bồi thường thiệt hại do hành vi sa thải trái pháp luật, cụ thể:
- Thanh toán toàn bộ tiền lương cho bà Thu kể từ ngày 09/12/2015 đến hết ngày 09/07/2016 (07 tháng) với số tiền là: 07 x 21.733.600 đồng = 152.135.200 đồng (Một trăm năm mươi hai triệu một trăm ba mươi lăm nghìn hai trăm đồng)
- Thanh toán tiền trợ cấp thôi việc từ ngày 17/07/2006 đến ngày 31/12/2008 được tính là 2.5 năm với số tiền là: 21.733.600 x ½ x 2.5 = 27.167.000 đồng (Hai mươi bảy triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng)
Tổng số tiền Công ty YD phải thanh toán cho bà Thu là: 179.302.200 đồng (Một trăm bảy mươi chín triệu ba trăm lẻ hai nghìn hai trăm đồng)
Trang 5Buộc Công ty YD phải thực hiện nghĩa vụ chốt sổ BHXH cho mình.
2 Chứng cứ chứng minh có liên quan đến quá trình giải quyết vụ án
Hợp đồng lao động không xác định thời hạn số YC-S008/PLHĐ-2008;
Giấy phép đầu tư số 56/GP-KCN-HP ngày 03/10/2005 do Ban quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp Hải Phòng cấp cho Công ty;
Thông báo số 05-2015/TB ngày 05/12/2015;
Thông báo số 07-2015/TB ngày 20/12/2015;
Quyết định số S008-14/QĐ ngày 30/12/2015;
Biên bản họp Hội đồng kỷ luật ngày 25/12/2015;
Biên bản xử lý kỷ luật lao động ngày 20/03/2016;
Đề nghị hòa giải tranh chấp ngày 12/03/2016;
Công văn 39/LĐTBXH ngày 25/03/2016;
Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật lao động ngày 14/08/2016;
Quyết định xử lý kỷ luật sa thải ngày 15/08/2016; và
Bảng lương tháng 03/2015, tháng 04/2015, tháng 10/2015
IV Kế hoạch hỏi
1 Hỏi bị đơn Công ty Nhật Linh
Phía Công ty ký HĐLD với bà Thu vào thời điểm nào?
Hình thức Hợp đồng được ký kết giữa Công ty và bà Thu loại Hợp đồng gì? Và
bà Thu làm việc chức danh/ chức vụ gì tại công ty
Trong thời gian làm việc, đến thời gian bà nghỉ thai sản xong là ngày 09/12/2015
bà đã từng vi phạm hay bị xử lý kỷ luật lao động về nghiệp vụ kế toán hay không?
Khi bà Thu quay trở lại làm việc ngày 09/12/2015, tại sao phía công ty lại ra thông báo yêu cầu bà Thu tạm dừng làm việc từ ngày 09/12/2015 đến hết ngày 13/12/2015 để làm rõ sai phạm kế toán, nộp hồ sơ cá nhân?
Công ty cho rằng bà Thu trong quá trình làm việc đã có nhiều sai phạm kế toán, vậy những sai phạm đó là gì ? Phía công ty có chứng cứ, tài liệu gì chứng minh cho sai phạm ấy của bà Thu hay không?
Ngày 05/12/2015 phía Công ty có ra Thông báo số 05-2015/TB nôi dung của Thông báo đó là gì, phía Công ty gửi cho bà Thu bằng hình thức gì?
Phía Công ty có thông báo cho bà Thu quay trở lại làm việc không?
Nội dung cuộc họp về làm rõ sai phạm trong kế toán ngày 15/12/2015 giữa bà Thu
và Ban lãnh đạo công ty là gì? Có được lập thành biên bản không?
Việc công ty xắp xếp, luân chuyển bà Thu sang vị trí quản lý kho rác có nằm trong thỏa thuận HĐLĐ ban đầu mà công ty ký với bà Thu hay không?
Công ty ra Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật lao động số 02-BB/VPKL đối với bà Thu vào ngày 20 tháng 3 năm 2016 với hình thức sa thải khi đó không có sự tham dự của
bà Thu tại cuộc họp xử lý vi phạm đúng không?
Trang 6Công ty có thực hiện viêc chốt sổ bảo hiểm cho bà Thu chưa? Từ lúc có yêu cầu của bà Thu đến nay, công ty đã trả sổ bảo hiểm cho bà chưa?
2 Hỏi nguyên đơn:
Hợp đồng giữa bà và Công ty là loại hợp đồng gì? Chức/ danh theo Hợp đồng và mức lương mà bà được trả theo hợp đồng lao động là bao nhiêu
Bà quay lại làm việc sau kỳ nghỉ thai sản từ ngày tháng năm nào?
Từ lúc ký kết hợp đồng đến khi có quyết định được nghỉ thai sản, bà có vi phạm nội quy công ty hay bị xử lý kỷ luật của Công ty hay không?
Phía công ty YD đã từng nhắc nhở hoặc lập biên bản đối với bà về những sai phạm kế toán hay nội quy lao động trong thời gian bà làm việc tại công ty hay không?
Vào ngày 15/12/2015, khi đến công ty theo thông báo đã nhận trước đó, đã xảy ra
sự kiện gì? Công ty có bố trí hay yêu cầu bà quay trở lại làm việc ngay hôm đó không?
Bà cho biết mình nhận được thông báo quay lại làm việc vào ngày nào? Bà nhận được quyết định bố trí công việc khác vào khi nào? Đó là công việc gì?
Mức lương của bà khi chuyển sang vị trí công việc mới là quản lý kho rác là bao nhiêu?
Sau ngày nhận quyết định bố trí công việc chuyển sang kế toán phụ trách quản lý kho rác, Bà có đề xuất với công ty để bố trí công việc phù hợp, hay đề nghị công ty có giải pháp nào không?
Bà nhận biên bản xử lý vi phạm kỷ luật lao động vào ngày nào? Biên bản đó được lập vào thời gian nào?
Quyết định sa thải bà từ ngày, tháng, năm nào?
Vào ngày 20/03/2016, bà có tham dự cuộc họp xử lý vi phạm kỷ luật lao động đó không? Bà có được thông báo và mời đến cuộc họp đó không?
Về chốt, trả lại sổ bảo hiểm công ty đã thực hiện chưa?
Trong suốt từ thời điểm chị quay lại công ty sau kỳ nghỉ thai sản cho đến hiện nay, chị đã gặp khó khăn gì? Đã làm công việc gì để đảm bảo đời sống khi nuôi con nhỏ
Trang 7V Bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là Công ty TNHH Kim Lân
Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa Vị đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa Tôi là Luật sư Đỗ Thị Minh Anh, đến từ Công ty luật LS22.2C, thuộc Đoàn luật
sư Thành phố Hồ Chí Minh Hôm nay tôi tham gia phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Thị Thu là nguyên đơn trong vụ án “Tranh chấp
về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải” theo hồ sơ thụ lý số thông báo số
04/2016/TLST-LĐ ngày 14/10/2016 của Tòa án nhân dân huyện AD, Thành phố Hải Phòng Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các chứng cứ có mà các bên cung cấp theo đúng quy định của pháp luật, qua phiên xét hỏi công khai tại phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin trình bày một số quan điểm như sau:
1 Về mặt tố tụng:
Về thẩm quyền của Tòa án: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015, việc thụ lý giải quyết
vụ tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải giữa nguyên đơn bà Trần Thị Thu, bị đơn là công ty TNHH YD có trụ sở tại huyện AD, thành phố Hải Phòng thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện AD, Thành phố Hải Phòng Do đó, việc Tòa án nhân dân huyện AD, Thành phố Hải Phòng thụ lý và giải quyết vụ án là đúng theo quy định của pháp luật
Về quyền khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thu: Căn cứ vào Điều 4, khoản 1 khoản 2 Điều 68, Điều 186 BLTTDS 2015, bà Thu là người có quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm,bà có đầy đủ năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự quy định tại Điều 69 BLTTDS 2015; về quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 Vì vậy, bà Thu có đầy đủ quyền để khởi kiện
Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ vào quy định tại Điều 184 BLTTDS 2015, khoản 2 Điều 202 Bộ luật lao động 2012 (BLLĐ 2012), thì từ ngày phát hiện ra quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm ngày 09/12/2015, bà Thu đã làm đơn khỏi kiện ngày 06/07/2016 là đúng quy định, có cơ sở (06 tháng, chưa quá 01 năm), vì vẫn còn thời hiệu khởi kiện
Từ các căn cứ pháp lý nêu trên, việc Tòa án mở phiên xét xử ngày hôm nay là đúng quy định của pháp luật hiện hành
2 Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ pháp luật, bởi những lẽ sau:
Thứ nhất, việc Công ty YD không cho bà Thu quay trở lại làm việc sau thời gian nghỉ thai sản là vi phạm quy định của pháp luật về lao động
Căn cứ quy định tại Điều 157 Bộ luật Lao động thì “Lao động nữ được bảo đảm
việc làm cũ khi trở lại làm việc sau khi nghỉ hết thời gian theo quy định”
Theo đó, ngày 17/7/2006 bà Trần Thị Thu và công ty YD ký kết hợp đồng lao động loại không xác định thời hạn, trình độ chuyên môn: Kế toán, chức danh: Kế Toán trưởng Sau khi thời gian công tác tạo Công ty bà Trần Thị Thu sinh con và nghỉ thai sản theo đúng quy định pháp luật Do đó, khi hết giai đoạn nghỉ thai sản, Công ty YD phải có trách nhiệm nhận bà Thu trở lại làm việc theo Hợp đồng lao động đã ký với bà
Trang 8Tuy nhiên, tại thời điểm bà Thu quay lai làm việc, công ty YD lại không bố trí cho
bà Thu tiếp nhận công việc, yêu cầu bà dừng làm việc, phải nộp lại hồ sơ cá nhân bản thân, phải tham gia cuộc họp kỷ luật, trong khi đó, phía Công ty không đưa ra một chứng
cứ, tài liệu cụ thể, rõ ràng nào chứng minh bà Thu có lỗi trong sai phạm kế toán, mà chỉ
là các cáo buộc không có căn cứ
Thứ hai, quyết định điều chuyển công tác bà Trần Thị Thu tại Quyết định số S008-14/QĐ ngày 30/12/2015 của ông Tổng giám đốc SHUHEI là trái pháp luật.
Quyết định số S008-14/QĐ có nội dung cụ thể là:
“Điều 1: Quyết định bố trí bà Trần Thị Thu – S008 từ Kế toán tại Văn phòng sang
kế toán phụ trách quản lý kho rác từ ngày 05/01/2016.
Điều 2: Nhân viên trên sẽ phụ trách quản lý kho rác:
- Theo dõi, thống kê, kiểm đếm và gửi bản tổng kết hàng ngày cho người phụ trách bán rác về: tình trạng, số lượng rác theo từng loại cụ thể.
- Trông coi, sắp xếp, vệ sinh kho rác.
- Chuẩn bị cân đo khi bán rác.
- Nơi làm việc tại kho chí.
… Lương và các chế độ của nhân viên áp dụng theo Điều 31 Bộ luật lao động năm 2012”
Nội dung quyết định trên là không đúng với với quy định tại Điều 31 BLLĐ 2012 Theo đó, việc chuyển người lao động sang công việc khác so với hợp đồng lao động chỉ có thể đươc thực hiện khi Công ty gặp có trường hợp quy định tại quy định tại khoản 1 Điều 31 BLLĐ, việc bố trí này phải phù hợp về thời gian báo trước cũng như tiền lương Ở trường hợp của thân chủ tôi là bà Thu vừa kết thúc 06 tháng nghỉ thai sản, đang phải chăm sóc con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, việc Công ty điều chuyển bà Thu qua môi trường lao động là trông coi, sắp xếp, vệ sinh kho rác, chuẩn bị cân đo khi bán rác là bất hợp lý Bà Thu không thể đảm bảo sức khỏe để thực hiện công việc này
Bên cạnh đó, việc chuyển bà Thu sang làm công việc khác với chức danh chuyên môn của mình là không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của bà Thu trong quan
hệ lao động với Công ty bởi theo Hợp đồng lao động được ký kết, chức danh chuyên môn của bà Thu là kế toán Sau đó, Bà Thu và người đại diện đã nêu rõ thiện chí, muốn công
ty bố trí một công việc khác phù hợp, đưa ra cả các giải pháp trong trường hợp công ty không muốn tiếp tục hợp đồng với bà nhưng cônng ty không giải quyết
Thứ ba, việc xử lý kỷ luật dưới hình thức sa thải đối với bà Trần Thị Thu là trái với quy định pháp luật lao động, cụ thể:
Ngày 20/03/2016, công ty tổ chức phiên họp xử lý vi phạm kỷ luật lao động đối với bà Thu, tuy nhiên, bà Thu lại không nhận được bất kỳ thông báo nào về buổi họp này
Do đó, không thể đưa ra ý kiến hoặc nhờ người khác (luật sư) bảo vệ quyền lợi của mình Đồng thời, tại phiên họp cũng không hề có sự tham gia của công đoàn cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Như vậy, phiên họp này diễn ra trái với trình tự xử lý kỉ luật lao động được quy định tại Điều 30 NĐ 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động
Tại phiên họp, phía công ty cho rằng bà Thu không đến công ty làm việc là vi
Trang 9phạm nội quy của công ty, hành vi của bà Thu phải chịu hình thức kỷ luật sa thải (bút lục
số 27, 133) Trên thưc tế, bà Thu không hề nhận được thông báo yêu cầu quay trở lại công ty làm việc Thậm chí đến cả thông báo đến phiên họp xử lý vi phạm kỷ luật lao động ngày 20/03 bà Thu vẫn không hề nhận được Ngay tại phiên Tòa hôm nay, phía Công ty vẫn không đưa ra được các tài liệu, chứng cứ chứng minh rằng có gửi các thông báo cho bà Thu qua đường bưu điện, như vậy lập luận (bút lục số 27, 133) của Công ty
YD là hoàn toàn thiếu căn cứ, cơ sở
Công ty cho rằng, sau biên bản ngày 20/03/2016, quan hệ lao động giữa công ty và
bà Thu vẫn còn trước khi công ty chính thức ra quyết định sa thải ngày 15 tháng 08 là không hợp lý Vì với vị trí là một người lao động, sau khi nghỉ thai sản thì bị công ty cho rằng có sai phạm trong công việc, bị điều chuyển đột ngột từ vị trí kế toán trưởng sang vị trí kế toán, quản lý kho rác, rồi tiếp tục bị nêu tên xử lý vi phạm kỷ luật lao động thì chắc chắn rằng bà Thu không thể bình tĩnh để tiếp tục làm việc Luật sư của bà Thu đã nhiều lần gửi các văn bản cho công ty YD thể hiện thiện chí trong quá trình giải quyết mâu thuẫn, nhưng công ty YD lại không có hành động nào thể hiện động thái muốn giải quyết Nếu như bà Thu tự ý bỏ việc, vậy tại sao bà Thu phải nhờ Luật sư của mình gửi các công văn, thông báo này
Chính vì vậy, tôi xin khẳng định, việc bà Thu không quay trở lại làm việc là có lý
do chính đáng không phải tự ý, lỗi thuộc về phía công ty, công ty YD không thể căn cứ
vào Điều 31 NĐ 05/2015/NĐ-CP để áp dụng hình thức kỷ luật sa thải đối với bà Thu:
Đồng thời, căn cứ theo quy định của pháp luật hiện hành thì Công ty chỉ được đưa
ra quyết định xử lý kỷ luật sa thải trong những trường hợp pháp luật có quy định về căn
cứ sa thải cũng như việc sa thải phải được tiến hành theo một trình tự, thủ tục pháp luật quy định Căn cứ theo quy định tại Điều 126 BLLĐ 2012 thì hình thức kỷ luật sa thải chỉ
áp dụng khi thuộc một trong các trường hợp sau:
“1 Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích,
sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;
2 Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.
Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật
mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật này;
3 Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng”.
Bà Trần Thị Thu không vi phạm bất kỳ trường hợp nào quy định tại Điều 126 Bộ luật Lao động Và xét thấy không có lý do nào để đưa ra quyết định sa thải đối với bà Thu Điều này cũng được thể hiện qua việc tại biên bản họp Hội đồng xử lý kỷ luật của Công ty YD phía Công ty không chứng minh được lỗi của bà Trần Thị Thu Cho nên, lý
do sa thải là không đúng với quy định
Bên cạnh đó, về nguyên tắc căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 155 Bộ luật Lao động thì trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không bị xử lý kỷ luật lao động: “Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không bị xử
Trang 10lý kỷ luật lao động” Do đó, việc Bị đơn ra quyết định sa thải đối với bà Thu là trái với quy định và không đảm bảo được các quyền và lợi ích của người yếu thế là người lao động
3 Kết luận – Kiến nghị
Bởi những lẽ trên, tại phiên tòa hôm nay tôi đề nghị Hội đồng xét xử chấp thuận yêu cầu khởi kiện của bà Thu và buộc Công ty YD phải:
- Bồi thường thiệt hại cho bà Thu do hành vi sa thải trái pháp luật, cụ thể: (i) Thanh toán toàn bộ tiền lương kể từ ngày 09/12/2015 đến hết ngày 09/09/2017 (21 tháng) theo mức lương bà Thu hiện hưởng (tạm tính) là: 21.733.600 đồng/01 tháng x 21 tháng, tổng số là 456.405.600 đồng (Bốn trăm năm mươi sáu triệu bốn trăm lẻ năm nghìn sáu trăm đồng); (ii) Thanh toán tiền bồi thường 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ quy định tại khoản 1 Điều 42 Bộ luật lao động là: 02 tháng x 21.733.600đ= 43.467.200 đồng; (iii) Thanh toán tiền trợ cấp thôi việc: Bà Thu bắt đầu làm việc tại Công ty YD vào ngày 17/7/2006 Căn cứ Điều 48 BLLĐ thì tổng thời gian bà Thu được hưởng trợ cấp thôi việc
là từ ngày 17/7/2007 đến ngày 31/12/2008 được tính là 2,5 năm Tiền lương của 06 tháng liền kề trước khi nghỉ việc là 21.733.600 đồng/01 tháng, vậy tiền trợ cấp thôi việc bà Thu được hưởng là: 21.733.600 đồng x 1/2 x 2,5 = 27.167.000 đồng (Hai mươi bảy triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng chẵn) Tổng số tiền phía nguyên đơn yêu cầu Công ty YD
phải trả là: 527.040.500 đồng (Năm trăm hai mươi bảy triệu không trăm bốn mươi nghìn
năm trăm đồng).
- Buộc Công ty YD thực hiện việc chốt Sổ bảo hiểm xã hội cho bà Thu theo quy định pháp luật
Trên đây là các quan điểm của luật sư đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, kính mong HĐXX xem xét, đưa ra một bản án phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích chính đáng của các bên
Tôi xin cảm ơn HĐXX đã chú ý lắng nghe!
VI Phần nhận xét diễn án
1 Vai Thẩm phán- Hoàng Hữu Đức
- Hình thức: Tác phong nghiêm túc, phù hợp với vai diễn; Trang phục lịch sự, chỉnh tề; Giọng đọc rõ ràng, chưa thể hiện được tinh thần đanh thép của Thẩm phán Phần trình bày khá linh hoạt theo tình hình
- Nội dung: Chuẩn bị khá đầy đủ về mặt nội dung cũng như thủ tục với vai trò và Thẩm phán Phần đặt câu hỏi cho Nguyên đơn và Bị đơn chưa thể hiện được vi phạm bên
Bị đơn
2 Vai Hội thẩm nhân dân
Hội thẩm nhân dân 1: Huỳnh Văn Vĩnh
- Hình thức: Tác phong nghiêm túc, phù hợp với vai diễn; Giọng đọc rõ ràng, dễ nghe; Trang phục lịch sự, chỉnh tề