Ngày 22/8/2016, phía Nhật Linh đã có ý kiến rằng không đồng ý thanh toán số tiền nợ với lý do: “Công ty Kim Lân đang giữ tài sản của công ty, số tài sản này có giá trị gấp nhiều lần số t
Trang 1BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn: Kỹ năng tham gia giải quyết các vụ án Dân sự
Mã hồ sơ: 13
Diễn lần: 02
Ngày diễn: 31/07/2021
Gíao viên hướng dẫn: TP Hoàng Hữu Thanh
Họ và tên: Đỗ Thị Minh Anh Lớp: LS22.2C
Số báo danh: 006
Tp Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 07 năm 2021
Trang 2BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
Nguyên đơn: Công ty TNHH Kim Lân
Bị đơn: Công ty TNHH Nhật Linh
I Tóm tắt vụ án hồ sơ vụ việc.
Tranh chấp diễn ra giữa: Nguyên đơn là Công ty TNHH Kim Lân và bị đơn là
Công ty TNHH Nhật Linh về tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa
Ngày 02/01/2015, Công ty TNHH Kim Lân (sau đây gọi tắt là “Kim Lân”) và Công ty TNHH Nhật Linh (sau đây gọi tắt là “Nhật Linh”) cùng ký Hợp đồng nguyên tắc
số 01/2015/NLBN-KL (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng”), Kim Lân sẽ là bán hàng theo yêu
cầu của Nhật Linh Tại Điều 2.2 trong hợp đồng quy định: “Bên mua sẽ thanh toán cho bên bán sau khi bên bán hoàn tất việc giao hàng cho bên mua tại đúng địa điểm giao hàng như đã thỏa thuận Bên mua sẽ thanh toán cho bên bán trong vòng 6 tháng kể từ khi bên bán cung cấp đầy đủ các giấy tờ, phiếu nhập kho, hóa đơn VAT và giấy đề nghị thanh toán, báo giá chi tiết”.
Kim Lân và Nhật Linh đã xác nhận và ký các biên bản đổi chiếu công nợ ngày
25/02/2016 với số tiền là 3.250.319.430 đồng ngày 08/05/2016 với số tiền là 3.117.970.970 đồng.
Ngày 09/5/2016, Công ty Kim Lân đã gửi công văn số: 0506/ĐN/CN về việc yêu cầu thanh toán tiền hàng đến Công ty Nhật Linh Theo nội dung Công văn nêu trên, Công
ty Kim Lân xác nhận số tiền mà Công ty Nhật Linh chưa thanh toán là 3.270.212.570
đồng và yêu cầu Công ty Nhật Linh thanh toán ngay sau khi nhận được công văn này
Ngày 17/5/2016, Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh đã có buổi làm việc với nhau để giải quyết việc thanh toán tiền hàng cho Công ty Kim Lân Nhật Linh xác nhận
số tiền còn nợ của Kim Lân và sẽ có lộ trình và phương thức thanh toán cho Kim Lân và
sẽ gửi bằng văn bản trong thời gian sớm nhất Tuy nhiên, sau đó Nhật Linh vẫn không thanh toán số nợ trên như đã cam kết
Ngày 09/8/2016, Kim Lân khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh vào theo đơn khởi kiện ngày 10/07/2016 yêu cầu Nhật Linh phải trả số tiền nợ
gốc là 3.270.212.570 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/8/2016, Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh có thông báo
số 05/2016/TB-TLVA về việc thụ lý vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn là công ty Kim Lân và Bị đơn là Công ty Nhật Linh theo
Ngày 22/8/2016, phía Nhật Linh đã có ý kiến rằng không đồng ý thanh toán số
tiền nợ với lý do: “Công ty Kim Lân đang giữ tài sản của công ty, số tài sản này có giá trị gấp nhiều lần số tiền mà Nhật Linh đang nợ, vì vậy công ty Nhật Linh chỉ đồng ý thanh toán số tiền nợ khi phía Kim Lân đồng ý ký xác nhận vào bản thống kê tài sản mà Nhật Linh để lại trên đất của công ty Kim Lân” Đồng thời kiến nghị với Tòa án: (i)
Trong khi tài sản còn đang tranh chấp, Nhật Linh đề nghị Tòa án yêu cầu Kim Lân dừng ngày hành vi sử dụng trái phép khu nhà ăn của Nhật Linh, yêu cầu khóa cửa để Lioa niêm phong trả lại theo đúng nguyên trạng như lúc Nhật Linh chuyển đi để chờ giải quyết; (ii)
Trang 3Yêu cầu Kim Lân thực hiện đúng nội dung cuộc họp 2 bên ngày 17/5/2016 là Kim Lân
ký xác nhận vào biên bản thống kê tài sản của Nhật Linh đang để lại trên đất của Kim Lân
Ngày 03/9/2016, Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa Kim Lân và Nhật Linh tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành Hai bên thống nhất được việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, nhưng không thống nhất về phương án hòa giải
Ngày 25/9/2016, đại diện theo pháp luật của Kim Lân có đơn đề nghị tạm đình chỉ giải quyết vụ án, để hai bên tự hòa giải trong 30 ngày Tòa án chấp nhận đơn đề nghị
Ngày 18/10/2016, Kim Lân có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành tiếp tục giải quyết vụ kiện do phía Nhật Linh không chấp nhận hòa giải
Ngày 28/10/2016, Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự vì xét thấy lý do tạm đình chỉ không còn
Ngày 15/11/2016, Nhật Linh có đơn đề nghị Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời bằng hình thức kê biên và niê phong toàn bộ tài sản của Nhật Linh đầu tư trên đất Kim Lân
Ngày 17/11/2016, Nhật Linh có đơn phản tố gửi Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh yếu cầu Kim Lân ký và hoàn trả toàn bộ tài sản của Nhật Linh trên đất của Kim Lân Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành chấp nhận yêu cầu phản tố và ra thông báo về việc yêu cầu phản tố cho các bên liên quan
Ngày 22/11/2016, Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh chấp nhận
đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Nhật Linh, ra quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với số tài sản Nhật Linh có yêu cầu bằng biện pháp phong tỏa tài sản
Ngày 26/11/2016, Kim Lân có đơn khiếu nại toàn bộ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành nhưng không được chấp nhận
Ngày 07/12/2016, Nhật Linh có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh đình chỉ giải quyết vụ án, trả lại đơn khởi kiện do Nguyên đơn là Kim Lân chưa đủ điều kiện để khởi kiện
Ngày 14/12/2016, Nhật Linh có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành thẩm tra lại bản chốt công nợ giữa Nhật Linh và Kim Lân và toàn bộ hồ sơ chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, đồng thời yêu cầu Kim Lân chốt công nợ tình đến hết ngày 30/10/2016 với Nhật Linh
Ngày 24/12/2016, Nhật Linh có đơn đề nghị xin hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời mà Tòa án đã ra quyết định do công ty Nhật Linh có đơn khởi kiện công ty Kim Lân tại Bắc Ninh Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành chấp nhận và ra quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời vào ngày 25/12/2016
Ngày 26/12/2016, Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành - tỉnh Bắc Ninh đã ra quyết định số 12/2016/QĐXXST-KDTM về việc đưa vụ án ra xét xử
Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện gồm có: 01 bản sao hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL; 01 bản sao GCNĐKDN công ty TNHH Kim Lân; 01 bản sao biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016; 01 bản sao biên bản đối chiếu công
Trang 4nợ ngày 08/5/2016; 01 bản sao công văn số: 0506/ĐN/CN ngày 09/5/2016; Hóa đơn GTGT
II Các vấn đề pháp lý của vụ án
1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: “Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.” > Đây là tranh chấp về kinh doanh thương mại.
2 Thời hiệu khởi kiện:
Điều 319 Luật Thương mại 2005 “Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh
chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm…”.
Do đó căn cứ Biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/5/2016 để xác nhận công nợ giữa Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh là văn bản sau cùng
Ngày 09/8/2016, Kim Lân khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh vào theo đơn khởi kiện ngày 10/07/2016 yêu cầu Nhật Linh phải trả số tiền nợ
gốc là 3.270.212.570 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật.
Vì vậy, thời hiệu khởi kiện vẫn còn tính tới ngày Tòa án thụ lý
3 Tòa án nhân dân có thẩm quyền:
Khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015: “Quan hệ tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án”
Điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này Vậy thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân cấp huyện
Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 39, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì trường hợp bị đơn là tổ chức thì Tòa án nơi bị đơn có trụ sở có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 2300336011 đăng ký lần đầu ngày 12/6/2008, đăng ký thay đổi lần thứ 7 ngày 15/5/2013 thì bị đơn Công ty TNHH Nhật Linh có trụ sở tại huyện Thuận Thành - tỉnh Bắc Ninh
Vậy thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
4 Xác định tư cách đương sự
Căn cứ theo khoản 1 Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: “Đương sự trong vụ
án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Do đó, thành phần đương sự trong vụ án này như sau:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH Kim Lân; Địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh
Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh do ông Hàn Anh Tuấn, giám đốc làm đại diện; Đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Kiều Hải Vân; Sinh năm: 1972; Địa chỉ: tổ 6, phường Láng
Hạ, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
- Bị đơn: Công ty TNHH Nhật Linh; Địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh Khương,
Thuận Thành, Bắc Ninh do ông Nguyễn Chí Linh, Tổng giám đốc làm đại diện; Đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Tiến Công; Địa chỉ: Nhà B10, P12, Mai Động, Hoàng Mai, Hà
Trang 55 Các văn bản pháp luật áp dụng
Luật Thương mại 2005; Luật Doanh nghiệp 2005; Bộ luật dân sự 2005; Bộ luật
Tố tụng dân sự 2015
III Yêu cầu của nguyên đơn và các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu
1 Yêu cầu của Công ty Kim Lân
Một là: Yêu cầu Công ty Nhật Linh thanh toán khoản nợ gốc và lãi chậm trả:
- Công ty Kim Lân yêu cầu Công ty Nhật Linh trả toàn bộ số tiền theo bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016: 3.250.319.430 đồng với lãi suất tạm tính là 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu) đồng Tổng cộng cả gốc và lãi mà phía công ty Nhật Linh phải trả cho công ty Kim Lân là 3.500.319.430 đồng (Ba tỷ năm trăm triệu ba trăm mười chín nghìn bốn trăm ba mươi đồng)
Hai là: Yêu cầu HĐXX bác bỏ yêu cầu phản tố của Bị đơn:
Căn cứ theo quy định tại Điều 200 của BLTTDS 2015 thì yêu cầu phản tố của Bị đơn không nộp đúng quy định và nội dung yêu cầu phản tố không liên quan đến vụ tranh chấp Theo đó, đơn yêu cầu thanh toán số tiền nợ thì công ty Nhật Linh, trong đơn phản
tố lại yêu cầu công ty Kim Lân ký và hoàn trả toàn bộ tài sản, đây là một yêu cầu độc lập, thuộc một vụ án khác, không liên quan với nhau
Ba là: Yêu cầu HĐXX xem xét bác bỏ việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản của Nguyên đơn là Công ty Kim Lân:
Tư cách người được ủy quyền tham gia tố tụng trong vụ án của ông Nguyễn Tiến Công là không đúng với quy định của pháp luật Do đó, yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với công ty Kim Lân là tùy tiện, gây ra thiệt hại đối với công ty Kim Lân
Cần xem xét tính khách quan của bảng kê tài sản kèm theo đơn đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp thạm thời ngày 15/11/2016, mặc dù phía Nhật Linh liệt kê rất nhiều tài sản có trên đất Kim Lân hiện nay, nhưng bảng liệt kê ấy không chính xác
2 Những vấn đề cần làm rõ:
Biên bản đối chiếu công nợ là hợp pháp
Không có việc hợp tác góp vốn vào công ty Kim Lân liên quan đến xây dựng tài sản trên đất giữa 02 bên mà do bên Nhật Linh tự ý xây dựng, các tài sản trên đất của công
ty Kim Lân không thuộc quyền sở hữu của Nhật Linh từ đó suy ra, việc Nhật Linh có đơn yêu cầu Tòa án huyện Thuận thành áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời với số tài sản ấy
là không có cơ sở
Nhật Linh không thanh toán khoản tiền như hai bên đã thỏa thuận
Ông Nguyễn Tiến Công không có tư cách tham gia phiên tố tụng
Yêu cầu phản tố của Bị đơn đã hết thời hạn, vì vậy việc Tòa án chấp nhận yêu cầu phản tố của Bị đơn là không có cơ sở pháp lý theo quy định của BLTTDS 2015
Yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của bị đơn, và quyết định chấp nhận yêu cầu áp dụng đó của Tòa án là trái pháp luật
Trang 63 Các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn
- Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015.NLBN-KL; Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty TNHH Kim Lân; Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016; Biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/05/2016; Công văn số 0506 ĐN/CN ngày 09/05/2016; Biên bản làm việc ngày 17/05/2016 giữa Nhật Linh và Kim Lân; Phiếu nhập kho các ngày : 05/01, 08/01, 10/01,15/01, 18/01, 02/02, 06/02, 21/02, 25/02, 27/02, 06/03 của năm 2016;
Ủy nhiệm chi : ngày 11/01/206 và ủy nhiệm chi ngày 30/01/2016; Hóa đơn giá trị gia tăng; Bản tự khai các bên liên quan; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 23/8/2016; Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp,tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 03/09/2016; Biên bản hòa giải không thành ngày 03/09/2016; Thông báo về việc yêu cầu phản tố ngày 19/11/2016; Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2016/QĐ-BPKCTT; Đơn Khiếu nại áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngày 26/11/2016; Quyết định không chấp nhận đơn khiếu nại về quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2016/QĐGQKN- TA; Giấy
ủy quyền phía Bị đơn (theo bút lục số 43)
IV Kế hoạch hỏi
1 Hỏi bị đơn Công ty Nhật Linh
- Vụ án đưa ra xét xử ngày hôm nay là vụ tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại – Tranh chấp kiện đòi nợ tiền hàng, nhưng ông chỉ được ủy quyền tham gia trong vụ giải quyết tranh chấp tài sản giữa 2 công ty, vậy ông cho biết ông có thẩm quyền tham gia
tố tụng tại tòa hôm nay không?
- Ngày 02/5/2015 giữa Kim Lân và Nhật Linh có ký hợp đồng nguyên tắc về mua bán hàng hóa Kim Lân có vi phạm về trách nhiệm giao hàng hay cung cấp các chứng từ liên quan không?
- Tại nội dung biên bản làm việc ngày 17/5/2016, Nhật Linh đã có có xác nhận đang nợ tiền hàng của Nhật Linh vậy số tiền đang nợ này là bao nhiêu?
- Tại nội dung của công văn 76 ngày 23/5/2016 và 77 ngày 27/5/2016 Nhật Linh
đã đề xuất phương án xử lý tài sản và lộ trình thanh toán như thế nào?
- Lộ trình thanh toán này áp dụng cho khoản nợ nào giữa Nhật Linh và Kim Lân?
- Hai bên đã thực hiện thế nào sau khi đã gửi công văn số 76 và 77?
- Bị đơn có quản lý, chứng từ chứng minh số tài sản mà Nhật Linh cho rằng đang trên đất của Kim Lân là của Nhật Linh không?
2 Hỏi nguyên đơn Công ty Kim Lân
- Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giao hàng cho bị đơn hay chưa?
- Theo hợp đồng nguyên tắc, thời hạn thanh toán là trong vòng 6 tháng kể từ ngày bên bán cung cấp các chứng từ trong đó có hóa đơn GTGT Vậy nguyên đơn đã cung cấp các chứng từ hay chưa?
- Nguyên đơn cho biết các biên bản đối chiếu công nợ từ trước đến nay thì Kim Lân thường xuyên làm việc với ai bên phía Nhật Linh?
- Nguyên đơn cho biết tại sao Nhật Linh lại xây dựng các tài sản trên đất của nguyên đơn?
- Khi xây dựng công trình trên đất của nguyên đơn, bị đơn có xin phép không?
Trang 7V Bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là Công ty TNHH Kim Lân
Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa Vị đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa Tôi là Luật sư Đỗ Thị Minh Anh, đến từ Công ty luật 22.2C, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh Hôm nay tôi tham gia phiên tòa với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH Kim Lân trong vụ án “Tranh chấp kiện đòi
nợ tiền hàng” theo hồ sơ thụ lý số thông báo số 05/2016/TB-TLVA ngày 21/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, tôi xin trình bày một số quan điểm như sau:
1 Về thẩm quyền Tòa án:
Theo quy định tại khoản 5.1 Điều 5 của Hợp đồng, hai bên có thỏa thuận sẽ sử dụng Trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội để giải quyết tuy nhiên thực tế trung tâm trọng tài này không tồn tại nên điều khoản này không thể thực hiện được trong Hợp đồng và sẽ
bị xem là vô hiệu khi áp dụng và khi điều khoản giải quyết tranh chấp vô hiệu thì việc giải quyết tranh chấp sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án nếu hai bên không có thỏa thuận khác
2 Về trình tự thủ tục:
Về xác định tư cách tham gia tố tụng của Nguyễn Tiến Công: Đối với tư cách tham gia tố tụng của phía Bị đơn là công ty Nhật Linh Căn cứ theo Giấy ủy quyền tại bút lục số 43 của hồ sơ vụ án, nội dung ủy quyền giữa người đại diện theo pháp luật của công
ty Nhật Linh - ông Nguyễn Chí Linh, thì ông Nguyễn Tiến Công chỉ có quyền tham gia trong vụ việc giải quyết tranh chấp tài sản giữa công ty Nhật Linh và công ty Kim Lân, chứ không phải trong vụ án kiện đòi tiền hàng ngày hôm nay Chính vì vậy, chúng tôi cho rằng toàn bộ những ý kiến, đề nghị, chứng cứ do ông Nguyễn Tiến Công từ ngày 22/8/2016 là không có giá trị pháp lý trong quá trình giải quyết vụ án này Kính đề nghị Quý Tòa và phía Đại diện VKS xem xét!
3 Về yêu cầu của Nguyên đơn:
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn đã sửa đổi một phần yêu cầu khởi
kiện là yêu cầu Tòa án buộc bị đơn - Công ty Nhật Linh, thanh toán số tiền 3.177.970.970
đồng do vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL cùng tiền lãi chậm trả theo quy định của pháp luật là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật bởi:
Một là Kim Lân đã hoàn tất nghĩa vụ thanh toán của mình trong HĐNT ký kết với Nhật Linh:
- Trong quá trình thực hiện hợp đồng, về phía Kim Lân đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trong việc cung cấp hàng hóa cũng như các chứng từ theo như yêu cầu của Nhật Linh thể hiện qua các chứng cứ, chứng từ hóa đơn GTGT mà Kim Lân đã nộp cho tòa,
thể hiện qua lời khai của ông Nguyễn Tiến Công (tại bút lục số 81) cụ thể: “Quá trình làm ăn với nhau đều có sổ sách chứng từ theo dõi của kế toán Phía Nhật Linh đang có công nợ tiền gia công của công ty TNHH Kim Lân”.
- Qua các lần giao hàng, Nhật Linh cũng không có bất kỳ khiếu nại gì về hàng hóa
mà phía Kim Lân đã giao
Trang 8- Do đó, Kim Lân đã hoàn thành tất cả các nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 34, Điều 42, Luật thương mại 2005 cũng như những ràng buộc trách nhiệm trong Hợp đồng nguyên tắc
Hai là, nghĩa vụ thanh toán của Nhật Linh đã phát sinh và Nhật Linh đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng thời hạn:
- Việc ông Nguyễn Tiến Công đã có ý kiến rằng Kim Lân và Nhật Linh tồn tại một khoản nợ và có lộ trình thanh toán (bút lục 81) đã trực tiếp thừa nhận nghĩa vụ trả tiền của Nhật Linh đã phát sinh và Nhật Linh có nghĩa vụ thực hiện
- Khoản 2, Khoản 4, Điều 4 của Hợp đồng thì bên mua có trách nhiệm thanh toán cho Bên bán theo đúng Điều 2 của Hợp đồng Trong trường hợp bên mua thanh toán cho bên bán trễ theo điều của hợp đồng, nếu không thỏa thuận, hoặc thông báo trước với bên bán thì bên mua phải chịu lãi suất là 10% tháng trên toàn bộ giá trị phần chưa thanh toán) Như vậy, nghĩa vụ thanh toán của Bị đơn được xuất phát từ Hợp đồng (theo Khoản
1, Điều 281 BLDS năm 2005)
- Tính đến thời điểm này thời hạn thanh toán cho các đơn hàng năm 2015 đã vượt quá 6 tháng, trong khi các thủ về giao hàng, hồ sơ cung cấp cần thiết nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ như đã nêu trên Căn cứ các Điều 50, Điều 51, Luật thương mại 2005 về thanh toán thì Nhật Linh đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng
- Việc không thanh toán của Nhật Linh là vi phạm hợp đồng theo quy định khoản
12 Điều 3 Luật thương mại Yêu cầu thực hiện trả tiền là buộc Nhật Linh thực hiện đúng hợp đồng theo quy định tại Điều 297 Luật thương mại đối với phần nghĩa vụ chưa thực hiện là phù hợp với quy định pháp luật
Ba là, đối với yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn khoản tiền lãi do việc chậm thanh toán:
Căn cứ theo Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, lãi suất theo thỏa thuận của các bên đã tuân theo quy định pháp luật Theo đó, Điều 2 và Điều 4.4 của Hợp Đồng quy định bị đơn có nghĩa vụ hoàn tất việc thanh toán bằng chuyển khoản cho nguyên đơn trong vòng
06 tháng kể từ khi nguyên đơn cung cấp đầy đủ các giấy tờ, phiếu nhập kho, VAT và các giấy đề nghị thanh toán, báo giá chi tiết Đồng thời, tất cả các khoản thanh toán chậm phải chịu một khoản lãi suất là 10% cho một tháng chậm trả tính từ ngày đến hạn thanh toán cho đến ngày thực tế thanh toán Do bị đơn có nghĩa vụ phải thanh toán tiền lãi chậm trả phát sinh trên Khoản Nợ nêu trên cho nguyên đơn tính đến ngày
Đồng thời Án lệ 09/2016 AL có nội dung về tiền lãi do chậm thanh toán được tính theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường bằng mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất ba ngân hàng tại địa phương tại thời điểm thanh toán, lãi suất quá hạn trung bình áp dụng sẽ là 11%
Theo đó tổng số tiền mà Kim Lân yêu cầu thanh toán đã bao gồm tiền lãi là 3.425.587.875 đồng là có căn cứ
4 Yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu nguyên đơn ký xác nhận và hoàn trả lại toàn bộ tài sản của bị đơn trên đất của nguyên đơn cho bị đơn là không hợp lý Bởi lẽ:
Việc phía công ty Nhật Linh cho rằng chưa phát sinh nghĩa vụ thanh toán vì công
ty Kim Lân chưa xuất hóa đơn VAT Tuy nhiên, việc xuất VAT này không phải là yếu tố tiên quyết của việc thanh toán khoản nợ Bởi lẽ, đại diện của bị đơn đã trực tiếp ký vào
Trang 9bản vào biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016 và ngày 8/5/2016 Bản đối chiếu công nợ được coi là chứng cứ quan trọng nhất thể hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ của
bị đơn và nguyên đơn
Căn cứ theo quy định của Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự về quyền yêu cầu phản
tố của Bị đơn thì cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố này phải được đưa ra trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Tuy nhiên, đơn khởi kiện của bên Nguyên đơn được Tòa ra thông báo thụ lý ngày 21/8/2016 (bút lục số 41, 42); Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giả là ngày 03/9/2016; biên bản ghi ý kiến bên bị đơn đề ngày 22/8/2016 (bút lục số 44), nhưng đơn phản tố là ngày 17/11/2016 (bút lục số 69), Tòa án ra thông báo về việc yêu cầu phản tố ngày 19/11/2016
(bút lục số 73) có nội dung: “Ngày 23 tháng 10 năm 2016 Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành đã nhận được đơn yêu cầu phản tố của công ty TNHH Nhật Linh….”
Như vậy, trình tự đưa ra yêu cầu phản tố của nguyên đơn không đúng với quy định của pháp luật vì công ty Nhật Linh đưa ra yêu cầu phản tố sau ngày diễn ra phiên họp Mặt khác yêu cầu phản tố trong đơn ngày 17/11/2016 không có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn trong vụ án tranh chấp bởi vì nếu công ty Kim Lân có đơn yêu cầu thanh toán số tiền nợ thì công ty Nhật Linh, trong khi đơn phản tố lại yêu cầu Kim Lân ký và hoàn trả toàn bộ tài sản, đây là một yêu cầu độc lập, có thể khởi kiện thuộc một vụ án khác, không liên quan với nhau
Bên cạnh đó, Kim Lân khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán khoản nợ là dựa vào Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL, trong Hợp đồng nguyên tắc không quy định nghĩa vụ thanh toán của bị đơn được cấn trừ vào bất kỳ nghĩa vụ tài sản nào của nguyên đơn
Ngoài ra, việc Công ty Nhật Linh cho rằng việc tranh chấp tài sản giữa hai công ty
có liên quan đến vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại- kiện đòi tiền hàng hôm nay là hoàn toàn không có cơ sở Theo đó, Công ty Kim Lân thành lập ngày 25/11/2003, bắt đầu xây dựng các tài sản trên đất năm 2006, 2007 để phục vụ cho việc sản xuất, kinh doanh, điều này thể hiện rõ trên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 2102000533 cũng như trong các buổi làm việc tại Tòa án (bút lục số 10, 87), còn công ty Nhật Linh thành lập ngày 12/6/2008, sau tận 05 năm, giữa hai công ty không có sự hợp tác góp vốn nào liên quan đến việc xây dựng tài sản trên đất ngoài việc ký hợp đồng gia công, mua bán hàng hóa Cũng không có bất cứ chứng cứ nào liên quan đến việc góp vốn như Nhật Linh
đã trình bày Bên cạnh đó, Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL được ký kết bởi
tư cách của pháp nhân là Công ty TNHH Kim Lân và Công ty TNHH Nhật Linh Trên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh cũng không thể hiện tên thành viên góp vốn là Công ty với bên còn lại Từ những căn cứ trên, chúng tôi nhận thấy rằng lời trình bày trong đơn phản tố của bị đơn là không có căn cứ
Theo đơn đề nghị ngày 23/10/2016, kèm cùng với đơn phản tố, phía Nhật Linh cho rằng hiện nay công ty Nhật Linh đang để lại một số tài sản trên đất Kim Lân, yêu cầu phía chúng tôi phải ký xác nhận, và đề nghị TAND huyện Thuận Thành xem xét giá trị tài sản ấy để đối trừ việc nợ tiền hàng của công ty Kim Lân, khẳng định giá trị số tài sản
ấy gấp nhiều lần so với công nợ nhưng lại không đưa ra cụ thể giá trị tài sản ấy là bao nhiêu để đối trừ Biên bản xác nhận tài sản của công ty Nhật Linh đầu tư xây dựng trên đất của công ty Kim Lân là một tài liệu photo, không có dấu giáp lai, chữ ký của Kim
Trang 10Lân, không có giá trị pháp lý Nhật Linh cũng không đưa ra được hợp đồng đầu tư góp vốn giữa các bên, không chứng minh được phía công ty Kim Lân góp vốn bằng quyền sử dụng đất, trong khi mảnh đất có các tài sản tranh chấp trên hiện do công ty Kim Lân đứng tên có chứng cứ kèm theo hôm nay, mảnh đất này là do phía công ty Kim Lân cho công
ty Nhật Linh thuê, trong thời gian đó, phía công ty Nhật Linh tự ý xây dựng thêm căn nhà kho 3 tầng, chuyển máy phát điện và ôto ISUZU biển kiểm soát 54V- 9063 vào để phục vụ hoạt động của công ty Nhật Linh, điều này chúng tôi đã trình bày trong đơn khiếu nại ngày 26/11/2016
Từ những căn cứ trên, có thể thấy yêu cầu phản tố của bị đơn là hoàn toàn không
có căn cứ theo quy định tại Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự Nên tôi kính yêu cầu Tòa án bác yêu cầu phản tố của Nhật Linh
5 Về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Tòa án nhân dân đã chấp nhận và ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vào ngày 22/11/2016 theo yêu cầu của phía bị đơn vào ngày 15/11/2016 Theo đó, ông Nguyễn Tiến Công có đơn đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kèm
theo bảng kê tài sản đề nghị phong tỏa (bút lục 83, 84), mặc dù phía Kim Lân đã có đơn
khiếu nại vào ngày 26 tháng 11 năm 2016, nêu rõ các căn cứ chứng minh việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trên là bất hợp lý, gây thiệt hại cho Kim Lân (bút lục số 87,88) nhưng phía Tòa án đã không chấp nhận vì cho rằng không có cơ sở (bút lục số 89)
Tuy nhiên, như đã khẳng định từ đầu, ông Nguyễn Tiến Công là người được ủy quyền tham gia giải quyết trong vụ án tranh chấp tài sản giữa công ty Nhật Linh và công
ty Kim Lân, không phải trong vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại, kiện đòi tiền hàng hôm nay Điều này cũng được ông Công thể hiện trong đơn đề nghị ngày 15/11/2016, đó là một vụ án khác, tách biệt với vụ án hôm nay nhưng không hiểu tại sao lại được Tòa án chấp nhận và cho thi hành áp dụng biện pháp khẩn cấp ấy trong vụ án này
Ngoài ra, cần xem xét tính khách quan của bảng kê tài sản kèm theo đơn đề nghị
áp dụng biện pháp khẩn cấp thạm thời ngày 15/11/2016, mặc dù phía công ty Nhật Linh liệt kê rất nhiều tài sản có trên đất của công ty Kim Lân hiện nay, nhưng bảng liệt kê ấy không chính xác, trong mục liệt kê có 12 danh mục tài sản nhưng chúng tôi chỉ chấp nhận
03 danh mục tài sản là thuộc về công ty Nhật Linh, số còn lại thuộc về quyền sở hữu của công ty Kim Lân Việc Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành không tiến hành xác minh các chứng cứ được cung cấp, xem thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên nàotrước khi đưa ra một quyết định đã tùy tiện ra quyết định áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản một bên dựa vào yêu cầu của một bên đối lập, điều này làm thiệt hại rất lớn cho phía Kim Lân chúng tôi
6 Kết luận – Kiến nghị
Từ những luận điểm trên, tôi nhận thấy yêu cầu khởi kiện của Kim Lân là có căn
cứ và đúng quy định pháp luật
Kính đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: các Điều 26,111,113,200 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 357 của Bộ luật dân sự; Các Điều 34, 42, 50, 51 của Luật thương mại; Án
Lệ 09/2016 AL và Nghị quyết 02/2005/NQ-HĐTP ra quyết định:
- Buộc Công ty TNHH Nhật Linh, thanh toán số tiền 3.425.587.875 đồng (bao