1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội phạm mà a thực hiện trong tình huống nêu trên là thuộc cấu thành tội phạm cơ bản hay cấu thành tội phạm tăng nặng

10 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 365,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả sử A vừa chấp hành xong hình phạt 7 năm tù về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích lại phạm tội như tình huống nêu trên thì trường hợp phạm tội của A được coi là tái phạm hay t

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỀ BÀI 1

Họ và tên : PHẠM THỊ LƠ MSSV : 431515

Lớp : N05.TL4

Khóa : K43

Hà Nội, 2018

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 2

*Đề bài tập và yêu cầu 2

BÀI LÀM 3

Câu 1 Tội phạm mà A và B thực hiện trong tình huống nêu trên là thuộc cấu thành tội phạm cơ bản hay cấu thành tội phạm tăng nặng? 3

a Cấu thành tội phạm 3

b Tội phạm mà A và B thực hiện trong tình huống 4

Câu 2 Phân tích, xác định lỗi và động cơ phạm tội của A và B 5

*Phân tích, xác định lỗi 5

*Động cơ phạm tội của A và B 6

Câu 3 Giả sử A vừa chấp hành xong hình phạt 7 năm tù về tội trộm cắp tài sản (chưa được xóa án tích) lại phạm tội như tình huống nêu trên thì trường hợp phạm tội của A được coi là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? 6 Câu 4 Giả sử sau khi giết C, A còn lấy của nạn nhân số tiền 1,5 triệu đồng và chiếc xe máy (trị giá 10 triệu đồng) thì B có phải chịu TNHS với A về tội cướp tài sản không ? Tại sao? 7

KẾT LUẬN 8

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9

Trang 3

MỞ ĐẦU

Như chúng ta đã biết, luật hình sự là hệ thống các quy phạm pháp luật xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và quy định hình phạt cũng như biện pháp hình sự phi hình phạt có thể áp dụng cho các tội phạm đó Để quy định rõ các biện pháp xử phạt hay các trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự thì Bộ luật Hình sự 2015 là nguồn đầy đủ nhất cho tới hiện nay Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự có thể coi là “lý thuyết” để các nhà chức trách

có thẩm quyền hay những người cầm quyền áp dụng để thi hành Vì vậy mà chúng ta thường chỉ chú ý đến hình phạt cuối cùng của tội phạm mà không có những hiểu biết sâu sắc về nhiều vấn đề của một vụ án như những cấu thành tội phạm là gì, cấu thành tội phạm tăng nặng hay giảm nhẹ như thế nào, xác định lỗi

và động cơ phạm tội ra sao

Trong bài tiểu luận này, tôi chọn một vụ án cụ thể để phân tích những vấn đề như cấu thành tội phạm, xác định lỗi, động cơ phạm tội trong chính vụ án

đó để bạn đọc có thể hiểu thêm về những vấn đề này Tuy nhiên, do còn có những hạn chế về kiến thức nên bài tiểu luận không tránh khỏi những sai sót, mong bạn đọc có thể góp ý để bài viết hoàn thiện hơn

NỘI DUNG

2

Trang 4

*Đề bài tập và yêu cầu:

A (đang có vợ) và B (đang có chồng) là hai người cùng xã quen biết rồi có quan hệ tình cảm bất chính với nhau Mối quan hệ bất chính của A và B bị C (chồng của B) phát hiện Vì muốn được tự do quan hệ, chung sống với nhau, B bàn với A tìm cách giết C B báo cho A biết thời gian, đoạn đường C thường đi lấy hàng vào sáng sớm để A chuẩn bị phương tiện và thực hiện việc giết C Hành vi của A và B sau đó bị tòa kết án theo khoản 1 điều 123 BLHS

1 Tội phạm mà A thực hiện trong tình huống nêu trên là thuộc cấu thành tội phạm cơ bản hay cấu thành tội phạm tăng nặng?

2 Phân tích, xác định lỗi và động cơ phạm tội của A và B trong tình huống nêu trên

3 Giả sử A vừa chấp hành xong hình phạt 7 năm tù về tội trộm cắp tài sản (chưa được xóa án tích) lại phạm tội như tình huống nêu trên thì trường hợp phạm tội của A được coi là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm

4 Giả sử sau khi giết C, A còn lấy của nạn nhân số tiền 1,5 triệu đồng và chiếc xe máy (trị giá 10 triệu đồng) thì B có phải chịu TNHS với A về tội cướp tài sản không ? Tại sao?

BÀI LÀM

Câu 1 Tội phạm mà A và B thực hiện trong tình huống nêu trên là thuộc cấu thành tội phạm cơ bản hay cấu thành tội phạm tăng nặng?

a Cấu thành tội phạm

Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng

cho tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự 1

Trang 5

Mỗi trường hợp phạm tội cụ thể của tội phạm nhất định như tội giết người, tội cướp tài sản đều có những nội dung biểu hiện riêng biệt ở cả bốn yếu

tố Các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm là những dấu hiệu phản ánh nội dung của các yếu tố tội phạm Nhưng không phải tất cả các dấu hiệu của bốn yếu tố đều được đưa vào cấu thành tội phạm Những dấu hiệu sau phải có trong tất cả các cấu thành tội phạm:

- Dấu hiệu hành vi thuộc yếu tố mặt khách quan của tội phạm;

- Dấu hiệu lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội phạm;

- Dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự (trong đó có dấu hiệu độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) thuộc yếu tố chủ thể của tội phạm

b Tội phạm mà A và B thực hiện trong tình huống

Các dấu hiệu cấu thành tội phạm của A:

- Dấu hiệu hành vi thuộc yếu tố mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của A, B là bàn bạc, chuẩn bị phương tiện và thực hiện việc giết C cùng B, đây là hành vi có tính gây thiệt hại cho xã hội, cho C Tuy hành vi giết người chưa được thực hiện nhưng có thể thấy trước được hậu quả thiệt hại cho

xã hội là dẫn đến chết người A và B đã thống nhất chuẩn bị phương tiện, thủ đoạn, biết thời gian và địa điểm thực hiện hành vi giết C Qua đó có thể thấy, A

đã đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm

- Dấu hiệu lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội phạm: Hành vi của A và B

là hành vi thuộc lỗi cố ý trực tiếp Bởi A, B biết rõ hành vi mình thực hiện giết chết C, gây nguy hiểm cho xã hội, thậm chí C còn là chồng của B A và B lường trước được mức độ nguy hiểm của hành vi vnhưngvẫn mong muốn hậu quả đó xảy ra

- Dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự (trong đó có dấu hiệu độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) thuộc yếu tố chủ thể của tội phạm: A đang có vợ và B đang

có chồng nên có thể hiểu A và B đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự là từ đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý giết người Qua hành vi A và B

4

Trang 6

bàn bạc với nhau để giết C thì có thể thấy hành vi của A và B là có tự chủ, A và

B vẫn có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự

 Như vậy, có thể thấy hành vi của A, B đều chứng tỏ dấu hiệu để cấu thành nên tội phạm hình sự Tuy nhiên, ở trường hợp của A phải xét đến đây

là cấu thành tội phạm cơ bản hay là cấu thành tội phạm tăng nặng

Theo khoản đ Điều 52 của Bộ luật Hình sự về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì phạm tội vì động cơ đê hèn là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Động cơ đê hèn ở đây có thể hiểu là phạm tội vì sự ích kỷ cao, phản trắc, bội bạc Hành vi của A là chuẩn bị, lên kế hoạch để thực hiện hành vi giết C để cướp vợ của C (là B), còn B bàn với A để tìm cách giết chồng

để quan hệ bất chính với A Đây là hành vi ghen tuông mù quáng, đi trái với đạo đức xã hội rất nhiều lần Như vậy, tội phạm của A, B thực hiện trong tình huống trên là cấu thành tội phạm tăng nặng

Câu 2 Phân tích, xác định lỗi và động cơ phạm tội của A và B

*Phân tích, xác định lỗi:

Lỗi là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi có tính gây thiệt hại

cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý Có 4 loại lỗi, đó là: Lỗi cố ý trực tiếp, lỗi cố ý gián tiếp, lỗi vô ý do quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả

Có thể thấy, hành vi của A và B là thuộc lỗi cố ý trực tiếp, vì:

- Về mặt lý trí: A và B nhận thức rõ, đầy đủ tính nguy hiểm của hành

vi của mình Hành vi của A và B sẽ dần đến chết người, đây là hành vi mang tính nguy hiểm cả về hành vi cũng như hậu quả sẽ xảy ra nếu thực hiện nó

- Về mặt ý chí: A và B mong muốn hậu quả xảy ra, mong muốn cho

C chết Điều đó có nghĩa hậu quả của hành vi giết C (là C chết) hoàn toàn phù hợp với ý chí, mục đích và mong muốn của A và B Chúng ta thấy rõ ràng, A và

B thấy trước được hành vi này nguy hiểm cho xã hội; A và B cũng lường trước

Trang 7

được hậu quả, tác hại của hành vi đó; và A, B đều mong muốn hậu quả đó xảy ra

 Như vậy, rõ ràng lỗi của A và B là lỗi cố ý trực tiếp

*Động cơ phạm tội của A và B

Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực

hiện hành vi phạm tội cố ý

Động cơ phạm tội của A và B là muốn được tự do quan hệ, được chung sống với nhau A và B có quan hệ bất chính và B lại đang có chồng nên A và B

đã tìm cách giết C là chồng của B để được đến với nhau Có thể thấy, đây là động cơ đê hèn, đi trái với đạo đức, chuẩn mực xã hội chung của người Việt Nam

Câu 3 Giả sử A vừa chấp hành xong hình phạt 7 năm tù về tội trộm cắp tài sản (chưa được xóa án tích) lại phạm tội như tình huống nêu trên thì

trường hợp phạm tội của A được coi là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm?

Theo Điều 53 BLHS 2015 quy định về tái phạm và tái phạm nguy hiểm:

“1 Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện

hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

2 Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do

cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.”

Như vậy, trong trường hợp cụ thể của A, xét thấy:

- A vừa chấp hành án 07 năm tù về tội trộm cắp tài sản Theo điểm b khoản 1 Điều 9 của BLHS 2015 thì khung hình phạt chung đối với tội phạm

6

Trang 8

hình sự có mức án tù trừ 03 đến 07 năm tù thì được xếp vào tội phạm nghiêm trọng Vì vậy, có thể thấy tội phạm mà A thực hiện trước đây (tội trộm cắp tài sản) là tội phạm nghiêm trọng

- Tội trộm cắp tài sản của A chưa được xóa án tích

- Hành vi của A trong tình huống giết C bị tòa án kết án theo khoản 1 Điều 123 BLHS 2015, tức là A phạm tội giết người Hành vi của A lại là lỗi do

cố ý trực tiếp, không phải lỗi do vô ý gây nên

 Vì vậy, khi phân tích tình huống của A và đối chiếu với Điều 53 BLHS

2015 về tai phạm và tái phạm nguy hiểm thì có thể thấy, trong trường hợp phạm tội của A này được coi là tái phạm nguy hiểm

Câu 4 Giả sử sau khi giết C, A còn lấy của nạn nhân số tiền 1,5 triệu đồng

và chiếc xe máy (trị giá 10 triệu đồng) thì B có phải chịu TNHS với A về tội cướp tài sản không ? Tại sao?

Về hành vi giết C của A thì có thể thấy, B là đồng phạm của A

Theo Điều 17 BLHS 2015 quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai

người trở lên cùng thực hiện một tội phạm” Người đồng phạm góp sức mình,

tác động lên ý thức người phạm tội, thôi thúc người phạm tội thực hiện hành vi Đồng phạm bao gồm:

- Người thực hành: trực tiếp thực hiện hành vi tội phạm

- Người tổ chức: chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm

- Người xúi giục: kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm

- Người giúp sức: tạo điều kiện tinh thần (những gì không có tính vật chất

nhưng cũng tạo cho người thực hiện điều kiện thuận lợi để phạm tội) hoặc vật chất (công cụ, phương tiện,…) cho việc thực hiện tội phạm

Trước hết, xét về hành vi giết C của A, B bàn với A tìm cách giết C để được tự do quan hệ thì B là người tổ chức, chủ mưu và cũng là người xúi giục, B

Trang 9

C thì ở đây, B là người giúp sức Hơn nưa, trong tình huống này thì B có xuất hiện ở trong lúc A giết C nên B cũng được coi là tham gia giúp sức, trực tiếp thực hiện hành vi tội phạm với A Vì vậy, B là đồng phạm với A trong hành vi giết C

Sau khi giết C thì A còn lấy của nạn nhân số tiền 1,5 triệu đồng và chiếc

xe máy trị giá 10 triệu đồng, vậy tổng giá trị trộm cắp là 11,5 triệu đồng Điều

đó có nghĩa là hành vi này của A cấu thành nên tội cướp tài sản Tuy nhiên, hành vi cướp tài sản của C thì B không phải trách nhiệm hình sự cùng A, bởi vì hành vi này là hành vi phát sinh chỉ của A Trong trường hợp này thì B không xúi giục cũng như không bàn bạc với A về việc cướp tài sản của nạn nhân B chỉ

là đồng phạm với A trong hành vi giết người trước đó Ngay từ khi có ý định giết C thì B cũng không có âm mưu cướp tài sản Hành vi cướp tài sản tự phát sinh của A như vậy thì chỉ A chịu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản

Như vậy, trong trường hợp này, B không phải chịu trách nhiệm hình sự

về tội cướp tài sản cùng với A

KẾT LUẬN

Qua bài tập tình huống cụ thể trên, với kiến thức mà tôi đã được học và cách phân tích, làm bài theo ý kiến, quan điểm cá nhân của mình, tôi mong rằng bạn đọc có thể tham khảo, từ đó có thể hiểu thêm về luật hình sự, đặc biệt là những vấn đề mang tính thực tiễn sâu sắc Qua đó, rất mong muốn bạn đọc có thể hiểu thêm những vấn đề được nêu ra giải quyết trong bài tiểu luận như đồng phạm, lỗi của hành vi tội phạm là gì, động cơ, mục đích phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hay cấu thành tội phạm cơ bản Khi hiểu được những vấn đề này thì khi nhìn nhận vấn đề hay hành vi phạm tội nào đó, chúng ta sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn, phân tích sâu sắc hơn hành vi của người phạm tội Tuy bài tập vẫn còn nhiều thiếu sót nhưng rất cảm ơn bạn đọc đã tìm hiểu

8

Trang 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Trường Đại học

Luật Hà Nội

2 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nxb Lao động

3 Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb CAND, Hà Nội,

2015

Ngày đăng: 04/01/2022, 01:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w