Đối với HS thì sự chán ghét bộ môn là rất có thể (đây có thể là nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của HS, làm cho HS sợ học, chán ghét bộ môn). Hóa học là môn học thực nghiệm và có ý nghĩa rất quan trọng của khoa học đời sống hàng ngày. Có nhiều cách để nâng cao chất lượng học tập môn hóa Ví dụ: Cho HS thấy được vai trò, tầm quan trọng của môn hóa học trong chương trình THCS và các cấp học trên; vai trò và tầm quan trọng của hóa học trong đời sống, trong thực tiễn phát triển khoa học kỹ thuật...Qua việc cho HS sử dụng kiến thức bộ môn giải quyết các bài tập thực tiễn, giải thích các hiện tượng tự nhiên xảy ra xung quanh trong đời sống và trong sản xuất. Thay đổi phương pháp, hình thức dạy học: Linh hoạt, đa dạng trong mỗi giờ, mỗi phần, chú ý hoạt động đặc trưng bộ môn (thí nghiệm hóa học biểu diễn, thí nghiệm thực hành), sử dụng phương tiện kỹ thuật trong dạy học. HS rất hào hứng khi được tham gia thí nghiệm trong giờ học hay trong phòng thí nghiệm, bài học sẽ có kết quả tốt khi sử dụng các phương tiện như máy vi tính, máy chiếu đa năng, các phần mềm hóa học... Phong cách làm việc của GV qua từng bài giảng trong quá trình nghiên cứu bộ môn; sự gần gũi, sự nhìn nhận của GV trong sự cố gắng, nỗ lực của HS. Tạo không khí vui vẻ, thoải mái trong mỗi giờ học (yêu cầu nghiêm túc nhưng vẫn nhẹ nhàng, không căng thẳng), đây chính là nghệ thuật sư phạm của GV nhờ sự nắm vững kiến thức khoa học của bộ môn, hiểu và nắm vững quy luật nhận thức, tâm lý sư phạm..., hiểu rõ, đồng cảm với đối tượng HS mà mình dạy. Lựa chọn bài tập có ý nghĩa (đặc biệt các bài tập có liên quan đến thực tiễn, bài tập có nhiều cách giải hay, sáng tạo), bài tập có yêu cầu phù hợp với đối tượng HS, sao cho đối tượng yếu kém nếu thực sự cố gắng cũng hoàn thành được yêu cầu GV giao. Bài tập được nâng dần theo chất lượng và mức độ yêu cầu. Do đó, cách tốt nhất là rèn luyện cho HS cách học hơn là nhồi nhét kiến thức. Trong những phương pháp dạy học tích cực hiện nay, dạy học nêu vấn đề là một trong những phương pháp có thể phát huy tính chủ động, sáng tạo, tích cực ở HS nhất. Bằng cách sử dụng những tình huống có vấn đề, HS sẽ chủ động chiếm lĩnh tri thức trong quá trình tìm hướng giải quyết những vấn đề đó. Từ đó hình thành ở các em nhân cách của người lao động mới biết tự chủ và có năng lực giải quyết các vấn đề do cuộc sống đặt ra. Trong thực tế đã có rất nhiều nghiên cứu về dạy học bằng THCVĐ, tuy nhiên trong dạy học hóa học, các THCVĐ vẫn chưa được khai thác triệt để (các thí nghiệm vẫn còn mang nặng tính chất biểu diễn minh họa, truyền đạt kiến thức mới vẫn còn mang nặng tính chất thông báo, …). Xuất phát từ những lý do, mục đích, ý nghĩa nói trên, tôi đã nghiên cứu cẩn thận và mạnh dạn chọn thực hiện sáng kiến kinh nghiệm: “Nâng cao chất lượng học tập môn hóa học cho học sinh khối 9 trường THCS Cam Thịnh Tây bằng cách xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học”
Trang 1I ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ thực tế dạy học hóa học ở trường THCS Cam Thịnh Tây (trên địa bàn
xã Cam Thịnh Tây, thành phố Cam Ranh) tôi nhận thấy tỷ lệ HS yếu kém rất cao và HS không hứng thú học tập bộ môn Khác với các môn học khác, môn hóa học có nhiều khái niệm trừu tượng và khó, do đó HS tiếp thu kiến thức ngàycàng khó khăn và thiếu hụt
GV phải tạo cho HS động cơ, quyết tâm phấn đấu vươn lên để tự khẳng định mình “Động cơ học tập không có sẵn, không thể áp đặt, phải hình thành dần dần trong quá trình HS chiếm lĩnh đối tượng học tập dưới sự tổ chức và điềukhiển của thầy”
Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, lượng kiến thứccủa nhân loại là vô tận, chúng ta phải thay đổi phương pháp dạy và học theohướng tích cực, trong đó người học chuyển dần từ vai trò bị động sang chủđộng, tích cực tiếp thu kiến thức Tinh thần đó đã được nêu trong Luật Giáo dục
2005: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”
Để thực hiện được vấn đề này, điều quan trọng là GV phải xây dựng đượcnhững tình huống có vấn đề trong dạy học Để HS có thể thấy rằng muốn đạt được mục tiêu trong học tập, ngoài môi trường, các tác nhân khác thuận lợi còn phải có sự cố gắng quyết tâm của cả thầy và trò trong quá trình học tập Sẽ có kết quả tốt hơn nếu GV tổ chức được các buổi ngoại khóa tìm hiểu về vai trò củahóa học trong đời sống, sản xuất; các buổi nói chuyện về các nhà bác học,
những ngành nghề liên quan đến hóa học; tổ chức những buổi sinh hoạt giới thiệu những tấm gương học tốt môn hóa học trong và ngoài trường, kích thích lòng tự trọng của HS
Đối với HS thì sự chán ghét bộ môn là rất có thể (đây có thể là nguyênnhân dẫn đến sự yếu kém của HS, làm cho HS sợ học, chán ghét bộ môn) Hóa
Trang 2học là môn học thực nghiệm và có ý nghĩa rất quan trọng của khoa học đời sốnghàng ngày Có nhiều cách để nâng cao chất lượng học tập môn hóa
Ví dụ:
- Cho HS thấy được vai trò, tầm quan trọng của môn hóa học trong
chương trình THCS và các cấp học trên; vai trò và tầm quan trọng của hóa học trong đời sống, trong thực tiễn phát triển khoa học kỹ thuật Qua việc cho HS sửdụng kiến thức bộ môn giải quyết các bài tập thực tiễn, giải thích các hiện tượng
tự nhiên xảy ra xung quanh trong đời sống và trong sản xuất
- Thay đổi phương pháp, hình thức dạy học: Linh hoạt, đa dạng trong mỗi giờ, mỗi phần, chú ý hoạt động đặc trưng bộ môn (thí nghiệm hóa học biểu diễn,thí nghiệm thực hành), sử dụng phương tiện kỹ thuật trong dạy học HS rất hào hứng khi được tham gia thí nghiệm trong giờ học hay trong phòng thí nghiệm, bài học sẽ có kết quả tốt khi sử dụng các phương tiện như máy vi tính, máy chiếu đa năng, các phần mềm hóa học
- Phong cách làm việc của GV qua từng bài giảng trong quá trình nghiên cứu bộ môn; sự gần gũi, sự nhìn nhận của GV trong sự cố gắng, nỗ lực của HS Tạo không khí vui vẻ, thoải mái trong mỗi giờ học (yêu cầu nghiêm túc nhưng vẫn nhẹ nhàng, không căng thẳng), đây chính là nghệ thuật sư phạm của GV nhờ
sự nắm vững kiến thức khoa học của bộ môn, hiểu và nắm vững quy luật nhận thức, tâm lý sư phạm , hiểu rõ, đồng cảm với đối tượng HS mà mình dạy
- Lựa chọn bài tập có ý nghĩa (đặc biệt các bài tập có liên quan đến thực tiễn, bài tập có nhiều cách giải hay, sáng tạo), bài tập có yêu cầu phù hợp với đốitượng HS, sao cho đối tượng yếu kém nếu thực sự cố gắng cũng hoàn thành được yêu cầu GV giao Bài tập được nâng dần theo chất lượng và mức độ yêu cầu
Do đó, cách tốt nhất là rèn luyện cho HS cách học hơn là nhồi nhét kiếnthức Trong những phương pháp dạy học tích cực hiện nay, dạy học nêu vấn đề
là một trong những phương pháp có thể phát huy tính chủ động, sáng tạo, tíchcực ở HS nhất Bằng cách sử dụng những tình huống có vấn đề, HS sẽ chủ động
Trang 3hình thành ở các em nhân cách của người lao động mới biết tự chủ và có nănglực giải quyết các vấn đề do cuộc sống đặt ra.
Trong thực tế đã có rất nhiều nghiên cứu về dạy học bằng THCVĐ, tuynhiên trong dạy học hóa học, các THCVĐ vẫn chưa được khai thác triệt để (cácthí nghiệm vẫn còn mang nặng tính chất biểu diễn minh họa, truyền đạt kiếnthức mới vẫn còn mang nặng tính chất thông báo, …)
Xuất phát từ những lý do, mục đích, ý nghĩa nói trên, tôi đã nghiên cứu
cẩn thận và mạnh dạn chọn thực hiện sáng kiến kinh nghiệm: “Nâng cao chất lượng học tập môn hóa học cho học sinh khối 9 trường THCS Cam Thịnh Tây bằng cách xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học”
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở lý luận:
Quá trình dạy học nói chung và quá trình dạy học hoá học nói riêng đó làđối tượng nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục – lí luận dạy học Giáo sưNguyễn Ngọc Quang đó xác định: Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lựcchiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên,chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích của hoạt động học HS sẽ thu nhậnkiến thức từ kho tàng văn hóa xã hội của nhân loại thành nền học vấn riêng chobản thân, Như vậy quá trình chiếm lĩnh khái niệm thành công sẽ đạt được 3mục đích dạy học: Trí dục, phát triển tư duy, giáo dục
Về cấu trúc hoạt động học có hai chức năng thống nhất với nhau là sự tiếpthu thông tin dạy của thầy và quá trình chiếm lĩnh khái niệm một cách tự giác,tích cực tự lực của HS
Để thực hiện mục đích chiếm lĩnh khoa học một cách tự giác tích cực thìngười học cần có phương pháp lĩnh hội khoa học, phương pháp chiếm lĩnh kháiniệm khoa học Chức năng lĩnh hội của hoạt động học có liên hệ chặt chẽ vàchịu ảnh hưởng trực tiếp của hoạt động dạy của người GV
Như vậy mục đích của của hoạt động dạy là điều khiển quá trình chiếm lĩnhkhái niệm khoa học của HS Để đạt được mục đích này hoạt động dạy có haichức năng liên hệ chặt chẽ, thâm nhập vào nhau, đó là truyền đạt thông tin học
Trang 4và điều khiển hoạt động học, chức năng điều khiển hoạt dộng học được thựchiện thông qua sự truyền đạt thông tin.
Hoạt động dạy và học là sự hoạt động cộng đồng – hợp tác giữa các chủ thểtrong quá trình dạy học Sự tương tác cộng đồng - hợp tác giữa dạy và học này
sẽ là yếu tố duy trì và phát triển chất lượng dạy học
Xuất phát từ khái niệm phương pháp nhận thức khoa học các nhà lý luậndạy học hóa học đã xem xét bản chất, cấu trúc, chức năng, hiệu quả của cácphương pháp đã có, xây dựng và hệ thống phân loại một cách khoa học và sángtạo những phương pháp mới bằng cách chuyển hóa từ những phương phápnhận thức của các khoa học khác
Phương pháp dạy học hoá học rất đa dạng và ngày càng được sáng tạo thêmtrong thực tiễn giảng dạy Trong giảng dạy hoá học chúng ta cũng cần bắt kịptrào lưu đổi mới phương pháp dạy học hoá học, chấm dứt tình trạng dạy và họctheo lối giáo điều không có thí nghiệm, không có đồ dùng trực quan
Trong giảng dạy hoá học ở trường phổ thông GV thường các phương phápdạy học cơ bản như: Thuyết trình, trực quan, đàm thoại ơrixtic, nghiên cứu,nêu vấn đề ơrixtic Ta hãy xem xét đặc điểm bản chất, cấu trúc của các phươngpháp nêu vấn đề - ơrictic (dạy học nêu và giải quyết vấn đề)
Nét đặc trưng cơ bản của phương pháp này là sự lĩnh hội tri thức thông quađặt và giải quyết các vấn đề Bản chất của dạy học nêu vấn đề là GV đặt ratrước HS các vấn đề khoa học mở ra cho các em những con đường giải quyếtvấn đề đó
Dạy học nêu vấn đề - ơrixtic là một tổ hợp phương pháp dạy học phức tạp,tức là một tập hợp nhiều phương pháp dạy học liên kết với nhau chặt chẽ, trong
đó phương pháp xây dựng bài toán ơrixtic giữ vai trò trung tâm chủ đạo, gắn bóphương pháp dạy học khác trong một hệ thống toàn vẹn Như vậy phương phápxây dựng bài toán ơrixtic (tạo tình huống có vấn đề) giữ trung tâm, chủ đạo Phương pháp nêu vấn đề - ơrixtic có nét cơ bản sau: GV đặt ra trước HSmột loạt những bài toán chứa đựng những mâu thuẫn giữa cái đã biết với cái cần
Trang 5phải tìm nhưng chúng được cấu trúc lại một cách sư phạm, gọi là bài toán nêuvấn đề ơrixtic.
Trong quá trình tìm hiểu bản chất các phương pháp dạy học hoá học, nộidung chương trình hoá học THCS, tâm sinh lí HS lớp 9 và quá trình nhận thứccủa HS chúng tôi nhận thấy rằng sử dụng tốt và có hiệu quả phương pháp dạyhọc nêu và giải quyết vấn đề (nêu vấn đề ơrixtic) trong giảng dạy hoá học THCSthì sẽ nâng cao hiệu quả của giờ dạy, đây cũng là phương pháp được ưu tiên khigiảng dạy hoá học THCS hiện nay
2 Thực trạng:
a) Thuận lợi
- Hóa học, đây là môn học vừa lý thuyết, vừa thực nghiệm Với đặc thùnhư vậy, hóa học đòi hỏi ở HS rất nhiều về năng lực tư duy, phân tích, phánđoán và khả năng tìm tòi sáng tạo để nắm vững kiến thức, từ đó rèn luyện kỹnăng và phát triển thành kỹ xảo Sử dụng phương pháp DHNVĐ trong dạy họchóa học có thể tăng cường phát huy được sự chủ động, sáng tạo, tích cực nhậnthức của HS ở mức độ cao, có thể giúp HS từng bước tự nghiên cứu, có nhiệm
vụ và nhu cầu giành lấy kiến thức mới về bộ môn hóa học
- Hầu hết GV đều đồng tình là DHNVĐ giúp tăng cường khả năng quansát, phân tích, sáng tạo của HS, phát huy tính tích cực học tập của HS, từngbước rèn luyện cho HS khả năng tự học, chuyển từ lối học thụ động sang chủđộng giành lấy kiến thức thông qua việc giải quyết vấn đề
- DHNVĐ giúp rèn luyện cho HS khả năng phát hiện và giải quyết vấn
đề Những tình huống có vấn đề hấp dẫn sẽ làm HS hứng thú, say mê môn họchơn, giúp giờ học thêm sinh động Nếu áp dụng phương pháp DHNVĐ đạt kếtquả tốt sẽ giúp nâng cao khả năng sáng tạo của GV
b) Khó khăn
Cảm nhận chung của HS về môn hóa học
Trang 6- Trong khi đó lại tốn nhiều thời gian chuẩn bị, suy nghĩ để thiết kế tìnhhuống, thiếu tài liệu tham khảo về DHNVĐ Ngoài ra do GV chưa có kinhnghiệm dẫn dắt HS vào vấn đề cuốn hút Bên cạnh đó, trình độ HS lại không
Trang 7đồng đều hoặc trình độ HS không cao dẫn đến khó thiết kế tình huống, khó quảnlí lớp khi sử dụng DHNVĐ.
HS nhân cách có khả năng sáng tạo thực sự, góp phần rèn luyện trí thông minh cho HS
Mỗi một PPDH đều phải xem xét khả năng sử dụng các THCVĐ ở giai đoạn tương ứng của việc lĩnh hội kiến thức
3.2 Bản chất của dạy học đặt và giải quyết vấn đề
Bản chất của dạy học đặt vấn đề và giải quyết vấn đề là HS được đặt vàoTHCVĐ chứ không phải được thông báo dưới dạng tri thức có sẵn HS tích cực,chủ động, tự giác tham gia hoạt động học, tự mình tìm ra tri thức cần học chứkhông phải được thầy giảng một cách thụ động, HS là chủ thể sáng tạo ra hoạtđộng học HS không những được học nội dung học tập mà còn được học conđường và cách thức tiến hành dẫn đến kết quả đó HS được học cách phát hiện
và giải quyết vấn đề
Bản chất của dạy học đặt và giải quyết vấn đề là GV đặt ra trước HS các vấn đề của khoa học (các bài toán nhận thức) và mở ra cho các em những con
đường giải quyết các vấn đề đó; việc điều khiển quá trình tiếp thu kiến thức của
HS ở đây được thực hiện theo phương pháp tạo ra một hệ thống những THCVĐ,
những điều kiện bảo đảm việc giải quyết những tình huống đó và những chỉ dẫn
cụ thể cho HS trong quá trình giải quyết các vấn đề.
Trang 8Dạy học đặt và giải quyết vấn đề là sự tổng hợp những hoạt động nhằm tổchức các THCVĐ, trình bày các vấn đề; giúp đỡ cần thiết cho HS trong việc giảiquyết vấn đề và kiểm tra những cách giải quyết đó; cuối cùng là lãnh đạo việc vận dụng kiến thức.
Dạy học đặt và giải quyết vấn đề có ba đặc trưng cơ bản sau:
- GV đặt ra trước HS một loạt những bài toán nhận thức có chứa đựng
mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái phải tìm, nhưng chúng được cấu trúc lại một cách sư phạm, gọi là những bài tập nêu vấn đề (những bài toán nêu vấn đề nhận thức và yêu cầu phải tìm tòi - phát hiện)
- HS tiếp nhận mâu thuẫn của bài toán như mâu thuẫn của nội tâm mình
và được đặt vào THCVĐ, tức là trạng thái có nhu cầu bên trong bức thiết muốn giải quyết bằng được bài toán đó
- Trong và bằng cách tổ chức giải bài toán mà HS lĩnh hội một cách tự
giác và tích cực cả kiến thức, cả cách thức giải và do đó có được niềm vui sướngcủa sự nhận thức sáng tạo
giữa cái (kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo) đã biết với cái phải tìm và mâu thuẫn này
đòi hỏi phải được giải quyết
- THCVĐ, đó là trở ngại về trí tuệ của con người, xuất hiện khi ta chưa biết cách giải thích hiện tượng sự kiện, quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt tớimục đích bằng cách thức hành động quen thuộc Tình huống này kích thích con người tìm tòi cách giải thích hay hành động mới THCVĐ là quy luật của hoạt
Trang 9động nhận thức sáng tạo, có hiệu quả Nó qui định sự khởi đầu của tư duy, hành động tư duy tích cực sẽ diễn ra trong quá trình nêu ra và giải quyết các vấn đề.
- THCVĐ là trạng thái tâm lí độc đáo của người gặp chướng ngại nhận thức, xuất hiện mâu thuẫn nội tâm, có nhu cầu giải quyết mâu thuẫn đó, không phải bằng tái hiện hay bắt bước mà bằng tìm tòi sáng tạo tích cực đầy hưng phấn, và khi tới đích thì lĩnh hội được kiến thức, phương pháp giành kiến thức
và cả niềm vui sướng của phát hiện
- Như vậy có thể coi THCVĐ trong dạy học là trạng thái tâm lí đặc biệt của HS khi họ gặp mâu thuẫn khách quan của bài toán nhận thức giữa cái đã biết
và cái phải tìm, tự họ chấp nhận và có nhu cầu, có khả năng giải quyết mâu thuẫn đó bằng tìm tòi, tích cực, sáng tạo, kết quả là họ nắm được cả kiến thức vàphương pháp giành kiến thức
b Các yếu tố của THCVĐ
THCVĐ chỉ xuất hiện và tồn tại trong ý thức người HS chừng nào đang diễn ra sự chuyển hóa của mâu thuẫn khách quan bên ngoài của bài toán nhận thức thành mâu thuẫn chủ quan bên trong của HS Yếu tố chủ yếu của THCVĐ
là điều chưa biết, là điều phải được khám phá ra để hoàn thành đúng nhiệm vụ đặt ra Điều chưa biết trong THCVĐ luôn được đặc trưng bởi một sự khái quát hóa ở mức độ nhất định Tuy nhiên, điều chưa biết đó không được quá khó hoặc quá dễ đối với HS
Như vậy có thể nêu ra ba yếu tố sau đây của một THCVĐ, đó cũng là ba điều kiện của một THCVĐ trong dạy học:
+ Có mâu thuẫn nhận thức, có điều chưa biết cần tìm Có mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và cái phải tìm Điều chưa biết có thể là mối liên hệ giữa cái đã biết và cái phải tìm Điều chưa biết có thể là mối liên hệ chưa biết, hoặc cách thức hay điều kiện hành động Đó chính là kiến thức mới sẽ được khám phá ra trong THCVĐ
+ Gây ra nhu cầu muốn biết kiến thức mới Thế năng tâm lí của nhu cầu nhận thức là động lực khởi động hoạt động nhận thức của HS; nó sẽ góp phần
Trang 10làm cho HS đầy hưng phấn tìm tòi phát hiện, sáng tạo giải quyết nhiệm vụ nhận thức đặt ra.
+ Phù hợp với khả năng của HS trong việc phân tích các điều kiện của nhiệm vụ đặt ra và trong việc đi tìm điều chưa biết, nghĩa là trong việc phát hiệnkiến thức mới THCVĐ nên bắt đầu từ cái quen thuộc, bình thường, đã biết (từ vốn kiến thức cũ của HS, từ những hiện tượng thực tế…) mà đi đến cái bất thường (kiến thức mới) một cách bất ngờ nhưng logic
c Cách xây dựng THCVĐ trong dạy học hóa học
Sự nghiên cứu lí luận và thực tiễn cho thấy có nhiều loại THCVĐ và nhiều cách tạo ra (làm xuất hiện) các THCVĐ trong dạy học
Cần nêu ra nguyên tắc chung làm xuất hiện THCVĐ trong dạy học, sau
đó sẽ phân loại các cách tạo THCVĐ trong dạy học
Nguyên tắc chung: Dựa vào sự không phù hợp giữa kiến thức đã có của HS với
yêu cầu đặt ra cho họ khi giải quyết nhiệm vụ mới
Theo nguyên tắc chung này, có thể nêu ra ba cách tạo ra các THCVĐ, đó cũng là ba kiểu THCVĐ cơ bản trong dạy học hóa học
- Cách thứ nhất:
Có thể tạo ra THCVĐ khi kiến thức HS đã có không phù hợp (không đáp ứng được) với đòi hỏi của nhiệm vụ học tập hoặc với thực nghiệm
Ở đây sẽ xuất hiện tình huống không phù hợp (cũng là tình huống nghịch
lý, bế tắc) hoặc tình huống bất ngờ (cũng là tình huống ngạc nhiên)
Có thể tạo THCVĐ theo cách này thành ba bước như sau:
Bước 1: Tái hiện kiến thức cũ có liên quan bằng cách cho HS nêu lại một
kết luận, một quy tắc… đã học
Bước 2: Đưa ra hiện tượng (có thể làm thí nghiệm, hoặc nêu ra một hiện tượng, một kinh nghiệm) mâu thuẫn hoặc trái hẳn với kết luận vừa được nhắc
lại, điều đó sẽ gây ra sự ngạc nhiên
Bước 3: Phát biểu vấn đề, đi tìm nguyên nhân của mâu thuẫn hoặc giải thích hiện tượng lạ đó
Trang 11Ví dụ 1: Tạo ra THCVĐ khi nghiên cứu tính chất hóa học của axit H2 SO 4
đặc nóng với kim loại đồng (Cu).
Bước 1: Tái hiện kiến thức cũ có liên quan: Axit tác dụng với kim loại tạothành muối và khí H2
Bước 2: Làm xuất hiện mâu thuẫn: làm thí nghiệm biểu diễn về tác dụng của axit sunfuric đặc nóng với Cu Thấy có phản ứng hóa học xảy ra Khí tạo ra không phải là H2 mà là SO2
Bước 3: Phát biểu vấn đề: H2SO4 đặc nóng có tác dụng cả với kim loại Cunhưng khí tạo ra không phải là H2 mà là SO2 Nguyên nhân sự không phù hợp với điều đã biết về tác dụng của axit với kim loại là ở đâu? Axit sunfuric đặc nóng còn có những tính chất của axit không hay có thêm những tính chất gì mới?
Giải quyết vấn đề: GV hướng dẫn HS xét điều kiện của phản ứng và sản phẩm của phản ứng H2SO4 tác dụng với Cu như thế nào?
Điều kiện phản ứng: Axit H2SO4: đặc, nóng Cu là kim loại yếu
Sản phẩm: khí không màu, mùi khó chịu, làm đổi màu giấy quỳ tím ẩm thành đỏ, là khí SO2 Dung dịch màu xanh là màu của dung dịch CuSO4
Kết luận: Đó là do tính chất đặc biệt của H2SO4 đặc nóng Điều này khôngmâu thuẫn với tính chất của axit nói chung và tính chất của dung dịch H2SO4
Bước 3: Phát biểu vấn đề: Phản ứng của clo với dung dịch NaOH có mâu thuẫn với tính chất của phi kim đã học không? hay thí nghiệm sai?
Trang 12HS giải quyết vấn đề: Clo có thể phản ứng với nước trong dung dịch tạo thành 2 axit là HCl và HClO Sau đó 2 axit này tiếp tục tác dụng với NaOH tạo thành NaCl, NaClO và nước Điều này là phù hợp với tính chất của clo và
Khi đó xuất hiện tình huống lựa chọn hoặc tình huống bác bỏ (phản bác)
Ví dụ 1: Quá trình tạo ra tình huống lựa chọn hoặc tình huống bác bỏ công thức cấu tạo của rượu etylic cũng gồm ba bước sau:
Bước 1: Tái hiện kiến thức cũ, nêu nhiệm vụ mới cần giải quyết: rượu etylic có công thức phân tử C2H6O phải có công thức cấu tạo như thế nào?
Bước 2: Làm xuất hiện mâu thuẫn, nêu các giả thuyết: ứng với công thức phân tử C2H6O có thể có 2 công thức cấu tạo:
H
H
H H
(1) (2)
Bước 3: Phát biểu vấn đề: Giả thuyết nào là đúng, các giả thuyết khác vì sao không đúng? Làm thí nghiệm và lập luận xem công thức (1) hoặc (2) phù hợp với tính chất của rượu etylic
Ví dụ 2: Quá trình tạo ra tình huống lựa chọn, củng cố tính chất hóa học của oxit
(Bài tập 1/21/SGK) Có những oxit sau: SO2, CuO, Na2O, CO2 Hãy cho biết những oxit nào tác dụng được với
a) nước?
b) axit clohiđric?
c) natri hiđroxit?