“Thực hiện pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước trong công tác quản lý cán bộ, công chức thuộc quyền và một số kiến nghị”12 của tác giả Hoàng
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐẶNG VĂN HÙNG
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Việc xâydựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức để đáp ứng các yêucầu trong bối cảnh mới là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng và có tính chấtquyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Để thực hiệnđược điều đó, một trong những giải pháp trọng tâm là đẩy mạnh việc tổ chứcthực hiện các quy định pháp luật cán bộ, công chức
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn chú trọng, quan tâm đến côngtác tổ chức cán bộ Người coi cán bộ là “những người đem chính sách củaĐảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Vì vậy, cán
bộ là cái gốc của mọi công việc”1 do đó “muôn việc thành công hoặc thất bạiđều do cán bộ tốt hoặc kém”.2
Thực tiễn chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay chưa đảm bảoyêu cầu quản lý, dẫn đến chất lượng thực thi công vụ chưa hiệu quả Hệ thốngpháp luật cán bộ, công chức còn một số bất cập, thiếu tính đồng bộ, chưa hoànthiện Việc thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của nước ta vẫn còn tồn tạimột số hạn chế Tình trạng “không ít cán bộ, công chức vừa kém về đạo đức,phẩm chất, vừa yếu về năng lực, trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ”,3rơi vào căn bệnh mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra là “tự tư tự lợi” đã làmgiảm niềm tin của nhân dân Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
đã xác định rõ: “thực hiện nghiêm Luật Cán bộ, công chức và các
1 Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.269.
2 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.240.
3 Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.78.
Trang 3văn bản pháp luật có liên quan đến công tác cán bộ”4 nhằm nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ, công chức Tiếp theo, Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XII đã đặt ra việc “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngănchặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ” Vì vậy, chúng ta phải xây dựngđội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, phẩm chất, uy tín, và ngang tầmnhiệm vụ
Với những lý do vừa mang tính thời sự học viên đã lựa chọn đề tài: “Tổ
chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của chính quyền địa phương cấp tỉnh – từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn” để nghiên cứu và làm luận văn Thạc
sĩ chuyên ngành Quản lý công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức cho các đối tượng khácnhau là một lĩnh vực quan trọng nên từ lâu đã thu hút sự quan tâm của các nhànghiên cứu Các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả: NguyễnQuốc Sửu, Nguyễn Thị Hồng Hải, Hoàng Mai, Trần Nghị là những tài liệuquan trọng liên quan đến đề tài nghiên cứu của học viên
“Nâng cao trách nhiệm cán bộ, công chức trong thực thi công vụ bằng kỷ luật công vụ”5 của tác giả Nguyễn Quốc Sửu đã nêu mối quan hệ giữa tráchnhiệm công vụ với kết quả hoạt động công vụ Bài báo đã phân tích trách nhiệmcông vụ, kỷ luật công vụ để làm cơ sở cho việc đánh giá mức độ hoàn thành công
vụ của cán bộ, công chức Đây là một tài liệu tham khảo quý báu cho học viênliên quan đến việc tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
“Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công: Lý luận và kinh nghiệm
4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tr.54-55.
5 Nguyễn Quốc Sửu (2019), Nâng cao trách nhiệm cán bộ, công chức trong thực thi công
vụ bằng kỷ luật công vụ, Tạp chí Quản lý Nhà nước (bản điện tử ngày 29 tháng 10 năm
2019).
Trang 4một số nước”6 của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hải (chủ biên) và các cộng sự đãnghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản lý nguồn nhân lực trong khu vựccông Giới thiệu thực tiễn quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công ở một
số quốc gia như: Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ailen, Cộng hoà Pháp,Hợp chủng quốc Hoa Kỳ qua các mô hình chức nghiệp, mô hình vị trí việclàm, mô hình kết hợp của các quốc gia trên thế giới Đây cũng là tài liệu thamkhảo để học viên tham khảo phục vụ quá trình nghiên cứu, phân tích nội dungthực hiện pháp luật cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay
“Phân cấp quản lý nhân sự hành chính Nhà nước ở Việt Nam hiện nay”7
của tác giả Hoàng Mai (chủ biên) đã giải quyết những vấn đề về mặt lý luậncũng như thực tiễn phân cấp quản lý nhân sự hành chính nhà nước Trong đó,cuốn sách đề xuất giải pháp cụ thể thông qua mô hình phân cấp quản lý, xácđịnh rõ các vai trò của các chủ thể như Đảng Cộng sản Việt Nam, cơ quanquản lý nhà nước đối với nhân sự hành chính nhà nước và cơ quan trực tiếp sửdụng nhân sự trong cơ quan hành chính nhà nước Cuốn sách là tài liệu thamkhảo để học viên nghiên cứu, phân tích những nội dung liên quan đến quản lýcông chức thuộc Uỷ ban nhân dân cấp Tỉnh dưới góc độ quản lý hành chínhnhà nước
“Trách nhiệm của công chức trong thực thi công vụ đáp ứng yêu cầu cải
cách nền hành chính nhà nước”8 của tác giả Trần Nghị là cuốn sách viết sâu
về những nội dung cơ bản của trách nhiệm công chức trong thực thi công vụ;thực trạng trách nhiệm trong thực thi công vụ của công chức Đồng thời đềxuất các giải pháp nâng cao trách nhiệm của công chức trong thực thi công vụ
6 Nguyễn Thị Hồng Hải và các tác giả (2015), Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công: Lý luận và kinh nghiệm một số nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
7 Hoàng Mai (2016), Phân cấp quản lý nhân sự hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội.
8 Trần Nghị (chủ biên, 2017), Trách nhiệm của công chức trong thực thi công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội.
Trang 5của công chức ở Việt Nam Tuy không nghiên cứu về thực hiện pháp luật cán
bộ, công chức nhưng cuốn sách đã gợi mở cho học viên rất nhiều nội dungliên quan đến xác định các yếu tố ảnh hưởng cũng như đề xuất giải pháp bảođảm thực hiện pháp luật cán bộ, công chức hiệu lực, hiệu quả
“Đổi mới, nâng cao chất lượng quản lý cán bộ, công chức nhà nước
trong thời kỳ mới”9 của tác giả Trần Đình Thắng và Nguyễn Phương Thuý đãnêu một số nội dung đổi mới, nâng cao chất lượng quản lý công chức nhànước, phân tích về việc phải nhận thức đúng về vị trí, tầm quan trọng củacông chức trong hoạt động công vụ và công tác quản lý cán bộ, công chức củaĐảng, Nhà nước Tác giả đã đưa ra một số nội dung đổi mới công tác quản lýcông chức như: đổi mới việc quản lý đánh giá, tuyển dụng công chức theohướng khách quan, khoa học, dân chủ, trọng dụng nhân tài Đổi mới việc quản
lý công tác quy hoạch, sử dụng công chức theo hướng chuẩn hoá, phát triểntài năng, giải phóng sức lao động Đổi mới việc quản lý đào tạo, bồi dưỡngcán bộ, công chức theo hướng hiện đại, chuẩn hoá, toàn diện nhưng có trọngtâm, trọng điểm, chuyên sâu, thiết thực, hiệu quả Kết hợp với giáo dục phẩmchất, đạo đức và thực hiện tốt chính sách đãi ngộ Mặc dù bài viết không đềcập đến vấn đề cần thực hiện pháp luật cán bộ, công chức, bài báo có giá trịtham khảo cho học viên trong quá trình nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảođảm thực hiện pháp luật cán bộ, công chức hiệu quả, đặc biệt là nội dung vềviệc phải nhận thức đúng về vị trí, tầm quan trọng của công chức trong hoạtđộng công vụ và công tác quản lý công chức
9 Trần Đình Thắng, Nguyễn Phương Thuý (2012), “Đổi mới, nâng cao chất lượng quản lý cán bộ, công chức nhà nước trong thời kỳ mới”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, Bộ Nội vụ (11).
Trang 6“Một số mô hình quản lý thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức,
viên chức”10 của tác giả Ngô Thành Can đã trình bày quá trình quản lý thựchiện nhiệm vụ; quản lý theo mục tiêu; quản lý theo quá trình và quản lý theokết quả của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở Việt Nam hiện nay
“Định biên đối với công chức lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan hành
chính nhà nước”11 của tác giả Nguyễn Thanh Tùng đã trình bày về vấn đềđịnh biên đối với công chức lãnh đạo quản lý hiện nay; xây dựng vị trí việclàm của công chức lãnh đạo quản lý trong các cơ quan hành chính nhà nước;các bước tiến hành xây dựng vị trí việc làm Đây là một trong những vấn đềquan trọng của việc thực hiện quản lý công chức nói chung và quản lý côngchức lãnh đạo, quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước nói riêng Tuynhiên, bài viết chưa đi sâu khảo cứu vấn đề định biên đối với công chức lãnhđạo, quản lý cấp Tỉnh ở Việt Nam
“Thực hiện pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ
chức, đơn vị của nhà nước trong công tác quản lý cán bộ, công chức thuộc quyền và một số kiến nghị”12 của tác giả Hoàng Minh Hội đã tập trung phântích thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức và kiến nghịmột số giải pháp tiếp tục bảo đảm thực hiện pháp luật về trách nhiệm củangười đứng đầu cơ quan nhà nước trong công tác cán bộ, quản lý cán bộ, côngchức ở Việt Nam hiện nay
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện
pháp luật và bài học vận dụng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp
10 Ngô Thành Can (2016), “Một số mô hình quản lý thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, (5), tr.57-61.
11 Nguyễn Thanh Tùng (2016), “Định biên đối với công chức lãnh đạo, quản lý trong các
cơ quan hành chính nhà nước”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, (248), tr.40-45.
12 Hoàng Minh Hội (2016), “Thực hiện pháp luật về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ, công chức thuộc quyền và một số kiến nghị”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, (3) tr.36-
43.
Trang 7quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”13 của tác giả Trương Thị Hồng
Hà đã phân tích và làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về sự cần thiết phảikiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật; phương pháp; chủ thể; tráchnhiệm; thái độ, uy tín của người kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật Đồngthời tác giả chỉ ra những bài học cần chú ý khi vận dụng tư tưởng Hồ ChíMinh về kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật trong điều kiện xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay gồm:
Một là, hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện pháp luật
là hoạt động mang tính khách quan, tất yếu, là một phần quan trọng trong việcthực hiện quyền lãnh đạo của Đảng và hoạt động quản lý của Nhà nước,quyền làm chủ của nhân dân
Hai là, hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện pháp luật
có ý nghĩa ngăn ngừa, hạn chế những tồn tại, khuyết điểm của công chứctrong bộ máy nhà nước
Ba là, hoạt động giám sát, kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện pháp luậtchỉ có tác dụng khi sử dụng phương pháp phù hợp với chủ thể giám sát vàtừng đối tượng bị giám sát Tuy nhiên, bài báo mới chỉ đề cập đến tư tưởng
Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và bàihọc vận dụng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa ở Việt Nam hiện nay một cách rất chung chưa đề cập đến công tác kiểmtra, giám sát việc tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức nói chung vàtại Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nói riêng
“Vai trò của công tác thực hiện pháp luật về quản lý công chức” 14 củatác giả Đặng Thị Mai Hương Tác giả đã tập trung phân tích những vấn đề
13 Trương Thị Hồng Hà (2006), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và bài học vận dụng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (8).
14 Đặng Thị Mai Hương (2014), “Vai trò của công tác thực hiện pháp luật về quản lý công chức”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước điện tử 8/4/2014.
Trang 8mang tính lý luận về vai trò của việc thực hiện pháp luật về quản lý công chứcnói chung, chứ chưa đề cập sâu đến các nội dung, nguyên tắc của việc tổ chứcthực hiện pháp luật cán bộ, công chức, đặc biệt là công chức ở cấp Tỉnh.
Những công trình nghiên cứu nêu trên đã có những đóng góp về mặt lýluận và thực tiễn đối với đề tài luận văn thạc sĩ của học viên Tuy nhiên, chưa
có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, côngchức cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Chính vì vậy, học viên chọn nghiêncứu đề tài: “Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của chính
quyền địa phương cấp tỉnh – từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn” Đây là một đề tàimới, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích:
Trên cơ sở phân tích làm rõ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn thựchiện pháp luật cán bộ, công chức, tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, côngchức, mục đích của luận văn là đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện phápluật cán bộ, công chức thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh để đề xuất những quanđiểm cơ bản, phương hướng và hệ thống giải pháp nhằm bảo đảm tổ chứcthực hiện pháp luật cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
3.2 Nhiệm vụ:
Từ mục đích nghiên cứu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tàiluận văn, đánh giá chung những vấn đề đã được nghiên cứu và mức độ nghiên cứucủa các công trình, qua đó xác định rõ những vấn đề có thể kế thừa, những vấn đềcần tiếp tục được nghiên cứu của luận văn
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận thực hiện pháp luật cán bộ, công chức; tổchức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
Trang 9- Phân tích các yếu tố tác động đến việc tổ chức thực hiện pháp luật cán
bộ, công chức
- Khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, côngchức trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn từ đó rút ra nguyên nhân của những ưu điểm, hạnchế và bài học kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chứcthuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
- Phân tích, luận chứng các quan điểm, phương hướng và đề xuất hệthống các giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của chính quyền địa phương tỉnh Lạng sơn
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
- Phạm vi nội dung: trên cơ sở lý luận chung về tổ chức thực hiện phápluật, luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện phápluật cán bộ, công chức, đánh giá thực trạng pháp luật và tổ chức thực hiện phápluật cán bộ, công chức và đề xuất, kiến nghị các giải pháp đảm bảo tổ chức thựchiện pháp luật, cán bộ, công chức của chính quyền địa phương
cấp tỉnh – từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: luận văn nghiên cứu về những vấn
đề lý luận, thực tiễn về tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức ở tỉnhLạng sơn
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: việc đánh giá thực trạng pháp luật, tổchức thực hiện pháp luật và các số liệu được sử dụng để nghiên cứu trongluận văn chủ yếu từ 2017 đến 2020
Trang 105 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện theo phương pháp luận duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểmđường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, luật chínhquyền địa phương, luật cán bộ, công chức Cơ sở lý luận của luận văn còn cónhững vấn đề lý luận chung về pháp luật, hệ thống pháp luật, lý luận về tổchức thực hiện pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:
Đây là phương pháp được sử dụng cơ bản trong các nghiên Do đó, cáctài liệu, số liệu của luận văn được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau và được
sử lý trong phòng, số liệu thứ cấp Với phương pháp này, các tài liệu về việctriển khai tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của chính quyền địaphương cấp tỉnh – từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn sẽ được phân tích chọn lọc, xử
lý nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Phương pháp này cho các nhà nghiên cứu kế thừa các nghiên cứu trước
đó, sử dụng các thông tin qua kiểm chứng, cập nhật những vấn đề liên quantrong và ngoài nước Các thông tin, tài liệu, số liệu được thu thập từ: các đơn
vị có liên quan ở tỉnh Lạng Sơn, các đề tài, công trình khoa học được lưutrong hệ thống thư viện, sách báo, tạp chí, internet
- Phương pháp khảo sát điều tra thực địa:
Bên cạnh việc sử dụng các số liệu thứ cấp, học viên cũng sử dụngphương pháp khảo sát, điều tra thực địa để có được những số liệu sơ cấp,những thông tin thu thập trong phòng Việc điều tra thực địa giúp các nhànghiên cứu tránh được quyết định chủ quan, vội vàng, phiến diện, thiếu cơ sởthực tế
Trang 116 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn góp phần vào việc làm rõ những vấn đề lý luận về tổ chức thựchiện pháp luật cán bộ, công chức của chính quyền địa phương hiên nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Nghiên cứu chỉ ra những vấn đề được quan tâm giải quyết đối với vấn
đề tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của chính quyền địa phươngcấp tỉnh
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan cóliên quan đến việc tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức Đồng thời
đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy, họctập, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tổ chức thực hiện pháp luậtcán bộ, công chức trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng tại trường chínhtrị tỉnh Lạng Sơn
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công
chức của chính quyền địa phương cấp tỉnh – từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn
Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
của chính quyền địa phương cấp tỉnh – từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường, nâng cao chất lượng,
hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của tỉnh Lạng Sơntrong giai đoạn hiện nay
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1.1 Khái niệm, đặc điểm, chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật cán
bộ, công chức
1.1.1 Khái niệm công chức và tổ chức thực hiện pháp luật về cán bộ, công chức
1.1.1.1 Khái niệm công chức
Ngày 13/11/2008, Quốc hội khoá XII đã ban hành Luật Cán bộ, côngchức, Luật này được sửa đổi, bổ sung năm 2019 Theo Khoản 1 Điều 1 Luật
sửa đổi Luật Cán bộ, công chức năm 2019 quy định: “Công chức là công dân
Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước trong: Cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị -
xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công an nhân dân”.
Công chức được phân loại theo trình độ đào tạo và theo vị trí công tác.Theo trình độ đào tạo gồm có công chức loại A, B, C, D Công chức đượcphân loại theo vị trí công tác gồm có: Công chức lãnh đạo (chỉ huy và điềuhành) và công chức chuyên môn nghiệp vụ
Công chức có ba đặc điểm cơ bản: được tuyển dụng, bổ nhiệm, giữ mộtcông vụ thường xuyên (ổn định và liên tục) trong một công sở nhà nước; đượcxếp vào một ngạch, thể hiện tính ổn định của công chức; hưởng lương từ ngânsách nhà nước
Trang 13Như vậy, công chức là những người được Nhà nước tuyển dụng, bổnhiệm giữ một công vụ thường xuyên, làm việc liên tục trong cơ quan nhànước (hoặc cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân hay công an nhân dân),được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào mộtngạch hành chính, đơn vị sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngânsách nhà nước.
1.1.1.2 Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
Khái niệm thực hiện pháp luật:
Thực hiện pháp luật là yêu cầu khách quan của xã hội, Nhà nước, cánhân, tổ chức Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng: “Thựchiện pháp luật là quá trình tiếp tục ý chí của Nhà nước thể hiện trong phápluật, thực hiện pháp luật là một mắt xích quan trọng của pháp chế xã hội chủnghĩa”.15 Bởi vì nội dung cốt lõi của pháp chế là sự tuân thủ pháp luật mộtcách triệt để Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thực hiệnpháp luật
Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Thực hiện pháp luật là hành vi hành độnghoặc không hành động của con người phù hợp với những quy định của phápluật”.16 Theo quan điểm này thì tất cả những hoạt động của con người, của tổchức thực hiện mà phù hợp với quy định của pháp luật được coi là thực hiệnpháp luật Thực hiện pháp luật được thể hiện qua hành vi của con người phùhợp với quy định của pháp luật
Quan điểm thứ hai cho rằng: “Thực hiện pháp luật là hoạt động có mụcđích nhằm thực hiện các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc
15 Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh – Viện Xây dựng đảng (2006), Giáo trình xây dựng đảng (hệ cử nhân chính trị), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, tr.230.
16 Đại học Quốc gia Hà Nội – Khoa Luật (2006), Giáo trình Lý luận chung Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội, tr.369.
Trang 14sống, trở thành hành vi thực tế hợp pháp của chủ thể pháp luật”.17 Quan điểmnày cho thấy thực hiện pháp luật có thể là hành vi của mỗi cá nhân, cũng cóthể là hoạt động của các tổ chức, cơ quan nhà nước nhằm thực hiện các quyđịnh của pháp luật Thực hiện pháp luật còn thông qua công tác tuyên truyền,phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm đưa các quy định của pháp luật “trở thànhhành vi thực tế hợp pháp của chủ thể pháp luật” Tuy nhiên, tác giả NguyễnMinh Đoan cho rằng:
Thực hiện pháp luật là để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhànước Tất cả các nhà nước đều có thể tổ chức, quản lý được xã hội đều bắtbuộc phải tiến hành xây dựng pháp luật và ban hành quy phạm pháp luật, nhànước mong muốn sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phục vụlợi ích và mục đích của nhà nước và xã hội.18
Như vậy để thực hiện vai trò quản lý xã hội của mình, Nhà nước cầnthực hiện đồng thời các hoạt động xây dựng pháp luật, hoàn thiện pháp luật vàthực hiện pháp luật Thực hiện pháp luật là một trong những hình thức để thựchiện chức năng của Nhà nước Tóm lại, trong tất cả các quan điểm, cách tiếpcận về thực hiện pháp luật nêu trên đều có những cách hiểu, cách luận giảikhác nhau về thực hiện pháp luật Trên cơ sở các quan điểm đã nêu ở trên,chúng ta có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất:
Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, nhằm thực hiện theo mục tiêu quản lý của Nhà nước.
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhândân, do nhân dân và vì nhân dân, cán bộ, công chức Nhà nước là “công bộc”
17 Phạm Hồng Thái (2008), Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội, tr.463.
18 Nguyễn Minh Đoan (2010), Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 18.
Trang 15của nhân dân Pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm đảm bảo quyền làm chủcủa nhân dân và có vai trò điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức trongứng xử, hoạt động công vụ và phục vụ nhân dân Tuy nhiên mục đích đạtđược hay không, pháp luật có triển khai trong thực tế cuộc sống hay không là
do hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức quyết định Trên cơ
sở luận giải, phân tích khái niệm thực hiện pháp luật, khái niệm thực hiệnpháp luật cán bộ, công chức được hiểu như sau:
Thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là hoạt động, quá trình có mục đích làm cho những quy định của pháp luật cán bộ, công chức đi vào cuộc sống thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng hoạt động công vụ của đội ngũ cán
bộ, công chức đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước.
Tổ chức thực hiện pháp luật về cán bộ, công chức là quá trình hoạt động
có mục đích làm cho những quy định pháp luật liên quan tới trách nhiệm công
vụ của công chức đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp củacông chức và các cá nhân, tổ chức có liên quan Việc tổ chức thực hiện phápluật cán bộ, công chức có vai trò quan trọng vì công chức làm việc ở Uỷ bannhân dân là cơ quan hành chính có vị trí đặc biệt trong các cấp chính quyền.Hiệu quả và sức mạnh của Nhà nước do chính quyền trung ương quyết định
và cách thức tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở Trong đó, cấp cơ
sở là cấp gần dân nhất, là cấp chủ yếu thực thi pháp luật Đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước muốn đi vào cuộc sốngphải thông qua hoạt động của chính quyền địa phương, cụ thể là hoạt độngcủa đội ngũ cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức là những người trực tiếp đem chính sách của Đảng,pháp luật của Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành; đồng thờinắm bắt tình hình triển khai thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước phản ánh cho Đảng và Nhà nước để có sự điều
Trang 16chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn Bên cạnh đó, thực hiệnpháp luật cán bộ, công chức được biểu hiện trên hai phương diện chủ yếu:không thực hiện hành vi trái pháp luật cán bộ, công chức và thực hiện hành vihợp pháp, tuân thủ pháp luật cán bộ, công chức Pháp luật cán bộ, công chứctrở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể sử dụng pháp luậtđòi hỏi trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức phải cónội dung, hình thức, phương pháp phù hợp Từ những phân tích ở trên, chúng
ta có thể hiểu:
Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là hoạt động sắp xếp, định hướng một cách có tổ chức, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch và thường xuyên, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện làm cho pháp luật cán bộ, công chức được triển khai trong thực tiễn.
1.1.2 Đặc điểm tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
Ngoài những đặc điểm chung của thực hiện pháp luật, thực hiện phápluật cán bộ, công chức có những đặc thù riêng Những đặc thù của thực hiệnpháp luật cán bộ, công chức được quy định bởi vị trí, vai trò của nó trong quátrình thực hiện chức năng quản lý xã hội của Nhà nước
Một là, chủ thể thực hiện pháp luật cán bộ, công chức thuộc Uỷ ban nhân dân cấp Tỉnh.
Chủ thể thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là những cá nhân, tổ chứcđược giao thẩm quyền quản lý công chức trên cơ sở quy định pháp luật, phâncông, phân cấp của Đảng Chủ thể thực hiện pháp luật cán bộ, công chứctrước tiên chính là đội ngũ công chức làm công tác tổ chức cán bộ, Sở Nội vụ
và các cơ quan, tổ chức được giao thẩm quyền quản lý công chức
Hai là, phạm vi và tính chất của thực hiện pháp luật cán bộ, công chức thuộc Uỷ ban nhân dân cấp Tỉnh.
Trang 17Thực hiện pháp luật cán bộ, công chức được diễn ra giữa các chủ thể là
cơ quan, tổ chức được giao thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức; giữa các
cơ quan quản lý nhà nước với nhau hoặc với các cơ quan nhà nước khác.Thực hiện pháp luật cán bộ, công chức thuộc Uỷ ban nhân dân cấp Tỉnh làhoạt động được diễn ra giữa các cá nhân được giao thẩm quyền quản lý côngchức (lãnh đạo Uỷ ban nhân dân Tỉnh, lãnh đạo các Sở thuộc Uỷ ban nhândân, công chức thuộc phòng tổ chức cán bộ thuộc các Sở) và đội ngũ côngchức thuộc Uỷ ban nhân dân Tỉnh theo những quy định về quản lý công chứcđược Nhà nước bảo đảm thực hiện Vì vậy, thực hiện pháp luật cán bộ, côngchức mang tính quyền lực Nhà nước, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằngcác biện pháp cưỡng chế, giáo dục thuyết phục, đồng thời được các cơ quan
có thẩm quyền quản lý công chức áp dụng pháp luật cán bộ, công chức theo ýchí đơn phương, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng Chế độtrách nhiệm pháp lý của các chủ thể thực hiện pháp luật cán bộ, công chứcmang tính chất quản lý hành chính nhà nước, có sự phân công, phân cấp rõràng và có sự ràng buộc về trách nhiệm cụ thể Tính chất, mức độ của các chếtài xử phạt vi phạm rất rõ ràng, mang tính định lượng Ví dụ Điều 79 LuậtCán bộ, công chức năm 2008 quy định:
“Công chức vi phạm quy định của Luật này và các quy định khác củapháp luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu mộttrong những hình thức kỷ luật sau đây:
a) Khiển trách;
e) Buộc thôi việc”.19
19 Điều 79 Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
Trang 18Ba là, tính nghiêm minh của pháp chế khi tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức thuộc Uỷ ban nhân dân cấp Tỉnh.
Xuất phát từ vai trò, vị trí, chức năng của đội ngũ công chức trong quátrình vận hành bộ máy hành chính nhà nước, tầm ảnh hưởng của hoạt độngthực hiện pháp luật cán bộ, công chức là vô cùng quan trọng Vì thực hiện tốtpháp luật cán bộ, công chức sẽ đảm bảo được mục tiêu nâng cao chất lượngđội ngũ cán bộ, công chức và hoạt động công vụ Theo đó, uy tín của Nhànước, sức mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị của Nhà nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam cũng được nâng lên, đáp ứng được yêu cầu xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Chất lượng thực hiện phápluật cán bộ, công chức thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có ảnh hưởng lớn đến
sự phát triển bền vững của địa phương, của hệ thống chính trị, của bộ máyNhà nước và là thước đo tính nghiêm minh của pháp chế đối với quốc gia đó
Vì vậy trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức phảiđảm bảo được việc chấp hành nghiêm các quy định pháp luật
Từ khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức nêu trên, cóthể nhận thấy một số đặc điểm cơ bản của tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ,công chức như sau:
Thứ nhất, tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là hoạt động sắp
xếp, có định hướng nhằm đưa pháp luật cán bộ, công chức thực hiện trên thực
tế Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là hoạt động nhằm đưapháp luật cán bộ, công chức vào cơ quan nhà nước, trở thành ý thức và thóiquen xử sự trong cơ quan nhà nước Hoạt động này được thực hiện một cách
có chủ định, có tổ chức, có định hướng và có kế hoạch cụ thể Thông qua hoạtđộng thực hiện pháp luật, mục đích của chủ thể tác động nhằm hình thành ởcác đối tượng được tác động những tri thức, thói quen xử sự phù hợp với quyđịnh của pháp luật cán bộ, công chức để mọi đối tượng tự giác tuân thủ phápluật, có ý thức pháp luật cao
Trang 19Thứ hai, tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là hoạt động
được thực hiện bởi các chủ thể nhất định ví dụ như các cơ quan nhà nước, tổchức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
Thứ ba, tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là một chuỗi các
hoạt động từ phổ biến, giáo dục pháp luật cán bộ, công chức, ban hành vănbản pháp luật nhằm triển khai pháp luật cán bộ, công chức Đồng thời, bảođảm các điều kiện cơ sở vật chất để thực thi pháp luật cán bộ, công chức vàkiểm tra, đánh gia, tổng kết công tác thi hành pháp luật cán bộ, công chứctrong thực tế
Có thể nói, tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là sự tác độngmột cách thường xuyên, lâu dài chứ không phải chỉ là sự tác động nhất thời,một lần của chủ thể tới đối tượng được tổ chức thực hiện pháp luật Đó là mộtquá trình đưa pháp luật cán bộ, công chức vào cơ quan nhà nước gắn liền vớihoạt động quản lý nhà nước
1.1.3 Chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là hoạt động có sự thamgia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tác động tới các đối tượng là cán bộ,công chức nhà nước nhằm đạt được mục đích của cơ quan nhà nước Do vậy,
có thể nói, tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là hoạt động có địnhhướng, có chủ định của các cơ quan nhà nước
Bộ Nội vụ là cơ quan có thẩm quyền giúp Chính phủ thực hiện quản lýthống nhất trong cả nước về công tác tổ chức Các nội dung quản lý nhà nước
về cán bộ, công chức còn được phân cấp cho các Bộ và cơ quan ngang Bộ, cơquan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấphuyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã và đơn vị sử dụng cán bộ, công chức Cán bộ,công chức làm việc trong nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau theo quy định củapháp luật vì vậy tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức sẽ do các cơquan, tổ chức này triển khai thực hiện
Trang 201.2 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
1.2.1 Tổ chức, phổ biến, tuyên truyền pháp luật cán bộ, công chức
Tổ chức phổ biến, tuyên truyền pháp luật cán bộ, công chức là một trongnhững nội dung quan trọng của công tác tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ,công chức nhằm giúp cán bộ, công chức không tiến hành những hoạt động màpháp luật cán bộ, công chức cấm Đồng thời, việc tuyên truyền giúp cán bộ,công chức nhà nước nhận thức được những hành vi phù hợp với điều kiện,hoàn cảnh mà quy phạm pháp luật về cán bộ, công chức quy định về các nghĩa
vụ pháp lý theo luật cán bộ, công chức Công tác tuyên truyền, phổ biến phápluật cán bộ, công chức có thể thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như:tuyên truyền miệng; thông qua các cuộc thi tìm hiểu; thông qua tờ rơi; thôngqua hệ thống thông tin đại chúng
Tuyên truyền miệng về pháp luật là một hình thức tuyên truyền khá phổbiến mà người nói trực tiếp nói với người nghe về lĩnh vực pháp luật trong đóchủ yếu là các văn bản pháp luật nhằm nâng cao nhận thức về pháp luật, niềmtin vào pháp luật và ý thức pháp luật cho người nghe và kích thích người nghehành động theo các chuẩn mực pháp luật Tuyên truyền miệng về pháp luật cónhiều ưu thế thể hiện ở tính linh hoạt, có thể tiến hành ở bất cứ nơi nàom,trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào và số lượng người nghe; người nói cóđiều kiện thuận lợi để giải thích, phân tích, làm sáng tỏ nội dung cần tuyêntruyền, hai bên có thể hỏi đáp trực tiếp để đáp ứng yêu cầu của nhau Trongcông tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật từ trước đến nay, hìnhthức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua tuyên truyền miệng được sử dụngphổ biến, rộng rãi và có mối quan hệ chặt chẽ với các hình thức phổ biến, giáodục pháp luật khác
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cán bộ, công chức còn có thể thực hiệnthông qua việc biên soạn, phát hành tài liệu pháp luật Tài liệu phổ biến, giáo
Trang 21dục pháp luật gồm nhiều loại như đề cương tuyên truyền, văn bản pháp luật,sách hướng dẫn, giải thích pháp luật, sách pháp luật bỏ túi, sách hỏi đáp phápluật, tờ rơi, tờ gấp, bản tin, tranh áp phích, lịch Trong tuyên truyền miệng,trong các hoạt động giảng dạy và học tập pháp luật cán bộ, công chức tại cáctrường đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ, công chức đều sử dụng tài liệupháp luật để thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Hiệu quảcủa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chịu sự tác động nhất định của chấtlượng các tài liệu pháp luật, vì vậy, việc biên soạn, phát hành các tài liệu nàycũng được chú trọng cả hình thức và nội dung.
Ngoài ra, để pháp luật cán bộ, công chức trở nên gần gũi và trở thànhnhận thức trong hoạt động quản lý nhà nước, việc tuyên truyền phổ biến phápluật còn có thể thực hiện thông qua tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật; thôngqua hoạt động thực thi pháp luật; thông qua việc thực hiện cam kết không viphạm pháp luật
1.2.2 Bảo đảm cán bộ, công chức thực thi đúng các quyền và nghĩa
vụ đối với cán bộ, công chức
Về nghĩa vụ, Điều 8 Luật cán bộ, công chức quy định nghĩa vụ của côngchức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân bao gồm: trung thành với ĐảngCộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệdanh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia; tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhândân; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát củanhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách củaĐảng và pháp luật của Nhà nước Trong thi hành công vụ, căn cứ Điều 9 củaLuật, người công chức phải thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kếtquả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; có ý thức tổ chức kỷ luật;nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báocáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ
Trang 22quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước; chủ động và phối hợp chặt chẽtrong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo
vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; chấphành quyết định của cấp trên; người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trướcpháp luật về quyết định của mình
Về quyền, việc thực hiện pháp luật cán bộ, công chức phải đảm bảođầy đủ quyền của cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật bao gồm:
- Quyền được bảo đảm các điều kiện thi hành công vụ (Điều 11): đượcgiao quyền tương xứng với nhiệm vụ; được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiệnlàm việc khác theo quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin liên
quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao; được đào tạo, bồi dưỡng nâng caotrình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ; được pháp luật bảo vệ khi thi hànhcông vụ
- Quyền được hưởng lương và các chế độ liên quan đến tiền lương (Điều12): được Nhà nước bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạnđược giao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Công chứclàm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu
số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các ngành,nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưuđãi theo quy định của pháp luật; được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm,công tác phí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật
- Quyền được nghỉ ngơi (Điều 13): công chức được nghỉ hàng năm, nghỉ
lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động.Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ, công chức không sử dụng hoặc sửdụng không hết số ngày nghỉ hàng năm thì ngoài tiền lương còn được thanhtoán thêm một khoản bằng tiền lương cho những ngày không nghỉ
Trang 23- Các quyền khác của công chức (Điều 14): công chức được bảo đảmquyền học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội;
được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật; nếu bị thương hoặc hy sinhtrong khi thi hàh công vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách nhưthương binh hoặc được xem xét để công nhận là liệt sĩ và các quyền khác theoquy định của pháp luật
Về nghĩa vụ, việc thực hiện pháp luật cán bộ, công chức phải đảm bảomỗi cán bộ, công chức phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của cán bộ, công chứcđược pháp luật quy định bao gồm:
- Nghĩa vụ thực hiện các chuẩn mực về đạo đức công vụ như đạo đứccông chức, văn hoá giao tiếp trong công sở, văn hoá giao tiếp với nhân dân baogồm: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ (Điều 15);văn hoá giao tiếp trong công sở (Điều 16); văn hoá giao tiếp với
nhân dân (Điều 17)
- Nghĩa vụ không được làm những việc mà pháp luật không cho phépgồm những việc không được làm liên quan đến đạo đức công vụ (Điều 18); nhữngviệc không được làm liên quan đến bí mật nhà nước (Điều 19) và những việckhông được làm khác liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quyđịnh tài Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí,
và những việc khác theo quy định của pháp luật và của
cơ quan có thẩm quyền
1.2.3 Bảo đảm hoạt động quản lý cán bộ, công chức
Căn cứ Điều 5 Luật cán bộ, công chức, việc tổ chức quản lý cán bộ, côngchức phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý củaNhà nước; kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biênchế; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách nhiệm cá nhân và
Trang 24phân công, phân cấp rõ ràng; việc sử dụng, đánh gia, phân loại cán bộ, công chứcphải dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thi hành công vụ; thựchiện bình đẳng giới Nội dung của hoạt động quản lý cán bộ, công chức gồm:tuyển dụng; phân công công tác, sử dụng, đánh gia, phân loại công chức.
- Về tuyển dụng, đây là một trong các nội dung có ảnh hưởng rất quantrọng đến chất lượng thực thi, thừa hành công vụ Việc tuyển dụng công chức phảicăn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế Căn cứ
vào vị trí việc làm và tiêu chuẩn chức danh công chức (Điều 36); tất cả công dânViệt Nam đủ điều kiện đều có cơ hội như nhau tham gia dự tuyển công chức,không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo Bêncạnh đó, về phương thức tuyển dụng, thực hiện tinh thần của Nghị quyết Trungương 5 Khoá X của Đảng về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực,hiệu quả quản lý bộ máy nhà nước, việc tuyển dụng người vào các vị trí việc làmtương ứng với ngạch chuyên viên hoặc tương đương trở xuống thì thực hiệntuyển dụng có thời hạn thông qua ký hợp đồng làm việc Việc tuyển dụng ngườivào các vị trí việc làm tương ứng với ngạch chuyên viên chính hoặc tương đươngtrở lên thì thực hiện tuyển dụng lâu dài thông qua quyết định tuyển dụng Luậtcán bộ, công chức cũng quy định nguyên tắc tuyển dụng công chức (Điều 38)phải đảm bảo bình đẳng, công khai, khách quan, cạnh tranh, đúng pháp luật.Tuyển chọn đúng người, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và vị trí việc làm Ưu tiêntuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân tộc thiểu số.Người trúng tuyển vào công chức trước khi chính thức nhận nhiệm vụ phải quathời gian thử việc theo quy định của pháp luật
- Về đào tạo, bồi dưỡng công chức, chế độ đào tạo, bồi dưỡng công chứcđược quy định tại Điều 47 Luật cán bộ, công chức Cơ quan, tổ chức, đơn vịquản lý công chức có trách nhiệm xây dựng và công khai quy hoạch, kế hoạchđào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn và nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn,
Trang 25nghiệp vụ của công chức; tạo điều kiện để công chức tham gia đào tạo, bồidưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức.Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng công chức do ngân sách nhà nước cấp và cácnguồn thu khác theo quy định của pháp luật Theo đó, chế độ đào tạo, bồidưỡng công chức bao gồm đào tạo tiền công vụ; đào tạo khi nâng ngạch vàthay đổi chức danh nghề nghiệp cao hơn; đào tạo nhằm bổ nhiệm các chứcdanh lãnh đạo, quản lý; đào tạo để nâng cao trình độ phục vụ yêu cầu côngviệc Việc đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào kế hoạch, quy hoạch, tiêuchuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý và tiêu chuẩn của từng vị trí công tác ứngvới từng ngạch hoặc chức danh công chức.
- Về điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, biệt phái, miễn nhiệm, từ chứcđối với cán bộ, công chức được quy định từ Điều 50 đến Điều 54 của Luật cán
bộ, công chức Việc sắp xếp công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ vàphẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ củacông chức; nhu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị và tiêu chuẩn, điềukiện của chức vụ lãnh đạo, quản lý; yêu cầu nhiệm vụ, quy hoạch, kế hoạch sửdụng công chức, công chức lãnh đạo, quản lý được luân chuyển trong hệthống các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị
- xã hội
- Về đánh giá công chức, việc đánh giá công chức phải căn cứ vào cácquy định về nghĩa vụ, trách nhiệm, đạo đức công vụ và gắn với kết quả thưcthi công vụ Đồng thời, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việcđánh giá công chức Căn cứ vào kết quả đánh gia, công chức được xếp loạitheo các mức độ: xuất sắc; tốt; trung; yếu Công chức có 2 năm liên tục bịđánh giá ở mức độ yếu (không hoàn thành nhiệm vụ) thì áp dụng chế độ chothôi việc Theo Điều 55 Luật cán bộ, công chức, đánh gia công chức để làm rõphẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,
Trang 26kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sửdụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chínhsách đối với công chức Đánh giá công chức thông qua các nội dung cụ thểnhư: việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luậtcủa Nhà nước; đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và
lề lối làm việc; đánh giá năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tiến độ vàkết quả thực hiện nhiệm vụ; tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiệnnhiệm vụ; thái độ phục vụ nhân dân
Ngoài những quy định trên, công chức lãnh đạo, quản lý còn được đánhgiá theo các nội dung: kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị đượcgiao lãnh đạo, quản lý; năng lực lãnh đạo, quản lý; năng lực tập hợp, đoàn kếtcông chức Việc đánh giá công chức được thực hiện hàng năm, trước khi bổnhiệm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc thời gian luânchuyển, biệt phái
1.2.4.Thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
Tổ chức giám sát và đánh giá việc tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ,công chức thông qua các hình thức thanh tra, kiểm tra là một trong những giảipháp quan trọng nhằm nâng cao ý thức thực hiện pháp luật cán bộ, công chứctrong các cơ quan, đơn vị, tổ chức Giám sát và đánh giá chính là cơ chế hữuhiệu để điều chỉnh và xử lý những sai sót nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
Ở từng nội dung cụ thể của pháp luật cán bộ, công chức, giám sát vàđánh giá có rất nhiều ý nghĩa đối với việc nâng cao hiệu quả của việc tổ chứcthực hiện pháp luật Đây là công cụ để kiểm soát việc thực hiện pháp luật vàđặc biệt là để hạn chế sự lạm quyền của cán bộ, công chức trong quá trình tổchức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật Giám sát và đánh giá cũng tạo
ra áp lực để các cá nhân, tổ chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật
Trang 27phải thực hiện theo đúng trách nhiệm của mình, tránh trường hợp thực hiệnkhông kịp thời nhiệm vụ Đồng thời giám sát và đánh giá cũng là công cụ đểthu thập phản hồi nhằm điều chỉnh bản thân các quy định của văn bản quyphạm pháp luật Thực tế cũng đã cho thấy có những bài học thành công trongviệc tổ chức thực hiện pháp luật nhờ thực hiện giám sát một cách chặt chẽcông tác tổ chức thực hiện pháp luật.
Ở góc độ vĩ mô, cơ chế giám sát việc tổ chức thực hiện pháp luật nóichung và pháp luật cán bộ, công chức nói riêng gắn liền với cơ chế kiểm soát lẫnnhau giữa các nhánh quyền lực nhà nước Kiểm soát quyền lực nhà nước
trong Nhà nước pháp quyền được hiểu là một hệ thống những cơ chế đượcthực hiện bởi Nhà nước và xã hội nhằm giữ cho việc thực thi quyền lực nhànước đúng mục đích và hiệu quả Kiểm soát quyền lực nhà nước bao gồmkiểm soát phạm vi hoạt động của cơ quan nhà nước; kiểm soát quá trình thôngqua và sửa đổi Hiến pháp; kiểm soát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhànước; kiểm soát những người thực thi quyền lực và có thể kiểm soát từ bênngoài và bên trong nhà nước Kiểm soát từ bên ngoài nhà nước là kiểm soát từnhân dân và xã hội, kiểm soát từ bên trong là kiểm soát do chính Nhà nướcthực hiện Trong hệ thống đó, trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật ở tầm
vĩ mô của các cơ quan nhà nước sẽ được xác định rõ ràng Và đây cũng chính
là động lực chính trị cơ bản nhất để vận hành có hiệu quả hệ thống cơ quan cótrách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật
Bên cạnh đó, công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kếtluận, kiến nghị, quyết định xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật cán
bộ, công chức là một nội dung quan trọng trong hoạt động thanh tra, kiểm tra.Kết quả theo dõi, đôn đốc, kiểm tra sau thanh tra có ý nghĩa đặc biệt quantrọng quyết định hiệu lực của hoạt động thanh tra, xác định hoạt động thanhtra có đạt được kết quả đề ra hay không
Trang 28Việc tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức cũng như các lĩnhvực pháp lý khác luôn đảm bảo hai giai đoạn: giai đoạn xây dựng cơ sở pháp
lý cán bộ, công chức để hình thành quan hệ pháp luật giữa cán bộ, công chứcvới đơn vị công tác và các chủ thể khác của xã hội, và giai đoạn mỗi cán bộmcông chức, cá nhân và tổ chức liên quan tham gia quan hệ pháp luật và thựchiện quyền, nghĩa vụ của mình theo luật
1.3 Các yếu tố bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức
1.3.1 Yếu tố pháp luật
Yếu tố pháp luật là yếu tố quan trọng đầu tiên tác động đến tổ chức thựchiện pháp luật cán bộ, công chức Vì các quy định của pháp luật cán bộ, côngchức là cơ sở pháp lý cho quá trình tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, côngchức để các cơ quan nhà nước và công chức tuân thủ trong quá trình thực thicông vụ
Pháp luật cán bộ, công chức là phương tiện quan trọng trong tổ chức vàhoạt động quản lý nhà nước Để bộ máy Nhà nước hoạt động có hiệu quả đòi hỏiphải xác định đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan, đơn vị mình;phải xác lập được một cách đúng đắn và hợp lý mối quan hệ giữa chúng; phảixác lập được một cách đúng đắn và hợp lý mối quan hệ giữa chúng, phải cónhững phương pháp và hình thức tổ chức và hoạt động phù hợp để tạo thành một
cơ chế đồng bộ trong quá trình thiết lập và thực hiện quyền lực nhà nước Điềunày chỉ có thể thực hiện được khi dựa trên cơ sở những nguyên tắc và quy định
cụ thể của pháp luật Thực tế Việt Nam những năm qua cho thấy khi chưa có một
hệ thống pháp luật về công chức đầy đủ, đồng bộ, thống nhất và chính xác đểlàm cơ sở cho việc củng cố và hoàn thiện bộ máy nhà nước, thì dễ dẫn đến tìnhtrạng trùng lặp, chồng chéo, thực hiện không đúng chức năng, thẩm quyền củacác cấp chính quyền, bộ máy dễ phát sinh ra cồng kềnh và kém hiệu quả, khôngquản lý hiệu quả công chức, chưa tạo được cơ chế hữu hiệu tạo động lực chocông chức trong quá trình thực thi công vụ
Trang 29Quản lý nhà nước là lĩnh vực có quy mô và phạm vi hoạt động rất rộng,bao gồm nhiều mối quan hệ cần điều chỉnh, trong đó có quan hệ quản lý nhân
sự - một trong những vấn đề trọng yếu của nền hành chính Nhà nước Phápluật cán bộ, công chức với hệ thống những văn bản quy phạm pháp luật có thứbậc khác nhau để điều chỉnh các quy định về: tiêu chuẩn; quyền và nghĩa vụcủa cán bộ, công chức, tuyển dụng; điều động, tiếp nhận, trình tự và thủ tụcđánh giá; thôi việc và thủ tục nghỉ hưu; khen thưởng, xử lý kỷ luật; các chế độchính sách đối với cán bộ, công chức ví dụ như chế độ thai sản
1.3.2 Yếu tố kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước có ảnh hưởng rất lớn tới việchoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật cán bộ, công chức nói riêng Mức
độ hoàn thiện tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức phản chiếu tìnhhình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong bất kỳ một xã hội, mộtquốc gia nào, thể chế quản lý cán bộ, công chức thường phản ánh trình độphát triển kinh tế - xã hội của đất nước Kinh tế - xã hội càng phát triển, sẽthúc đẩy cán bộ, công chức phát triển và ngược lại Pháp luật cán bộ, côngchức chính là hệ thống văn bản pháp luật quản lý cán bộ, công chức Đứngtrên lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin,trong mối quan hệ giữa kinh tế và pháp luật thì điều kiện kinh tế, các quan hệkinh tế quyết định trực tiếp đến sự ra đời của pháp luật, đồng thời quyết địnhtoàn bộ nội dung, hình thức, cơ cấu và sự phát triển của nó Các Mác đã viết:
“Trong thời đại nào cũng thế, chính là vua chúa phải phục tùng những điều
kiện kinh tế, chứ không bao giờ vua chúa ra lệnh cho những điều kiện kinh tế được Chẳng qua chế độ pháp luật về chính trị, cũng như về dân sự chỉ là cái việc nói lên, ghi chép lại quyền lực của những quan hệ kinh tế”.
Trong tình hình kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay, đất nước càng đổimới thì nhận thức về những tác động của nền kinh tế thị trường ngày càng
Trang 30thâm nhập sâu sắc và rõ rệt vào đời sống xã hội nước ta Trong bối cảnh mởcửa và thực hiện nền kinh tế thị trường thì đòi hỏi một bộ máy Nhà nước năngđộng, hoạt động có hiệu quả là cấp bách và chính đáng của người dân và mọi
tổ chức kinh tế - xã hội Nhưng sự vận hành có hiệu quả của bộ máy Nhànước trên thực tế lại phụ thuộc vào những con người cụ thể, mọi công việcđược giải quyết nhanh hay chậm do chính những quyết định của đội ngũ côngchức từ cấp Trung ương cho đến cấp cơ sở, thấp nhất là cán bộ, công chức cấp
xã Bởi vậy, hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức là hết sức cần thiết, nhằmtạo ra một hệ thống pháp luật từ đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn, bổ nhiệm,quản lý cho đến chế độ, chính sách một cách đồng bộ, thống nhất, ổn định,làm cơ sở cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ công chức chính quyềnngày càng trong sạch, vững mạnh, góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quảquản lý, điều hành của chính quyền địa phương trong thời kỳ mới
1.3.3 Yếu tố năng lực của cán bộ, công chức
Năng lực của cán bộ, công chức nói chung luôn gắn với mục đích tổngthể, với chiến lược phát triển của tổ chức và phải gắn với lĩnh vực, điều kiện
cụ thể Năng lực liên qua chặt chẽ đến quá trình làm việc, phương pháp làmviệc hiệu quả và khoa học công nghệ Yêu cầu năng lực sẽ thay đổi khi tìnhhình công việc và nhiệm vụ thay đổi Vì vậy, năng lực làm việc của cán bộ,công chức hay còn gọi là năng lực thực thi trong hoạt động quản lý hànhchính nhà nước của cán bộ, công chức là khả năng của cán bộ, công chức đểhoàn thành nhiệm vụ được giao trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định
Trong hoạt động quản lý nhà nước, năng lực của công chức chính là khảnăng của công chức thực hiện có kết quả hoạt động có tổ chức và điều chỉnhbằng quyền lực nhà nước với đối tượng quản lý phù hợp với trật tự hành chínhquy định và xác định theo ý chí của nhà quản lý một cách hiệu quả
Trang 31Năng lực thực thi công vụ là thuật ngữ chỉ khả năng về thể chất và trí tuệcủa mỗi công chức trong việc sử dụng các yếu tố như kiến thức, kỹ năng, trình
độ, thái độ hành vi để hoàn thành công việc được giao, xử lý tình huống và đểthực hiện nhiệm vụ trong mục tiêu Năng lực thực thi công vụ không chỉ baogồm các yếu tố như trình độ, kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi ứng xử màcòn bao hàm cả khả năng kết hợp hài hoà các yếu tố đó trong những điều kiệnhoàn cảnh cụ thể nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
Con người luôn được xem là trung tâm của mọi vấn đề, là nguồn lựcquan trọng nhất trong tất cả các nguồn lực Bởi lẽ chính con người sẽ quyếtđịnh sự tồn tại của tất cả Trong quá trình tổ chức thực hiện chúng ta phải luônhướng đến yếu tố này, bởi lẽ không thể nào áp đặt những gì ta nghĩ để buộcngười khác phải thực hiện mà tất cả những yếu tố đó phải hướng đến côngchức Sự áp đặt cứng nhắc là điều tối kỵ trong một xã hội, trong một tổ chức,đặc biệt là đối với nước ta, một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Pháp luật về công chức được ban hành vàđiều chỉnh như thế nào phải xuất phát từ đặc điểm về trình độ năng lực, nhậnthức của đội ngũ công chức Nếu cao hoặc thấp hơn đều không phù hợp Mặckhác con người ở đây được hiểu là tổ chức và cá nhân có trách nhiệm chínhtrong việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật quản lý côngchức Mức độ tổ chức thực hiện pháp luật về công chức yêu cầu của thực tiễnphụ thuộc rất nhiều vào năng lực của các cơ quan, cá nhân tham gia vào hoạtđộng tổ chức
1.3.4 Truyền thống, văn hoá, phong tục, tập quán
Văn hoá truyền thống dân tộc, nơi mà các tổ chức đang tồn tại và hoạtđộng có ảnh hưởng quan trọng đối với văn hoá của tổ chức đó Lối suy nghĩcủa người Việt Nam phần lớn chịu ảnh hưởng của phương thức sản xuất nôngnghiệp, nét văn hoá cộng đồng, vùng miền, văn hoá làng đã tạo nên ý thức
Trang 32cộng đồng cao, trọng tập thể Tuy nhiên nó làm cho vai trò của tập thể được
đề cao, cái tôi cá nhân ít được chú trọng, hay cá nhân thường bị chi phối bởinhững chuẩn mực của cộng đồng nên thông thường không dám làm điều gìtrái ngược với chính kiến của đám đông, vai trò cá nhân không được đề cao,nhân viên luôn chờ đợi ý kiến chỉ đạo của cấp trên tạo nên tình trạng trì trệ, ỷlại vào tập thể, thiếu chủ động, thiếu ý thức trách nhiệm trong công việc Mộthiện tượng phổ biến hiện nay là hoạt động công vụ của công chức ít quan tâmđến chất lượng, hiệu quả thực thi, đặc biệt họ sử dụng nguồn lực của tổ chứcmột cách tuỳ tiện, họ coi tài sản tập thể như “của chùa”, thói quen chi tiêu bừa
bãi, lãng phí theo kiểu “cha chung không ai khóc” là tình trạng thường gặp.
Bên cạnh việc né tránh mâu thuẫn, đấu tranh và ngần ngại trước nhữngthay đổi cũng là một đặc tính của văn hoá hành chính Việt Nam xuất phát từ
sự tế nhị, kín đáo, tâm lý ngại va chạm, “dĩ hoà vi quý” Chính kiểu văn hoá tế
nhị, kín đáo này góp phần tạo cơ sở cho một số kỹ thuật hành chính như bỏphiếu tín nhiệm Điều này có thể làm cho các nhà quản lý khó khăn hơn trongviệc thu nhận được những thông tin phản hồi thực chất về các vấn đề trong tổchức Như vậy cho chúng ta thấy rằng việc lập lại một trật tự vốn đã đượchình thành từ xưa, đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi người là việc không
dễ, chính vì lý do đó mà ta cải cách hành chính, nhằm tái thiết và đưa ra
những “thói quen” đó vào trong một khuôn khổ mà ta đã định ra Ảnh hưởng
của yếu tố truyền thống, nét văn hoá của dân tộc vốn đã được hình thành từngàn xưa là việc làm khó nhưng chúng ta vẫn phải làm để làm cho nền hànhchính chúng ta ngày càng hoạt động hiệu lực và hiệu quả, phù hợp với xu thếphát triển chung của thế giới ngày nay
Trang 33TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức là một trong những hoạtđộng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình cải cách hành chính nhà nước ởnước ta hiện nay Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luậtcán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là việc làm cần thiết
Để có cơ sở cho việc tiếp cận và đánh giá thực trạng tổ chức thực hiệnpháp luật cán bộ, công chức hiện nay, tại Chương 1 của luận văn, tác giả đãtrình bày một cách có hệ thống những vấn đề mang tính lý luận chung về côngchức, tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức Đồng thời, tác giả cũngnghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng, tác động đến việc tổ chức thực hiện phápluật cán bộ, công chức như: yếu tố kinh tế - xã hội, yếu tố pháp luật, yếu tốcon người, và yếu tố văn hoá, phong tục, tập quán Những vấn đề lý luậntrong Chương 1 là cơ sở cho tác giả nghiên cứu, đánh giá thực trạng tổ chứcthực hiện pháp luật cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn ở Chương 2của luận văn
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP TỈNH – TỪ THỰC TIỄN TỈNH LẠNG SƠN 2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của tỉnh Lạng Sơn 20
2.1.1 Về vị tri địa lý, địa hình, đất đai
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, biên giới, thuộc vùng Đông Bắc với diệntích tự nhiên 8.310,09 km2. Lạng Sơn nằm ở vị trí đường quốc lộ 1A, 1B, 4A,4B, 279 đi qua, là điểm nút giao lưu kinh tế với các tỉnh phía Tây là CaoBằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, phía Đông là tỉnh Quảng Ninh, phía Nam làBắc Giang và phía Bắc tiếp giáp với Khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây,Trung Quốc, với 2 cửa khẩu quốc tế (cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị và cửakhẩu đường sắt Đồng Đăng), 1 cửa khẩu chính Chi Ma và 9 cửa khẩu phụ
2.1.2 Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên rừng: Có diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 512.559 ha,chiếm 61,6% diện tích đất tự nhiên Tài nguyên khoáng sản không nhiều, trữlượng các mỏ nhỏ, chủ yếu là mỏ đá vôi với khoảng 40 mỏ đang khai thác cótổng trữ lượng 405 triệu m3 để làm vật liệu xây dựng
2.1.3 Dân số, đơn vị hành chính
Dân số của tỉnh năm 2019 là 782.811 người, chủ yếu sinh sống ở khuvực nông thôn (chiếm 79,54%) Tỉnh Lạng Sơn có 07 dân tộc, chủ yếu là:Nùng chiếm 41,91%, Tày 35,43%, Kinh 16,99%, Dao 3,5%, Hoa 0,29%, Sánchay 0,6%, Mông 0,17%, dân tộc khác 0,11%
Tỉnh Lạng Sơn có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 10 huyện và 01thành phố loại II; 200 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 181 xã, 05 phường và
20
Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn, https://www.langson.gov.vn/index.php/en/node/68258, truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2021.
Trang 3514 thị trấn) Tính đến tháng 6/2020, trên địa bàn tỉnh có 1.850 thôn, tổ dânphố (gồm 1.707 thôn, 143 tổ dân phố) Trong đó có 31 xã khu vực I, 57 xãkhu vực II, 112 xã khu vực III; có 107 xã đặc biệt khó khăn, 04 xã an toànkhu, 03 xã biên giới, 83 thôn đặc biệt khó khăn của 24 xã khu vực II thuộcdiện đầu tư Chương trình 135.
2.1.4 Về kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm giai đoạn 2011 - 2017đạt 8 - 9%, trong đó ngành nông, lâm nghiệp tăng 3 - 4%; công nghiệp - xâydựng tăng 9 - 11%; dịch vụ tăng 10 - 12% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theohướng giảm tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp
- xây dựng và dịch vụ Nông lâm nghiệp chiếm 20,30%, công nghiệp - xâydựng 19,68%, dịch vụ 49,78%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 10,24% Thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt 38,4 triệu đồng
2.1.5 Về văn hoá – xã hội
- Tỷ lệ thôn, khối phố có nhà văn hóa đến năm 2018 đạt 96%
- Số trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2018 là 192 trường trên tổng số
694 trường
- Đến hết năm 2018, tổng số xã đạt Bộ tiêu chí quốc gia về y tế là 114
xã, chiếm 50,4% số xã Có 10,5 bác sỹ/vạn dân, 28,3 giường bệnh/vạn dân, Tỷ lệngười dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 95,5%
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2018 đạt 50%, lao động được giải quyết việc làm hàng năm trên 14.600 người
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo hàng năm đều giảm trên 3%, năm 2017 giảm3,3%, năm 2018 giảm 3,24% Hiện còn 30.583 hộ nghèo, chiếm 15,83%; 21.267
hộ cận nghèo, chiếm 11,01%
Trang 362.2 Những thành tựu đạt được trong công tác tổ chức thực hiện pháp luật cán bộ, công chức của cấp tỉnh Lạng Sơn 21
2.2.1 Về kết quả sắp xếp tổ chức bộ máy
Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấphành Trung ương “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máycủa hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, UBND tỉnhLạng Sơn đã chỉ đạo thực hiện 03 đợt sắp xếp tổ chức bộ máy vào các năm
2017, 2019 và 2020 Kết quả thực hiện đến nay cụ thể như sau:
Về tổ chức hành chính
- Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:
thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
- Nhận xét: Số lượng Sở, ngành thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ở LạngSơn không thay đổi từ thời điểm ngày 30 tháng 4 năm 2015 đến thời điểmngày 30 tháng 6 năm 2020 Số lượng các Sở, ngành ở tỉnh Lạng Sơn có tính
ổn định, không bị gây xáo trộn trong việc chia tách hay sáp nhập các đơn vị tổchức
- Tổ chức hành chính khác ở cấp tỉnh (Văn phòng HĐND tỉnh, Ban Quản lý
KKTCK Đồng Đăng - Lạng Sơn):
21 Nguồn: “Báo cáo kết quả sắp xếp tổ chức bộ máy; quản lý, sử dụng biên chế công chức,
số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và hợp đồng lao động giai đoạn
2015-2020 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn”, Báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn năm
2020.
Trang 37Thời gian Số lượng hành chính khác cấp tỉnh
- Nhận xét: Số lượng đơn vị hành chính khác cấp tỉnh không thay đổi
trong giai đoạn từ 30/4/2015 đến 30/6/2020 Tính ổn định của đơn vị hành
chính vẫn được duy trì
- Các tổ chức và tương đương thuộc cơ cấu tổ chức của Sở, ngành:
Thời điểm Số lượng phòng và tương đương thuộc Sở,
kể, thực hiện được chủ trương cắt giảm đầu mối
- Chi cục và tương đương:
Thời điểm Số lượng Chi cục và tương đương
- Nhận xét: Thời điểm 30/4/2015 có 15 chi cục và tương đương; thờiđiểm 30/6/2020 có 12 chi cục và tương đương; thực hiện giảm 03 chi cục vàtương đương,22 tỷ lệ giảm 20% Số lượng chi cục và tương đương giảm, thựchiện được chủ trương giảm bớt đầu mối các đơn vị, tổ chức
22 Giải thể Chi cục phát triển lâm nghiệp, Giải thể Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội, Giải thể Chi cục Văn thư lưu trữ, chuyển Chi cục Quản lý thị trường về Bộ Công Thương và
Thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công.
Trang 38- Phòng thuộc cơ cấu tổ chức của chi cục và tương đương thuộc Sở:
Thời Số lượng phòng thuộc cơ cấu tổ chức của chi cục và
điểm tương đương thuộc Sở
chức của chi cục và tương đương thuộc Sở đã được giảm, thực hiện được kế
hoạch và chủ trương giảm số lượng đơn vị, tổ chức
- Văn phòng, phòng, ban thuộc cơ cấu tổ chức của tổ chức hành chính khác
a) Về biên chế trong cơ quan, tổ chức hành chính:
- Số biên chế công chức được giao:
Năm Số biên chế công chức được giao
Trang 39- Nhận xét: Số biên chế công chức hành chính đã thực hiện giao giảm315/2.398 biên chế công chức của tỉnh Lạng Sơn được giao năm 2015, tỷ lệ
giảm 13,13% (bao gồm có 108 biên chế quản lý thị trường chuyển về Tổngcục Quản lý thị trường, Bộ Công Thương quản lý).23 Việc giảm số lượng biênchế công chức được giao đã giảm bớt được gánh nặng cho ngân sách Nhànước trong việc trả lương cho công chức Đồng thời giúp cho bộ máy hànhchính nhà nước ở địa phương bớt cồng kềnh
- Số công chức có mặt tại thời điểm 30/6/2020 là 1.891/2.083 biên chế;
số biên chế công chức chưa sử dụng là 192/2.083 biên chế
Số biên chế công chức chưa sử dụng 192/2.083
- Nhận xét: Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn chưa sử dụng hết số lượngbiên chế công chức được giao là 192 người trong tổng số chỉ tiêu được giao 2.083.Việc chưa sử dụng hết số lượng biên chế công chức được giao tại thời
điểm 30/6/2020 đã thực hiện được việc cắt giảm chi phí hành chính cho ngân sách Nhà nước
b) Về số lượng người làm việc:
- Số lượng người làm việc được giao:
-23 Nếu không tính 108 biên chế QLTT chuyển về Bộ Công Thương thì tỷ lệ giao giảm đạt
9%, (giảm 206/2.289 biên chế giao năm 2015) (2.289 = 2.398 - 109 biên chế Chi cục QLTT thời
điểm giao năm 2015).
Trang 40- Nhận xét: Số lượng người làm việc được giao năm 2015 là 24.102
người đến năm 2020 số lượng người làm việc được giao giảm đi còn 22.438 người,
số lượng người giảm là: 1.876/24.314 người, tỷ lệ giảm 7,72% Việc giảm số
lượng người làm việc đảm bảo được việc cắt giảm chi phí cho ngân
sách Nhà nước
- Số lượng người làm việc có mặt tại thời điểm 30/6/2020 là
21.231/22.438 người; số lượng người làm việc chưa thực hiện là 1.207 người
- Nhận xét: Việc chưa thực hiện được số lượng người làm việc là 1.207
đã giảm được chi phí hành chính cho ngân sách Nhà nước
c) Hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP (đã được sửa
đổi, bổ sung tại Nghị định số 161/2018/NĐ-CP):
* HĐLĐ 68 trong cơ quan hành chính:
- Số giao: Năm 2015 giao 258 hợp đồng lao động 68; Năm 2020 thực
hiện giao 281 hợp đồng lao động 68
NămSố lượng hợp đồng lao động
- Nhận xét: Số lượng lao động hợp đồng lao động 68 được tăng từ 258
(năm 2015) lên 281 (năm 2020) số lượng tăng lên là 23 người
- Số có mặt tại thời điểm 30/6/2020 là 271/281 người; số hợp đồng lao
động chưa sử dụng là 10 hợp đồng.