1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dạy học địa lí theo hướng phát triển năng lực phẩm chất lớp 4

44 165 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 4,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực trong các môn học là xu thế tất yếu của phương pháp giáo dục hiện nay, không chỉ chú ý tích cực hoáhọc sinh về hoạt động trí tuệ mà còn

Trang 1

PHẦN 1: MỞ ĐẦU THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Dạy học Địa lí theo hướng hình thành và phát triển năng lực cho học sinh lớp 4.

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: giảng dạy phần Địa lí trong môn Lịch sử - Địa lí

ở trường Tiểu học

3 Tác giả:

Họ và tên: Bùi Thị Toàn - Nữ

Ngày / tháng / năm sinh: 07 / 12 / 1988

Trình độ chuyên môn: Đại học Giáo dục Tiểu học

Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Hưng Đạo

Điện thoại: 0986000862

4 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Hưng Đạo

5 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

Để áp dụng được các biện pháp trong sáng kiến có hiệu quả đòi hỏigiáo viên phải có nghiệp vụ sư phạm vững vàng, nắm chắc mục tiêu, nội dungchương trình phần Địa lí Bên cạnh đó, người giáo viên phải yêu nghề, luôn tìmtòi nghiên cứu các tài liệu và vận dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạyhọc một cách linh hoạt để đạt kết quả tốt nhất

6 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: từ tháng 9 năm 2020

TÁC GIẢ XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ

ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Bùi Thị Toàn

XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD&ĐT

Trang 2

TÓM TẮT SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

- Quan điểm đổi mới về mục tiêu giáo dục của Đảng, Nhà nước và sự chỉ đạo của

ngành giáo dục

- Vị trí của phôn môn Địa lí

- Xuất phát từ thực tế dạy học

2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến

2.1 Điều kiện áp dụng sáng kiến

- Cần có cơ sở vật chất và trang thiết bị đầy đủ

- Giáo viên phải có chuyên môn vững vàng, tâm huyết với môn học

- Học sinh tích cực học tập, có đủ tài liệu để học tập, thích tìm hiểu về tự nhiên –con người – xã hội

2.2 Thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến

Năm học 2020-2021 tại lớp 4 trường Tiểu học

3 Nội dung sáng kiến

3.1 Tính mới của sáng kiến

Nâng cao nhận thức một cách đầy đủ, chính xác cho giáo viên về vị tríphần Địa lí trong việc giáo dục học sinh, nhằm đạt mục tiêu giáo dục do Đảng

và Nhà nước, ngành giáo dục và cấp học đề ra Đồng thời chỉ ra những biệnpháp nhằm dạy học phân môn Địa lí theo hướng phát triển năng lực, phẩm chấtcho học sinh lớp 4

3.2 Tính sáng tạo của sáng kiến

Sáng kiến dựa trên cơ sở mục tiêu giáo dục của Đảng và nhà nước, ngànhgiáo dục và các cấp học, từ thực tế việc dạy và học của giáo viên và học sinh đểđưa ra các biện pháp nhằm dạy học phân môn Địa lí theo hướng phát triển nănglực, phẩm chất cho học sinh lớp 4

3.3 Khả năng áp dụng của sáng kiến

Sáng kiến này áp dụng rộng rãi trong dạy học phần Địa lí lớp 4 và 5, cóthể vận dụng linh hoạt để áp dụng trong môn Tự nhiên - Xã hội khối lớp 1, 2, 3.Khi sử dụng, giáo viên cần có cách xử lý linh hoạt sao cho chất lượng bộ mônđạt hiệu quả

3.4 Lợi ích của sáng kiến mang lại

Nâng cao chất lượng dạy và học phần Địa lí lớp 4 góp phần nâng cao chấtlượng dạy và học của các môn học khác, tạo hứng thú học tập, góp phần hìnhthành và phát triển các năng lực chung và năng lực đặc thù của học sinh, làm

Trang 3

phong phú vốn kinh nghiệm, nâng cao việc tổ chức các hoạt động dạy học chogiáo viên của nhà trường.

4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến

4.1 Kết quả với đội ngũ Giáo viên

Nhận thức đúng về tầm quan trọng của phần Địa lí trong bộ môn Lịch sử Địa lí ở bậc Tiểu học Hệ thống được các bước tổ chức các hoạt động dạy Địa límột cách đầy đủ và thường xuyên hơn

-4.2 Kết quả với học sinh

Học sinh tích cực, chủ động hứng thú học tập, tự giác học tập phân mônĐịa lí Học sinh có ý thức tìm hiểu, yêu thiên nhiên-con người của quê hươngđất nước Việt Nam

5 Đề xuất, kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến

5.1 Với các cấp quản lý giáo dục: Tổ chức tập huấn nâng cao năng lực sư

phạm cho đội ngũ giáo viên qua các hội thảo, hội giảng

5.2 Với các nhà trường: Tăng cường mua sắm tài liệu, trang thiết bị dạy học

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

Chúng ta đang chứng kiến sự phát triển nhanh chóng, phức tạp trong đờisống của toàn nhân loại bước vào thời kì “hậu công nghiệp” Một xã hội mới, xãhội của trí tuệ, xã hội của thông tin, xã hội học tập dành cho tất cả mọi người đòihỏi phải có những con người có năng lực mới Hoạt động dạy học không chỉphản ánh mà còn góp phần đẩy nhanh sự phát triển của xã hội đó Để đáp ứngđược nhu cầu ngày càng cao của thời đại nhiệm vụ đặt ra đối với ngành giáo dục

Trang 4

và đào tạo trong sự nghiệp xây dựng con người mới ngày càng nặng nề Nghịquyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và

đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển

từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi

mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhậnthức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng pháttriển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theohướng này

Dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực trong các môn học là

xu thế tất yếu của phương pháp giáo dục hiện nay, không chỉ chú ý tích cực hoáhọc sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đềgắn với những tình huống của cuộc sống, gắn hoạt động trí tuệ với hoạt độngthực hành, thực tiễn Đặc biệt, Chương trình tổng thể Ban hành theo Thông tư

32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 nêu rõ: “Giáo dục khoa học xã hội đóng vai trò chủ đạo trong việc giáo dục nhân sinh quan, thế giới quan, hoàn thiện nhân cách, giáo dục ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước, các giá trị nhân văn, tinh thần cộng đồng và những phẩm chất tiêu biểu của công dân toàn cầu (bản lĩnh, kết nối, cá tính, yêu thương) trong xu thế phát triển, đổi mới, sáng tạo của thời đại Mục tiêu xuyên suốt của giáo dục khoa học xã hội là góp phần giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi trên cơ sở nắm vững hệ thống tri thức cơ bản về khoa học xã hội, chủ yếu là lịch

sử và địa lí; chuẩn bị cho những công dân tương lai hiểu rõ hơn về thế giới mà

họ đang sống, sự kết nối, tương tác giữa con người với con người, giữa con người với môi trường xung quanh, giữa dân tộc với thế giới; truyền cảm hứng

Trang 5

cho học sinh khám phá bản thân, các vấn đề của đất nước, của khu vực và thế giới có liên quan trực tiếp đến cuộc sống; giúp học sinh hiểu biết, có tư duy độc lập và sáng tạo Thông qua giáo dục khoa học xã hội, học sinh được hình thành

và phát triển năng lực khoa học xã hội với các thành phần sau: nhận thức khoa học xã hội, tìm hiểu xã hội và vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học để tự tìm hiểu, khám phá bản thân, cộng đồng, xã hội, phân tích và giải quyết các vấn

đề thuộc lĩnh vực xã hội, chính trị và văn hoá trong không gian và thời gian cụ thể; thực hiện đối thoại liên văn hoá trong thời đại toàn cầu hoá và hội nhập”.

Giáo dục khoa học xã hội được thực hiện ở nhiều môn học và hoạt động giáodục, trong đó các môn học cốt lõi là: Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, lớp 2 và lớp 3);Lịch sử và Địa lí (từ lớp 4 đến lớp 9); Lịch sử, Địa lí (cấp trung học phổ thông)

Trong các môn học ở tiểu học, mỗi môn học đều góp phần hình thành vàphát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng cho nhân cách của người học sinh.Lịch sử - Địa lí là một môn học trong hệ thống các môn học của bậc Tiểu học.Tuy là môn ít tiết nhưng môn Lịch sử - Địa lí có vị trí và ý nghĩa sâu sắc trong

đó phần Địa lí cung cấp cho HỌC SINH rất nhiều kiến thức thực tế về đất nước

và các vùng miền, vốn sống sau này mà quan trọng là khơi gợi cho các em lòngyêu thích, ham muốn khám phá thiên nhiên đất nước, con người Qua đó, giáodục lòng yêu tổ quốc, yêu quê hương, đất nước con người Việt Nam Tuy vậy,lâu nay ở Tiểu học, đa số giáo viên còn chú trọng nhiều ở môn nhiều tiết nhưToán và Tiếng Việt Do đó, giáo viên có thể dạy rất tốt ở những môn này, nhữngmôn còn lại trong đó có Địa lí ít được chú trọng nên giáo viên lúng túng dạychưa tốt, chưa tạo hứng thú cho học sinh trong học tập hoặc dạy qua loa nênchưa đạt được hiệu quả của tiết dạy Với mục tiêu chương trình là phát triển conngười toàn diện Trên thực tế, việc dạy học theo hướng phát triển năng lực ởtrường học còn là vấn đề mới mẻ Chính vì vậy, giáo viên cần thay đổi cáchnghĩ cũng như tìm ra các biện pháp để dạy học hình thành và phát triển năng lựccho học sinh là một việc làm thiết thực

Mặt khác, là một giáo viên Tiểu học, với những kiến thức lí luận đượctrang bị trong nhà trường và được tiếp xúc thực tiễn qua các năm công tác, tôi

Trang 6

thấy việc dạy học theo hướng hình thành và phát triển năng lực cho học sinh là

rất cần thiết Xuất phát từ những lí do trên đây tôi đã chọn đề tài: “Dạy học Địa

lí theo hướng hình thành và phát triển năng lực cho học sinh lớp 4”.

2 Thực trạng và nguyên nhân của việc dạy học phần Địa lí lớp 4 ở Tiểu học

2.1 Thực trạng về việc lập kế hoạch bài dạy và tổ chức dạy học trên lớp

Thông qua các tiết dự giờ và trò chuyện, trao đổi với giáo viên thì hầu hết giáoviên đều chưa lập kế hoạch bài học cụ thể cho một bài dạy địa lí Tình trạng dạy họckhá phổ biến, giáo viên chỉ đọc trong sách giáo khoa, sách tham khảo và tổ chức chohọc sinh trả lời các câu hỏi nên giờ học không đem lại hiệu quả cao Một số giáoviên khi soạn giáo án thì còn quá lệ thuộc vào sách giáo viên, sách thiết kế mà chưa

có sự tìm tòi, sáng tạo của bản thân tìm hiểu, cập nhật những thông tin, hiểu biết

về tự nhiên, con người, cuộc sống xung quanh để hỗ trợ môn học dẫn đến kiếnthức về bộ môn, kiến thức phục vụ cho bài giảng còn nghèo nàn, chưa phongphú Nhiều giáo viên chưa xác định được đầy đủ mục tiêu của bài học chính vì vậy

mà chưa hoàn thành được mục tiêu của bài học Khi được hỏi về vấn đề này, thì đa

số các giáo viên cho rằng vì không có thời gian để thiết kế giáo án và vì đây khôngphải là môn học chính nên không cần phải đầu tư quá nhiều thời gian

Do không chuẩn bị kĩ lưỡng giáo án nên các giáo viên chưa biết cách tổchức các hoạt động dạy học sao cho có hiệu quả Hầu hết giáo viên đều biến giờhọc địa lí thành một cuộc đối thoại giữa giáo viên và học sinh cho nên khôngkích thích được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ học.Một số học sinh lười, ngồi trong lớp còn nói chuyện chưa chú ý nghe giáo viêngiảng bài

2.2 Thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học và hình thức dạy học trong phân môn Địa lí 4

Hầu hết các giáo viên sử dụng phương pháp dạy học truyền thống: Thuyếttrình, quan sát Còn các phương pháp dạy học phù hợp với đổi mới học sinh theohướng phát huy tính tích cực của học sinh như: thảo luận nhóm, trò chơi học tập,dạy học giải quyết vấn đề, thì ít được giáo viên sử dụng

Trang 7

Qua quan sát, dự giờ trong quá trình dạy học giáo viên chủ yếu dạy họctheo hình thức cá nhân: hỏi – đáp hoặc hình thức giáo viên giảng học sinh chép

mà “ngại” tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm nên giờ học không sôi nổi,không phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh

2.3 Mức độ và hiệu quả sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học trong dạy học Địa lí.

- Giáo viên sử dụng bảng, phấn (100%), biểu đồ, bản đồ, tranh, ảnh lànhững phương tiện dạy học quan trọng mà giáo viên cũng chỉ sử dụng ở mức độtương đối ít Các phương tiện dạy học hiện đại mang lại nhiều thông tin, tăngtính sinh động, tạo hứng thú học tập đặc biệt là tiết kiệm được thời gian: máy vitính, bài giảng điện tử, bài giảng E-learning, đoạn video tư liệu … chưa được sửdụng nhiều trong giờ học

Qua quan sát, dự giờ tôi thấy hầu hết các giáo viên khi dạy địa lí chỉ sửdụng các phương tiện, thiết bị dạy học địa lí để minh họa cho nội dung bài học

mà ít chú ý đến nguồn tri thức của chúng Giáo viên chưa cập nhật thông tin địa

lí, tìm hiểu, sưu tầm những tranh, ảnh để phục vụ nội dung bài học Hầu hết họcsinh còn yếu trong kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ do giáo viên cũng chưa nắmchắc kĩ năng này để hướng dẫn cho học sinh

2.4 Thực trạng tổ chức các hình thức hoạt động trải nghiệm cho học sinh

Qua trao đổi, trò chuyện với Ban giám hiệu nhà trường cùng một số giáoviên thì hầu hết các giáo viên đều cho rằng việc tổ chức cho học sinh tham giacác hoạt động trải nghiệm theo bài học là rất cần thiết Tuy nhiên thì nhà trườngchưa có điều kiện về thời gian cũng như kinh phí để tổ chức các hoạt động nàycho học sinh

2.5 Nguyên nhân của thực trạng

Có một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên sau đây:

- Lâu nay, trong các môn ở Tiểu học đa số giáo viên còn chú trọng một số mônnhiều tiết như: Toán, Tiếng Việt còn ít chú trọng đến các môn học khác trong đó

có môn Địa lí Giáo viên ít quan tâm, đầu tư thời gian cho môn học này

Trang 8

- Ban giám hiệu cũng như giáo viên chưa có điều kiện hoặc “ngại” tổ chức cáchoạt động trải nghiệm cho học sinh.

- Giáo viên chưa quan tâm đến việc rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo địa lí cho học sinh,thường không yêu cầu học sinh làm bài tập, trả lời câu hỏi, chuẩn bị bài trướckhi đến lớp một cách chặt chẽ

- Học sinh chưa chú ý đến môn học này, chủ yếu còn học thuộc nhiều hơn họchiểu để mở rộng vốn hiểu biết

- Một số bản đồ riêng về vùng, miền, quả địa cầu chưa nhiều và phần lớn đã cũnát sẽ gây nhiều khó khăn cho giáo viên trong quá trình giảng dạy Chưa có sổtay thuật ngữ địa lí cho giáo viên

Trên đây là thực trạng dạy học Địa lí 4 ở trường Tiểu học mà tôi đã tìm hiểu

và đó cũng là những tồn tại khó khăn mà các giáo viên khi dạy học địa lí đang gặpphải Vì vậy, việc mà chúng ta hiện nay là phải làm thế nào để đổi mới cách dạy,phải đưa ra được những biện pháp khắc phục được tình trạng này để giờ học địa líđạt hiệu quả cao góp phần phát triển các năng lực cho học sinh ở Tiểu học

3 Một số biện pháp dạy học Địa lí theo hướng hình thành và phát triển năng lực cho học sinh lớp 4

3.1 Giáo viên cần nắm chắc mục tiêu, nội dung, cấu trúc, đặc điểm của phân môn Địa lí lớp 4.

3.1.1 Mục tiêu dạy học của phân môn Địa lí lớp 4

Mục tiêu của dạy học các bài địa lí lớp 4 nhằm giúp học sinh:

- Về kiến thức: Nhận biết được một số đặc điểm khái quát về tự nhiên,dân cư và hoạt động ở các miền địa hình trên đất nước ta, cung cấp cho học sinhnhững biểu tượng địa lí, bước đầu hình thành một số khái niệm cụ thể, xây dựngmột số mối quan hệ địa lí đơn giản

Trang 9

- Về thái độ:

+ Hình thành và phát triển ở học sinh thái độ và thói quen ham hiểu biết, yêuthiên nhiên đất nước, con người; có ý thức và hành động bảo vệ thiên nhiên.+ Bước đầu hình thành thế giới quan khoa học cho học sinh, hạn chế những hiểubiết sai lệch, mê tín dị đoan trước những hiện tượng địa lí tự nhiên Vì vậy, việcdạy học địa lí không những chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức đơnthuần mà còn phải hình thành, phát triển các năng lực tự học Đó là nhữngnhiệm vụ song song và có tầm quan trọng như nhau

3.1.2 Nội dung phân môn Địa lí lớp 4

Kiến thức Địa lí ở bậc tiểu học được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn đầu(lớp 1, 2, 3) kiến thức môn Địa lí được tích hợp ở mức cao trong các chủ đềkhác nhau của môn Tự nhiên – Xã hội Sang giai đoạn 2 (lớp 4, 5) Địa lí đượctách thành hai phần riêng cụ thể nội dung địa lí gồm có:

- Bản đồ và cách sử dụng bản đồ nhằm giúp học sinh làm quen với một nguồn trithức, một phương tiện học tập rất đặc trưng của Địa lí Qua nội dung này, họcsinh vừa biết được ý nghĩa của bản đồ, vừa bước đầu học được cách sử dụng bản

đồ trong học tập phân môn Địa lí

- Thiên nhiên và hoạt động sản xuất của con người ở miền núi và trung du; ở miềnđồng bằng

- Vùng biển Việt Nam

Mỗi vùng do vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, lịch sử khai thác thiên nhiên

và sự thích ứng của con người và các hoạt động sản xuất, sinh hoạt có nhữngđặc điểm riêng Những đặc điểm này được thể hiện qua những biểu tượng khá

cụ thể để học sinh hiểu, biết, ghi nhớ những nét đặc trưng của từng vùng, sơlược giải thích chúng và qua đó học sinh thấy được sự đa dạng của thiên nhiên,con người Việt Nam trên các vùng miền khác nhau

3.1.3 Cấu trúc các bài học địa lí lớp 4

+ Về phương pháp, cấu trúc của các bài địa lí trong sách giáo khoa

Phần cung cấp kiến thức: gồm các thông tin từ các kênh chữ và các thôngtin từ kênh hình được khai thác qua các hoạt động học tập của học sinh (quansát, thực hành với các phương tiện trực quan: bản đồ, lược đồ, biểu đồ,…)

Trang 10

Phần câu hỏi hoặc yêu cầu hoạt động:

- Các câu hỏi hoặc hoạt động giữa bài nhằm gợi ý cho giáo viên tổ chứccho học sinh làm việc với kênh hình (chủ yếu là tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ) đểkhai thác thông tin địa lí hoặc rèn luyện các kĩ năng địa lí cơ bản

- Các câu hỏi ở cuối bài chủ yếu là các câu hỏi tự luận nhằm giúp giáo viênkiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ nhận thức so với mục tiêu bài học và củng cốkiến thức cho học sinh

- Phần tóm tắt trọng tâm của bài được in đậm

+ Về nội dung

Các bài địa lí lớp 4 có cấu trúc như một bài học địa lí ở bậc trung học phổthông với các phần: mở bài, nội dung chính của bài, tóm tắt nội dung chính củabài và phần câu hỏi bài tập ở cuối bài Tuy nhiên, mỗi bài học thường gồm một

số đề mục có nội dung đơn giản Mỗi đề mục trả lời cho một số ít câu hỏi (Tạisao? Ở đâu? Cái gì?) giúp học sinh nhận biết một vài đặc điểm địa lí nổi bậtcủa các vùng, của đất nước

3.1.4 Đặc điểm phân môn Địa lí lớp 4

* Chương trình Địa lí được xây dựng theo quan điểm tích hợp ở ba điểm chính:

- Chương trình xem xét Tự nhiên - Con người - Xã hội trong một thể thống nhất,

có quan hệ và qua lại và tác động lẫn nhau

- Kiến thức trong chương trình là kết quả của việc tích hợp kiến thức của nhiềungành khoa học: Sinh học, Lịch sử, Dân số - Môi trường,…

- Tùy theo trình độ nhận thức của học sinh ở từng giai đoạn chương trình có cấutrúc phù hợp

Ở giai đoạn này, khả năng phân tích và tư duy trừu tượng của học sinhTiểu học phát triển hơn so với giai đoạn lớp 1, 2, 3 thay thế một phần cho trigiác mang tính tổng thể và trực giác Vì vậy, chương trình có cấu trúc ở dạngtích hợp Lịch sử và Địa lí Điều này có nghĩa là sự phối hợp khá chặt chẽ về nộidung, phương pháp và kế hoạch dạy học giữa Lịch sử và Địa lí nhưng nội dungLịch sử và Địa lí vẫn được tách riêng Khi tiến hành dạy học, giáo viên cần tăngcường kết hợp nội dung có quan hệ mật thiết giữa hai phần

* Chương trình có cấu trúc đồng tâm và phát triển dần qua các lớp

Trang 11

- Các kiến thức đi từ cụ thể tới trìu tượng, từ gần đến xa, từ dễ đến khó,tăng dần độ phức tạp tạo điều kiện cho học sinh dễ thu nhận kiến thức.

* Chương trình chú ý tới những vốn sống, vốn hiểu biết của học sinhtrong việc tham gia xây dựng các bài học

Như vậy, phân môn Địa lí lớp 4 có những nội dung, đặc trưng riêng của

nó Giáo viên phải căn cứ vào những đặc trưng này để tổ chức sao cho giờ họcđạt hiệu quả nhất bằng việc sử dụng sáng tạo các phương pháp kết hợp các hìnhthức dạy học phù hợp với nội dung bài học giúp học sinh lĩnh hội được những trithức của bài học Muốn vậy, người giáo viên phải có cách tiếp cận mới, cách dạymới tạo nên một bầu không khí học tập nhẹ nhàng, vui tươi, phát huy được tínhtích cực của học sinh, loại bỏ cách áp dụng áp đặt cứng nhắc một chiều

3.2 Giáo viên cần hiểu rõ và nắm chắc những năng lực cần hình thành, phát triển cho học sinh trong dạy học Địa lí

3.2.1 Năng lực

Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn

có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp cáckiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ýchí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mongmuốn trong những điều kiện cụ thể

Năng lực cốt lõi là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần phải

có để sống, học tập và làm việc hiệu quả

Chương trình giáo dục phổ thông mới hình thành và phát triển cho họcsinh những năng lực cốt lõi gồm:

- Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả cácmôn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp vàhợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

- Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông quamột số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lựctính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lựcthẩm mĩ, năng lực thể chất

Trang 12

Phân môn Địa lí cấp tiểu học góp theo hướng phát triển năng lực, gópphần hình thành và phát triển các năng lực chung sau:

-Năng lực tự chủ và tự học: thể hiện ở việc học sinh tự mình thực hiệnnhững nhiệm vụ được phân công khi học tập, tham quan; biết đặt ra cáccâu hỏi đơn giản, tự tìm kiếm và phân tích nguồn thông tin, trả lời câu hỏi

về địa lí

- Năng lực giao tiếp và hợp tác: thể hiện ở việc học sinh có khả năng diễnđạt rõ ràng ý kiến của mình, trao đổi, thảo luận khi có các quan điểm khác nhau;biết làm việc theo nhóm, chia sẻ suy nghĩ, lắng nghe ý kiến của người khác; tựtin khi đưa ra ý kiến; cùng nhau xây dựng ý tưởng trong quá trình học tập cácvấn để về địa lí

- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: thể hiện ở việc học sinh có khảnăng phát hiện một số vấn đề trong cuộc sống xung quanh, đặt câu hỏi, tìmthông tin, thực hiện các thao tác phân tích, tổng hợp, giải thích, so sánh tronggiải quyết vấn để; biết đưa ra ý kiến, nhận xét, bình luận theo các cách khácnhau vê' các vấn đề địa lí trong cuộc sống xung quanh

Phân môn Địa lí cấp tiểu học còn hình thành và phát triển các năng lực đặcthù Cụ thể như sau:

- Năng lực nhận thức về địa lí: học sinh có thể nhận biết được các sự vật,hiện tượng địa lí diễn ra trong cuộc sống theo mối quan hệ không gian - thờigian; Mô tả được những nét cơ bản về tự nhiên, dân cư, lịch sử, văn hoá, hoạtđộng kinh tế của địa phương, đất nước và thế giới; mối liên hệ giữa con ngườivới môi trường xung quanh; Phân biệt được sự đa dạng về tự nhiên, dân cư, vănhoá và phương thức sinh sống của con người ở các địa phương, các vùng miền,đất nước và thế giới

- Năng lực tìm tòi, khám phá địa lí: học sinh biết phát hiện, nêu thắc mắc vàđặt câu hỏi đơn giản về một số vấn đề địa lí; Thu thập thông tin dữ liệu đơn giản

về địa lí; đọc lược đồ, biểu đổ, bảng số liệu ở mức độ đơn giản; Phân tích tácđộng cùa thiên nhiên đến lựa chọn phương thức khai thác tự nhiên của conngười và tác động của con người đến tự nhiên ở mức độ đơn giản

Trang 13

- Năng lực vận dụng kiến thức địa lí vào thực tiễn: học sinh có thể giải 2thích ở mức độ đơn giản một số sự vật, hiện tượng địa lí; Bước đẩu biết thu thậpchứng cứ, thảo luận, phân tích và trình bày quan điểm vẽ một số vấn đề địa lí,

xã hội đơn giản; Thực hiện ở mức độ đơn giản hành động sử dụng tiết kiệm tàinguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; ứng xử phù hợp với các sự việc, cácmối quan hệ trong xã hội, các vấn đề xã hội

3.2.2 Dạy học theo hướng hình thành và phát triển năng lực

Dạy học theo hướng hình thành và phát triển năng lực là dạy học quantâm đến việc vận dụng kiến thức đã biết và hiểu vào thực hành, liên hệ và ứngdụng vào các tình huống của đời sống, đáp ứng được những yêu cầu của xã hộiđang thay đổi từng ngày

Dạy học phát triển năng lực không chỉ quan tâm đến các vật liệu (kiếnthức, kĩ năng, thái độ…) mà rất cần chú ý đến cách thức, phương pháp Sau mỗigiờ học, học sinh không chỉ mở mang tri thức mà còn hiểu và biết cách tìm ra trithức đó, biết tri thức đó giúp được gì cho mình trong cuộc sống hàng ngày và để

đi xa hơn trong tương lai

Vì vậy, để dạy học theo hướng hình thành và phát triển năng lực thì giáoviên cần thay đổi cách dạy và học sinh thay đổi cách học theo hướng học sinhchủ động tham gia kiến tạo nội dung kiến thức, vận dụng tri thức vào cuộc sống

và hình thành phương pháp tự học để có thể học suốt đời

3.3 Giáo viên cần vận dụng đa dạng hóa các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong hoạt động nhận thức của học sinh

Việc sử dụng một cách đa dạng, hợp lí các phương pháp dạy học tích cực,hình thức dạy học trong một bài phù hợp với từng nội dung là điều cần thiết.Trong một thời gian của tiết học, giáo viên sử dụng kết hợp một số phươngpháp, hình thức dạy học để khai thác tối đa tri thức của bài học, tích cực hóahoạt động của học sinh và phát huy những ưu điểm đồng thời khắc phục nhữnghạn chế vốn có của các phương pháp và hình thức dạy học khác nhau Trongtừng bài, giáo viên là người quyết định việc lựa chọn phương pháp dạy học, hình

Trang 14

thức dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình Một bài dạy tốt

là kết quả của việc phối hợp sử dụng nhiều phương pháp, hình thức dạy học mộtcách hợp lí như phương pháp quan sát, phương pháp thảo luận, tổ chức trò chơihọc tập, trao đổi đàm thoại (hỏi - đáp), dạy học giải quyết vấn đề…Trong đó dạyhọc giải quyết vấn đề là một trong những biện pháp sư phạm có tác dụng lớnđồng thời tạo điều kiện phối hợp nhuần nhuyễn các biện pháp dạy học với nhau

3.3.1 Trao đổi, đàm thoại:

Là công việc giáo viên đặt ra những câu hỏi để giáo viên và học sinh đàmthoại nhằm gợi mở, dẫn dắt học sinh lĩnh hội nội dung bài học Trong dạy họcĐịa lí có thể vận dụng nhiều dạng trao đổi, đàm thoại tùy thuộc vào nội dung bàihọc cụ thể Giáo viên dùng hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lí để dẫn dắt họcsinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính qui luật của hiện tượngđang tìm hiểu, kích thích sự ham hiểu biết, bồi dưỡng cho học sinh năng lựcdiễn đạt bằng lời nói và làm cho không khí lớp học sôi nổi Đàm thoại tìm tòikhông chỉ giúp cho học sinh thu nhận kiến thức mà còn có tác dụng đánh giá kếtquả học tập của học sinh Nhờ đó, giáo viên thường xuyên thu được những tínhiệu ngược từ phía học sinh để điều chỉnh hoạt động dạy và học Để tăng thêmhiệu quả đàm thoại, giáo viên cần tổ chức đàm thoại theo nhiều chiều giáo viên

 học sinh, học sinh  học sinh, học sinh  giáo viên

- Giáo viên nêu một câu hỏi lớn kèm theo gợi ý nhằm tổ chức cho học sinhthảo luận hoặc đặt những câu hỏi phụ để học sinh giúp nhau tìm lời giải đáp.Câu hỏi do chính giáo viên nêu ra thường kích thích tính tranh luận chẳng hạnmột vấn đề có nhiều giải pháp hay một nghích lí Trước các vấn đề như vậy ýkiến của học sinh thường khác nhau, hình thành những nhóm bảo vệ ý kiến, mỗinhóm tìm ra lí lẽ bênh vực

- Giáo viên đưa ra lời tổng kết hoặc câu hỏi phụ hỗ trợ cho học sinh tự rút rakết luận thông tin mới là nội dung tranh luận, câu hỏi chính và lời giải đáp tổng kết.Lưu ý: Giáo viên chỉ gợi vấn đề, gợi ý, trọng tài còn học sinh phải tự tìm ra câutrả lời đúng với sự hỗ trợ của giáo viên

Trang 15

Ví dụ: Khi học bài 21 “Thành phố Hồ Chí Minh” (Sách giáo khoa Lịch sử - Địa lí 4/

+ Chỉ vị trí của Thành phố Hồ Chí Minh trên lược đồ và cho biết thành phố tiếpgiáp với những tỉnh nào?

+ Từ TP có thể đi tới các tỉnh khác bằng những loại đường giao thông nào?+ Dựa vào bảng số liệu đã điều chỉnh, em hãy so sánh về diện tích và số dân củathành phố Hồ Chí Minh với các thành phố khác

Thành phố Diện tích (km 2 ) Số dân năm 2019

* Hoạt động 2 Trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học lớn

+ Giáo viên cho học sinh quan sát hình 3 trong sách giáo khoa và những hiểubiết cá nhân kể tên các ngành công nghiệp chính của thành phố Hồ Chí Minh.+ Hãy kể tên các sản phẩm công nghiệp của TP Hồ Chí Minh mà em biết?

Trang 16

+ Giáo viên chốt lại: Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm công nghiệp lớn nhất cảnước Ngành công nghiệp của thành phố rất đa dạng và phong phú bao gồm: điện,luyện kim, cơ khí, hóa chất, dệt may,…Một số sản phẩm công nghiệp của thành phốlà:: ti vi, tủ lạnh, quần áo, đồ chơi,các sản phẩm đông lạnh,…

+ Giáo viên cho học sinh quan sát hình 4 (chợ Bến Thành) và sân bay Tân SơnNhất (nếu có) và giảng giải: Hoạt động thương mại của thành phố rất phát triểnvới nhiều chợ và siêu thị lớn Thành phố có sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất vàcảng Sài Gòn là sân bay và cảng biển lớn bậc nhất cả nước

+ Giáo viên yêu cầu học sinh kể tên một số nơi vui chơi, giải trí, rạp hát, rạpchiếu phim , của thành phố Hồ Chí Minh

+ Giáo viên kết luận: TP Hồ Chí Minh có nhiều viện nghiên cứu, trường đại học, nhiều rạp hát, khu vui chơi giải trí nổi tiếng như: Đầm Sen, Suối Tiên,…

3.3.2 Thảo luận

Thảo luận là cách đối thoại giữa học sinh và giáo viên hoặc giữa học sinh

và học sinh nhằm huy động trí tuệ của tập thể để giải quyết vấn đề đặt ra củamôn học để tìm hiểu hoặc đưa ra những giải pháp, những kiến nghị,…

Để phát huy tối đa năng lực cá nhân và tinh thần tập thể giáo viên có thể

tổ chức cho học sinh thực hiện thảo luận theo kỹ thuật “Khăn trải bàn” với cácbước như sau:

+ Giáo viên chia giấy A0 (hoặc A4) thành phần chính giữa và phần xung quanhchia phần xung quanh thành các phần theo số thành viên của nhóm

+ Cá nhân trả lời câu hỏi và viết trên phần xung quanh

+ Thảo luận nhóm, thống nhất ý kiến và viết vào phần chính giữa

Ngoài ra, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh thực hiện thảo luận theo kĩthuật “Sơ đồ tư duy” Sơ đồ tư duy thường được vẽ, viết và đọc theo hướng bắt

Trang 17

nguồn từ trung tâm di chuyển ra phía ngoài, và sau đó là theo chiều kim đồng

hồ Do đó, các từ ngữ viết ở bên trái của sơ đồ tư duy nên sẽ được đọc từ phảisang trái (bắt đầu từ phía trong và di chuyển ra ngoài) Kết hợp với việc đọcsách và học cùng sơ đồ tư duy, không chỉ nắm chắc kiến thức, mà hoàn toàn

sẽ có thể tự mình xây dựng những sơ đồ tư duy riêng theo những cách hiểu, cáchnhớ của mình Học sinh có thể áp dụng được cách xây dựng sơ đồ tư duy dướiđây:

Bước 1: Xác định các từ khóa (có thể dùng những hình ảnh thay từ khóa đểghi nhớ theo cách riêng của mình)

Bước 2: Vẽ chủ đề chính ở trung tâm

 Chủ đề chính nên được vẽ ở trung tâm của tờ giấy, từ đó phát triểnthêm các ý ra xung quanh

 Có thể sử dụng những màu sắc để làm nổi bật chủ đề chính

Bước 3: Vẽ các nhánh chính quanh chủ đề trung tâm

 Ý của các nhánh chính nên được bằng viết thường (chữ to) hoặcđược viết bằng CHỮ IN HOA, nằm trên nét vẽ dày

 Các nhánh chính nên được vẽ theo một hướng góc chéo, không nằmngang Như vậy, có nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra dễdàng hơn

 Tất cả các ý triển khai cho một nhánh nên tỏa ra từ cùng một điểm

Trang 18

 Có thể sử dụng linh hoạt các hình vẽ, màu sắc theo cách hiểu củabản thân.

Học sinh (và giáo viên) có thể sử dụng bản đồ tư duy theo nhiều cách khác nhau,song trong dạy học Địa lí ta có thể xây dựng các kiểu Sơ đồ tư duy sau:

+ Sơ đồ tư duy dùng để minh chứng hay giải thích để phản ánh nội dung bàigiảng một cách trực quan đển dễ khái quát, dễ tiếp thu

+ Sơ đồ tư duy tổng quát dùng để ôn tập, tổng kết hay hệ thống một chươnghoặc nhiều bài

+ Sơ đồ tư duy kiểm tra để đánh giá năng lực thu, hiểu biết của học sinh đồngthời giúp giáo viên kịp thời điểu chỉnh nội dung truyền đạt

Một số sản phẩm của học sinh khi áp dụng kĩ thuật “sơ đồ tư duy” trong dạyhọc Địa lí:

Trang 20

3.3.3 Dạy học giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề không phải là một phương pháp dạy học cụ thể

mà là nguyên tắc chỉ đạo việc tiến hành nhiều phương pháp dạy học Nó đượcvận dụng trong tất cả các khâu của giờ học và là một kiểu dạy học

Ba mức độ của dạy học giải quyết vấn đề: Trình bày nêu vấn đề, tìm tòimột phần và nghiên cứu vấn đề Tuy nhiên ở Tiểu học, giáo viên chỉ sử dụng ởmức độ trình bày nêu vấn đề và tìm tòi một phần Tôi xin trình bày ở mức độ tìmtòi một phần của dạy học giải quyết vấn đề

Các bước tiến hành:

Bước 1 Tình huống xuất phát/câu hỏi nêu vấn đề

Bước 2 Giúp học sinh bộc lộ ý tưởng ban đầu

Bước 3 Đề xuất phương án thực hành/ giải quyết vấn đề

Bước 4 Tiến hành giải quyết vấn đề

Bước 5 Kết luận, hợp thức hóa kiến thức, gắn vấn đề với thực tiễn cuộc sống.

Sau đây là ví dụ minh họa sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học,hình thức tổ chức dạy học

Bài 17: Đồng bằng Nam Bộ (SGK Lịch sử – Địa lí trang 70 – 71)

Trang 21

* Dạy học theo lớp:

1 Khởi động: Kiểm tra kiến thức bài Thủ đô Hà Nội

2 Đặt vấn đề vào bài mới: Tìm hiểu thêm một đồng bằng nữa - đồng bằngNam Bộ

3 Dạy bài mới

3.1 Hoạt động 1 Đồng bằng lớn nhất cả nước

* Dạy học cá nhân:

+ Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát hình 2 trong sách giáo khoa và chỉ vị trícủa đồng bằng Nam Bộ, Đồng Tháp Mười, Kiên Giang, Cà Mau (lược đồ hình 2phóng to) (Học sinh: 1- 2 học sinh lên chỉ trên lược đồ)

+ Giáo viên: Tại sao đồng bằng Nam Bộ được coi là đồng bằng lớn nhất cảnước? Để học sinh trả lời được câu hỏi này thì giáo viên tổ chức cho học sinhtrả lời các câu hỏi nhỏ sau:

* Dạy học theo nhóm:

+ Giáo viên: Dựa vào lược đồ hình 2 và các thông tin trong SGK, hãy thảo luậntheo nhóm đôi và trả lời các câu hỏi sau (Giáo viên phát phiếu thảo luận):

 Đồng bằng Nam Bộ nằm ở phía nào của đất nước ta?

 Đồng bằng do phù sa của các sông nào bồi đắp nên?

 So sánh diện tích của đồng bằng Nam Bộ và đồng bằng Bắc Bộ?+ Giáo viên tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả thảo luận

+ Giáo viên chốt lại: Đồng bằng Nam Bộ nằm ở phía nam nước ta Đồng bằng Nam

Bộ do phù sa của hệ thống sông Mê Công và sông Đồng Nai bồi đắp nên và có diệntích gấp ba lần đồng bằng Bắc Bộ Đây là đồng bằng lớn nhất cả nước

+ Giáo viên chỉ vị trí phần Tây nam Bộ và Đông Nam Bộ trên lược đồ hình 2 chohọc sinh quan sát và giải thích: phần Tây Nam Bộ (đồng bằng sông Cửu Long) cónhiều vùng trũng dễ bị ngập nước như Đồng Tháp Mười, Kiên Giang, Cà Mau.+ Giáo viên: Nêu vấn đề: Ngoài đất phù sa màu mỡ đồng bằng còn nhiều đấtphèn, đất mặn ảnh hưởng đến việc trồng trọt của người dân

Đặt vấn đề: Người dân cải tạo đất mặn, đất phèn như thế nào?

Trang 22

Giải quyết vấn đề: Để khắc phục diện tích đất mặn, đất phèn người dân phải cảitạo đất bằng cách chia các ruộng có diện tích đất bị phèn, mặn thành các ô nhỏsau đó dùng hệ thống kênh, rạch để dẫn nước ngọt vào các ô ruộng này.

Ở hoạt động này, giáo viên đã đa dạng hóa các phương pháp, hình thứcdạy học như: hướng dẫn học sinh làm việc với các tranh, ảnh, lược đồ; thảo luậnnhóm, đàm thoại tìm tòi, dạy học nêu vấn đề với các hình thức tổ chức dạy học

3.4.1 Phương tiện, thiết bị dạy học địa lí truyền thống

- Phòng địa lí: Đây là phương tiện tạo điều kiện để dạy tốt môn địa lí Nó

có vị trí không thể thiếu được đối với việc nâng cao chất lượng môn địa lí

Phòng địa lí là một phòng riêng tại đó các lớp sẽ thay nhau tới học khi có giờ địa

lí trong thời khóa biểu

- Vườn địa lí: Sự cần thiết phải xây dựng vườn địa lí bởi vì vườn địa lí cónhiều tác dụng Vườn địa lí giúp giáo viên nâng cao chất lượng dạy học Quavườn địa lí học sinh sẽ nắm chắc nội dung bài qua việc nhận thức các đối tượnghiện tượng tự nhiên xung quanh mình một cách cụ thể, sinh động

- Quả địa cầu, các loại bản đồ treo tường, lược đồ, biểu đồ, átlát, là nhữngphương tiện dạy học không thể thiếu đối với các bài địa lí ở tiểu học

Ngoài ra, giáo viên nên làm một số phương tiện sau:

- Các phiếu học tập: Phiếu học tập được sử dụng theo hình thức nhóm,lớp Các phiếu học tập địa lí thường được thể hiện trên cả kênh chữ và kênh hìnhnhằm khai thác đầy đủ thông tin của bài học

Nội dung phiếu học tập gồm có:

Ngày đăng: 03/01/2022, 17:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

+ Quan sát vào hình 1, lược đồ thành phố Hồ Chí Minh hãy thảo luận theo nhóm đôi và trả lời các câu hỏi sau (giáo viên phát phiếu thảo luận đã viết sẵn nội dung câu hỏi). - Dạy học địa lí theo hướng phát triển năng lực phẩm chất lớp 4
uan sát vào hình 1, lược đồ thành phố Hồ Chí Minh hãy thảo luận theo nhóm đôi và trả lời các câu hỏi sau (giáo viên phát phiếu thảo luận đã viết sẵn nội dung câu hỏi) (Trang 15)
+ Giáo viên cho học sinh quan sát hình 4 (chợ Bến Thành) và sân bay Tân Sơn Nhất (nếu có) và giảng giải: Hoạt động thương mại của thành phố rất phát triển với nhiều chợ và siêu thị lớn - Dạy học địa lí theo hướng phát triển năng lực phẩm chất lớp 4
i áo viên cho học sinh quan sát hình 4 (chợ Bến Thành) và sân bay Tân Sơn Nhất (nếu có) và giảng giải: Hoạt động thương mại của thành phố rất phát triển với nhiều chợ và siêu thị lớn (Trang 16)
 Có thể sử dụng linh hoạt các hình vẽ, màu sắc theo cách hiểu của bản thân. - Dạy học địa lí theo hướng phát triển năng lực phẩm chất lớp 4
th ể sử dụng linh hoạt các hình vẽ, màu sắc theo cách hiểu của bản thân (Trang 18)
Để dạy học Địa lí theo hướng hình thành và phát triển năng lực cho học sinh cần có các điều kiện sau: - Dạy học địa lí theo hướng phát triển năng lực phẩm chất lớp 4
d ạy học Địa lí theo hướng hình thành và phát triển năng lực cho học sinh cần có các điều kiện sau: (Trang 34)
- Giáo viên chốt và ghi bảng: Hà Nội rất thuận lợi cho việc giao lưu với các địa phương trong nước và trên thế giới. - Dạy học địa lí theo hướng phát triển năng lực phẩm chất lớp 4
i áo viên chốt và ghi bảng: Hà Nội rất thuận lợi cho việc giao lưu với các địa phương trong nước và trên thế giới (Trang 39)
màn hình và một số hiểu biết của em hãy lấy dẫn chứng Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học và kinh tế của cả nước. - Dạy học địa lí theo hướng phát triển năng lực phẩm chất lớp 4
m àn hình và một số hiểu biết của em hãy lấy dẫn chứng Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học và kinh tế của cả nước (Trang 41)
Hình 6, 7 Có nhiều trường đại học như Văn Miếu – Quốc Tử Giám, ĐHSP Hà  Nội, ĐH Bách Khoa, viện nghiên cứu, bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, thư viện Tạ Quang Bửu… - Dạy học địa lí theo hướng phát triển năng lực phẩm chất lớp 4
Hình 6 7 Có nhiều trường đại học như Văn Miếu – Quốc Tử Giám, ĐHSP Hà Nội, ĐH Bách Khoa, viện nghiên cứu, bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng lịch sử Việt Nam, thư viện Tạ Quang Bửu… (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w