Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành một cấu trúc tương đối trọn vẹn. Theo J.Piaget, cấu trúc thao tác là cấu trúc có dạng cấu trúc nhóm trong toán học, thỏa mãn 4 điều kiện: 1. Thao tác thuận: a + b = c 2. Thao tác ngược: c b = a 3. Thao tác đồng nhất: a + 0 = a 4. Tính kết hợp của các thao tác: (a + b) + c= a + ( b + c) Thao tác phân tích và tổng hợp: Học sinh có thể phân tích đối tượng mà không cần đến những hành động trực tiếp với đối tượng. Các em đã có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ và sắp xếp chúng vào một hệ thống nhất định. Tuy nhiên học sinh vẫn rất khó khăn khi tiến hành tổng hợp. Về điều này H.Vallon cũng đã từng nói: trẻ dường như có khả năng chia cái toàn thể ra từng bộ phận hơn là thống nhất chúng tạo ra tổ hợp mới. Thao tác so sánh: Học sinh đã biết tìm sự giống nhau và khác nhau khi so sánh các đối tượng, nhưng các em thường hoặc là chỉ tìm thấy sự giống nhau ở những đối tượng đã quen thuộc hoặc là chỉ tìm thấy sự khác nhau ở những đối tượng mới lạ, rất hiếm khi cùng một lúc các em vừa tìm thấy cái giống nhau và cái khác nhau. Thao tác trừu tượng hóa và khái quát hóa: Học sinh đã vận dụng tri thức phân tích đối tượng để tách các dấu hiệu bản chất ra khỏi các dấu hiệu không bản chất của đối tượng để khái quát thành khái niệm. Nhờ có khả năng nhìn ra và tách được các dấu hiệu bản chất của đối tượng, học sinh cuối cấp tiểu học đã biết xếp bậc khái niệm, phân biệt những khái niệm rộng hơn và hẹp hơn, tìm ra những mối liên hệ giữa các khái niệm. Trên cơ sở này, học sinh biết phân loại và phân hạng trong nhận thức. Đó là khả năng phân chia các cá thể vào các lớp căn cứ vào dấu hiệu chung cũng như sự biến thiên của các dấu hiệu, dựa vào các dấu hiệu bản chất của đối tượng để khái quát thành khái niệm. Phán đoán và suy luận: học sinh dựa vào các dấu hiệu bản chất và không bản chất để phán đoán nên phán đoán có tính giả định. Hơn thế nữa, học sinh có thể chứng minh, lập luận cho phán đoán của mình. Khi suy luận, học sinh đã dựa trên các tài liệu bằng ngôn ngữ và trừu tượng hơn. Song việc suy luận của các em sẽ dễ dàng hơn nếu có được tài liệu trực quan làm chỗ dựa. Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học nêu trên chỉ có ý nghĩa tương đối, trong quá trình học tập ở nhà trường, tùy thuộc vào nội dung, phương pháp và phương thức tổ chức cho các em thực hiện hoạt động học mà tư duy của các em phát triển, cũng có phần khác nhau. Nhiều công trình nghiên cứu ở Nga và ở Việt Nam đã xác định rằng khi nội dung dạy học và phương pháp dạy thay dổi phù hợp thì học sinh tiểu học có thể đạt được trình tư duy cao hơn, có được một số đặc điểm của tư duy khoa học. 27 2.1.5. Tưởng tượng của học sinh tiểu học Tưởng tượng của học sinh là một quá trình nhận thức nhờ đó các em phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của mình bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có. Đặc điểm tưởng tượng của học sinh tiểu học: Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ em tuổi mẫu giáo, đặc biệt là tính có chủ định tăng lên rõ rệt. Nó dược hình thành và phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác của các em. Khuynh hướng chủ yếu trong sự phát triển của tưởng tượng ở học sinh tiểu học là tiến dần đến phản ánh một cách đúng đắn và đầy đủ hiện thực khách quan trên cơ sở những tri thức tương ứng. Tưởng tượng của học sinh đầu tiểu học còn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi chưa bền vững, học sinh chỉ lặp lại hoặc thay đổi chút ít về kich thước, về hình dạng các biểu tượng đã tri giác được, ví dụ như các em lớp một thường vẽ người ném hòn đá có tay to hơn chân. Học sinh cuối cấp tiểu học, tưởng tượng của các em gắn với hiện thực hơn. Sở dĩ như vậy là vì các em đã có kinh nghiệm phong phú hơn, đã lĩnh hội được tri thức khoa học từ quá trình học tập. Các em đã có khả năng nhào nặn, gọt rũa những biểu tượng cũ để sáng tạo ra những biểu tượng mới. Học sinh đã biết dựa vào ngôn ngữ, tư duy để xây dựng biểu tượng mang tính khái quát và trừu tượng hơn. Các công trình nghiên cứu cho thấy rằng, tưởng tượng tái tạo của học sinh tiểu học hoàn thiện gắn liền với những biểu tượng đã được tri giác trước hoặc tạo ra những biểu tượng phù hợp với điều mô tả, sơ đồ, hình vẽ ... Các hình ảnh của tưởng tượng dần dần trở nên hiện thực hơn, phản ánh đúng đắn hơn nội dung của các môn học, nội dung của câu chuyện các em đã học được, không còn bị đứt đoạn, tản mạn mà hợp nhất thành một hệ thống. Tưởng tượng sáng tạo được hình thành và phát triển mạnh. Trong dạy học ở Tiểu học, giáo viên cần hình thành cho học sinh biểu tượng thông qua sự mô tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ của mình, điều này cũng được xem như là phương tiện trực quan trong dạy học. 2.2. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học 2.2.1. Nhu cầu của học sinh tiểu học Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu của học sinh về việc tìm tòi, tiếp thu nhũng tri thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như cách thức tiếp cận chúng mà chưa từng có trong kinh nghiệm của học sinh. Đặc điểm nhu cầu của học sinh tiểu học: 28 Ở học sinh tiểu học, tuy vẫn tồn tại một loạt nhu cầu từng là đặc trưng cho lứa tuổi trước, như nhu cầu vui chơi, nhu cầu vận động, nhu cầu về những ấn tượng bên ngoài,... song những nhu cầu này đã có những nét mới trong nội dung cũng như cách thức thỏa mãn chúng. Chẳng hạn, nội dung các trò chơi đã gắn với hoạt động học tập, như viết, vẽ, tính toán ...;sự thỏa mãn nhu cầu vận động thường gắn liền với các trò chơi có cường độ vận động mạnh trong các giờ ra chơi; nhu cầu về ấn tượng bên ngoài được chuyển dần thành nhu cầu nhận thức. Xuất hiện các nhu cầu mới liên quan đến cuộc sống nhà trường và hoạt động học tập, như: nhu cầu thực hiện chính xác các yêu cầu của giáo viên; nhu cầu chiếm lĩnh những điều mới mẻ; nhu cầu đến trường với sự hoàn thành các bài tập được giao; nhu cầu về điểm tốt; nhu cầu về sự hài lòng của người lớn (nhất là các thầy cô giáo và bố mẹ); nhu cầu trở thành học sinh giỏi, ngoan; nhu cầu được giao tiếp thường xuyên với giáo viên, với bạn; nhu cầu trở thành đội viên Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh; nhu cầu đảm nhận một trọng trách của tập thể, xã hội,...
Trang 1- Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành một cấu trúc tương đối trọn vẹn Theo J.Piaget, cấu trúc thao tác là cấu trúc có dạng cấu trúc nhóm trong toán học, thỏa mãn 4 điều kiện:
1 Thao tác thuận: a + b = c
2 Thao tác ngược: c - b = a
3 Thao tác đồng nhất: a + 0 = a
4 Tính kết hợp của các thao tác: (a + b) + c= a + ( b + c)
Thao tác phân tích và tổng hợp: Học sinh có thể phân tích đối tượng mà không cần đến những hành động trực tiếp với đối tượng Các em đã có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ và sắp xếp chúng vào một hệ thống nhất định Tuy nhiên học sinh vẫn rất khó khăn khi tiến hành tổng hợp Về điều này H.Vallon cũng đã từng nói: trẻ dường như có khả năng chia cái toàn thể ra từng bộ phận hơn là thống nhất chúng tạo ra tổ hợp mới
Thao tác so sánh: Học sinh đã biết tìm sự giống nhau và khác nhau khi so sánh các đối tượng, nhưng các em thường hoặc là chỉ tìm thấy sự giống nhau ở những đối tượng đã quen thuộc hoặc là chỉ tìm thấy sự khác nhau ở những đối tượng mới lạ, rất hiếm khi cùng một lúc các em vừa tìm thấy cái giống nhau và cái khác nhau
Thao tác trừu tượng hóa và khái quát hóa: Học sinh đã vận dụng tri thức phân tích đối tượng để tách các dấu hiệu bản chất ra khỏi các dấu hiệu không bản chất của đối tượng để khái quát thành khái niệm Nhờ có khả năng nhìn ra và tách được các dấu hiệu bản chất của đối tượng, học sinh cuối cấp tiểu học đã biết xếp bậc khái niệm, phân biệt những khái niệm rộng hơn và hẹp hơn, tìm ra những mối liên hệ giữa các khái niệm Trên cơ sở này, học sinh biết phân loại và phân hạng trong nhận thức Đó là khả năng phân chia các cá thể vào các lớp căn cứ vào dấu hiệu chung cũng như sự biến thiên của các dấu hiệu, dựa vào các dấu hiệu bản chất của đối tượng để khái quát thành khái niệm
- Phán đoán và suy luận: học sinh dựa vào các dấu hiệu bản chất và không bản chất để phán đoán nên phán đoán có tính giả định Hơn thế nữa, học sinh có thể chứng minh, lập luận cho phán đoán của mình Khi suy luận, học sinh đã dựa trên các tài liệu bằng ngôn ngữ và trừu tượng hơn Song việc suy luận của các em sẽ dễ dàng hơn nếu
có được tài liệu trực quan làm chỗ dựa
Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học nêu trên chỉ có ý nghĩa tương đối, trong quá trình học tập ở nhà trường, tùy thuộc vào nội dung, phương pháp và phương thức
tổ chức cho các em thực hiện hoạt động học mà tư duy của các em phát triển, cũng có phần khác nhau Nhiều công trình nghiên cứu ở Nga và ở Việt Nam đã xác định rằng khi nội dung dạy học và phương pháp dạy thay dổi phù hợp thì học sinh tiểu học có thể đạt được trình tư duy cao hơn, có được một số đặc điểm của tư duy khoa học
Trang 22.1.5 Tưởng tượng của học sinh tiểu học
Tưởng tượng của học sinh là một quá trình nhận thức nhờ đó các em phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của mình bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có
Đặc điểm tưởng tượng của học sinh tiểu học:
- Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ em tuổi mẫu giáo, đặc biệt là tính có chủ định tăng lên rõ rệt Nó dược hình thành và phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác của các em Khuynh hướng chủ yếu trong sự phát triển của tưởng tượng ở học sinh tiểu học là tiến dần đến phản ánh một cách đúng đắn và đầy đủ hiện thực khách quan trên cơ sở những tri thức tương ứng
- Tưởng tượng của học sinh đầu tiểu học còn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi chưa bền vững, học sinh chỉ lặp lại hoặc thay đổi chút ít về kich thước, về hình dạng các biểu tượng đã tri giác được, ví dụ như các
em lớp một thường vẽ người ném hòn đá có tay to hơn chân Học sinh cuối cấp tiểu học, tưởng tượng của các em gắn với hiện thực hơn Sở dĩ như vậy là vì các em đã có kinh nghiệm phong phú hơn, đã lĩnh hội được tri thức khoa học từ quá trình học tập Các em
đã có khả năng nhào nặn, gọt rũa những biểu tượng cũ để sáng tạo ra những biểu tượng mới Học sinh đã biết dựa vào ngôn ngữ, tư duy để xây dựng biểu tượng mang tính khái quát và trừu tượng hơn
Các công trình nghiên cứu cho thấy rằng, tưởng tượng tái tạo của học sinh tiểu học hoàn thiện gắn liền với những biểu tượng đã được tri giác trước hoặc tạo ra những biểu tượng phù hợp với điều mô tả, sơ đồ, hình vẽ Các hình ảnh của tưởng tượng dần dần trở nên hiện thực hơn, phản ánh đúng đắn hơn nội dung của các môn học, nội dung của câu chuyện các em đã học được, không còn bị đứt đoạn, tản mạn mà hợp nhất thành một hệ thống Tưởng tượng sáng tạo được hình thành và phát triển mạnh
Trong dạy học ở Tiểu học, giáo viên cần hình thành cho học sinh biểu tượng thông qua sự mô tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ của mình, điều này cũng được xem như là phương tiện trực quan trong dạy học
2.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học
2.2.1 Nhu cầu của học sinh tiểu học
Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu của học sinh về việc tìm tòi, tiếp thu nhũng tri thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như cách thức tiếp cận chúng mà chưa từng có trong kinh nghiệm của học sinh
Đặc điểm nhu cầu của học sinh tiểu học:
Trang 3- Ở học sinh tiểu học, tuy vẫn tồn tại một loạt nhu cầu từng là đặc trưng cho lứa tuổi trước, như nhu cầu vui chơi, nhu cầu vận động, nhu cầu về những ấn tượng bên ngoài, song những nhu cầu này đã có những nét mới trong nội dung cũng như cách thức thỏa mãn chúng Chẳng hạn, nội dung các trò chơi đã gắn với hoạt động học tập, như viết, vẽ, tính toán ;sự thỏa mãn nhu cầu vận động thường gắn liền với các trò chơi
có cường độ vận động mạnh trong các giờ ra chơi; nhu cầu về ấn tượng bên ngoài được chuyển dần thành nhu cầu nhận thức
- Xuất hiện các nhu cầu mới liên quan đến cuộc sống nhà trường và hoạt động học tập, như: nhu cầu thực hiện chính xác các yêu cầu của giáo viên; nhu cầu chiếm lĩnh những điều mới mẻ; nhu cầu đến trường với sự hoàn thành các bài tập được giao; nhu cầu về điểm tốt; nhu cầu về sự hài lòng của người lớn (nhất là các thầy cô giáo và bố mẹ); nhu cầu trở thành học sinh giỏi, ngoan; nhu cầu được giao tiếp thường xuyên với giáo viên, với bạn; nhu cầu trở thành đội viên Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh; nhu cầu đảm nhận một trọng trách của tập thể, xã hội,
- Trong các nhu cầu của học sinh tiểu học, nhu cầu nhận thức giữ vai trò chủ đạo Nhu cầu nhận thức là một thành tố cơ bản của động cơ nhận thức Nếu không có nhu cầu nhận thức thì học sinh sẽ không có tính tích cực trí tuệ Sự hình thành và phát triển nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học được chia làm hai gia đoạn:
+ Học sinh đầu tiểu học có nhu cầu tìm hiểu những sự vật, hiện tượng riêng lẻ, nghĩa là có nhu cầu tìm hiểu “cái này là cái gì”
+ Học sinh cuối cấp tiểu học có nhu cầu tìm hiểu các nguyên nhân, qui luật, các mối quan hệ và quan hệ phụ thuộc giữ các sự vật, hiện tượng, nghĩa là có nhu cầu trả lời các câu hỏi thuộc loại “ tại sao”, “như thế nào”
Nếu nhu cầu nhận thức không được hình thành thì học sinh nghĩ rằng mình học
vì cha mẹ, vì giáo viên hay vì cái gì đó chứ không phải vì sự tiến bộ trong học tập Đối với những học sinh này, dù giáo viên có áp dụng những biện pháp bắt buộc, trừng phạt hay gì đó thì cũng khó làm cho các em chăm chỉ học tập mà chỉ làm cho các em tìm biện pháp đối phó Thường thì nhu cầu nhận thức, nhu cầu được học là nhu cầu tự nhiên của trẻ em, nhưng nhu cầu này có thể bị ức chế, bị dập tắt từ chính việc học của các em Nguyên nhân đó là:
+ Nội dung và phương pháp không phù hợp với tâm sinh lí trẻ em, làm cho việc học của các trở nên nặng nề, quá tải, càng học trẻ càng thấy mệt mỏi, chán nản
+ Trong quá trình học tập một số học sinh không nhận được sự quan tâm từ phía giáo viên, đặc biệt là khi các em gặp khó khăn dẫn đến không đạt kết quả (thường
bị điểm kém, thường bị chê bai, thường không theo kịp bạn bè)
+ Điều kiện học tập quá thiếu thốn khiến cho việc dạy và học trở nên nhọc nhằn, khó đạt kết quả và rất kém hiệu quả, cũng không nuôi dưỡng được nhu cầu học tập của học sinh, đồng thời dẫn đến tình trạng học sinh không còn tin vào khả năng học tập của mình
- Nhu cầu của học sinh phát triển mạnh theo các hướng: các nhu cầu tinh thần ngày càng chiếm ưu thế hơn so các các nhu cầu vật chất và các nhu cầu càng ngày
Trang 4càng mang tính xã hội cũng như tính được nhận thức Trong sự phát triển này, hoạt động của trẻ trong tập thể có một vai trò rất lớn
- Hứng thú của học sinh tiểu học ngày càng bộc lộ và phát triển rõ rệt, đặc biệt
là hứng thú nhận thức, hứng thú tìm hiểu thế giới xung quanh, các em thể hiện tính tò
mò, ham hiểu biết, thích đọc sách.Trong học tập, các em thường hứng thú với quá trính học, với các hình thức hấp dẫn của bài học, hơn là hứng thú chuyên biệt với nội dung môn học Trong vui chơi, học sinh thường hứng thú với những hoạt động sinh động, giàu tưởng tượng, luôn vận động; với những hoạt động tập thể, có qui tắc, đòi hỏi sự cố gắng, sự khéo léo nhất định Hứng thú đọc sách của các em thường hướng tới sách văn học và sách khoa học vui, đặc biệt là sách có nhân vật nổi bật, có tranh minh họa Sự phát triển hứng thú, nhất là hứng thú nhận thức của học sinh tiểu học phụ thuộc trực tiếp vào việc tổ chức các hoạt động của các em, đặc biệt là hoạt động học tập 2.2.2 Tình cảm của học sinh tiểu học
Tình cảm của học sinh là những thái độ ổn định thể hiện sự rung cảm của học sinh đối với học tập, các dạng hoạt động khác, với người khác và bản thân mình
Đặc điểm tình cảm của học sinh tiểu học:
- Tình cảm của học sinh mang tính cụ thể, trực tiếp Đối tượng gây cảm xúc cho các em thường là những sự vật, hiện tượng, việc làm, con người cụ thể, sinh động mà học sinh đã nhìn thấy hoặc đã tiếp xúc Nhìn chung, học sinh tiểu học dễ bị kích thich bởi hệ thống tín hiệu thứ nhất (sự vật, hiện tượng với các thuộc tính của nó) hơn là hệ thống tín hiệu thứ hai (tiếng nói, chữ viết)
- Học sinh tiểu học dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm của mình Tính dễ xúc cảm được thể hiện trước hết qua các quá trình nhận thức: quá trình tri giác, tưởng tượng, tư duy Hoạt động trí tuệ của các em đượm màu sắc xúc cảm, tư duy của các em (đặc biệt là học sinh lớp một, lớp hai) cũng đượm màu sắc xúc cảm
Cụ thể: khi các em tập trung suy nghĩ làm bài thường thấy nét mặt của các em tươi vui khi giải quyết được vấn đề, nhưng lại cau có khó chịu nếu gặp khó khăn Nhìn chung, các quá trình nhận thức, hoạt động của học sinh tiểu học đều chịu sự chi phối mạnh mẽ của cảm xúc và đều đượm màu sắc cảm xúc
Học sinh tiểu học dễ xúc động: các em yêu mến một cách chân thực đối với cây cối, chim nuông, cảnh vật, những con vật nuôi trong nhà Vì thế mà trong các bài văn, trong vui chơi các em thường nhân cách hóa chúng Đặc biệt, trước những lời khen, chê của giáo viên thì học sinh bộc lộ ngay sự xúc cảm, xúc động của mình như vui, buồn, các em cười đấy nhưng có thể khóc ngay, buồn đấy nhưng rồi cũng vui đùa ngay
Học sinh tiểu học chưa biết kiềm chế tình cảm của mình, chưa biết kiểm tra sự biểu hiện tình cảm ra bên ngoài, các em bộc lộ tình cảm của mình một cách hồn nhiên, chân thật và nhiều khi vụng về, thiếu tinh tế
Trang 5Nguyên nhân của những hiện tượng trên là do ở lứa tuổi này, quá trình hưng phấn còn mạnh hơn ức chế, vỏ não chưa đủ sức thường xuyên điều chỉnh hoạt động của bộ phận dưới vỏ não Về mặt tâm lí thì ý thức, các phẩm chất ý chí của các em còn chưa có khả năng điều khiển và điều chỉnh được những xúc cảm của mình
- Tình cảm của học sinh tiểu học chưa bền vững, chưa sâu sắc Đặc điểm này được biểu hiện:
Học sinh đang ưa thích đối tượng này, nhưng nếu có đối tượng khác hấp dẫn hơn, đặc biệt hơn thì dễ dàng bị lôi cuốn vào đó và lãng quên đối tượng cũ Đặc điểm này tạo cho các em nhanh chóng thiết lập tình bạn: cho nhau cái kẹo, viên phấn, cho mượn quyển sách, cây bút, đi về cùng lối là thành tình bạn Nhưng chỉ một vài trục trặc nho nhỏ trong quan hệ là dễ bất hòa; tuy nhiên tất cả những bất hòa này đều nhanh chóng quên đi và lại làm lành với nhau một cách hồn nhiên
2.2.3 Tính cách của học sinh tiểu học
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, điều dễ nhận thấy trong tính cách của các em là tính rung động trong hành vi, tức là khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới tác động của các kích thích bên trong và bên ngoài mà không kịp suy nghĩ, cân nhắc Điều này được quy định, trước hết, bởi sự điều chỉnh của ý chí đối với hành vi ở các em còn yếu Sau nữa, tuổi của các em là tuổi sẵn sàng hứng thú tiếp nhận các kiến thức, kĩ năng,
kĩ xảo mới Đó cũng là điều kiện tạo nên sự nhạy cảm và dễ gây ấn tượng cho trẻ Vì vậy, tất cả những gì tác động đến trẻ đều có thể khơi dậy ở trẻ em một phản ứng nhanh chóng Đặc điểm này đã khiến cho hành vi của các em dễ mang tính tự phát Cho nên, chẳng có gì ngạc nhiên khi học sinh tiểu học không đủ kiên nhẫn nghe bạn trả lời, nhất là khi câu trả lới không đúng và thường xuyên muốn tự trả lời khi chưa được phép của giáo viên , Một điều nữa cũng rất dễ nhìn thấy tính cách của học sinh tiểu học là
sự cả tin.Trẻ tin tưởng một cách tuyệt đối vào người lớn, sách vở và cả bản thân mình Với trẻ, mọi điều ở người lớn (nhất là thầy cô giáo) nói ra đều đúng và chuẩn mực Vì thế, trẻ thực hiện các yêu cầu và nghe theo lời đánh giá của giáo viên một cách vô điều kiện, đến nỗi các em đều trở thành những “người chấp hành” Tất nhiên, niềm tin này còn cảm tính, chưa có lí trí soi sáng Giáo viên nên tận dụng niềm tin này để giáo dục trẻ em Muốn vậy, thầy cô giáo phải có một tấm gương sáng, lời nói phải đi đôi với việc làm Nhiệm vụ của nhà trường và gia đình là giúp các em dần dần hết “ngây” đi nhưng vẫn giữ được chất “thơ”
Trẻ cũng rất hồn nhiên, với các em, không có gì là phức tạp, khó khăn Các em tin rằng sẽ làm được mọi điều mình muốn Vì vậy, khi được hỏi “Lớn lên cháu sẽ làm gì?”, các em đã trả lời một cách dứt khoát và nhanh chóng “Cháu sẽ là họa sĩ”, “Cháu
sẽ là phi công”,
Tính hay bắt chước cũng là đặc điểm quan trọng của học sinh tiểu học Trẻ thích bắt chước người lớn, bạn bè cũng như các nhân vật trong phim, trong sách, Chính điều này đã dẫn đến một nhận định không hoàn toàn đúng khi cho rằng
Trang 6bắt chước là nguồn gốc của mọi sự thành công ở trẻ Thực ra, bắt chước là “con dao” hai lưỡi Trẻ bắt chước cả cái tốt lẫn cái xấu Cho nên, cần phải xem tính bắt chước như là một điều kiện thuận lợi cho việc giáo dục trẻ bằng những tấm gương cụ thể, nhưng cũng cần chú ý để ngăn chặn những sự bắt chước tiêu cực
Ngoài ra, phần lớn học sinh tiểu học có những nét tính cách tốt, như lòng vị tha, tính ham hiểu biết, tính chân thật, Tuy nhiên, trong tính cách học sinh tiểu học cũng thường gặp những thiếu sót, như: bướng bỉnh và thất thường Đây là hình thức độc đáo phản ứng lại những yêu cầu cứng nhắc của người lớn để chống lại sự cần thiết phải hi sinh “cái trẻ muốn” cho “cái trẻ phải”
Học sinh tiểu học Việt Nam sớm có thái độ và thói quen tốt đối với lao động Các em ở nông thôn đều muốn giúp cha mẹ trong lao động của gia đình, muốn lao động trong tập thể đông vui và có ý nghĩa xã hội Lao động đã rèn cho các em những phẩm chất tốt đẹp như tính kỉ luật, sự cần cù, óc tìm tòi, khả năng sảng tạo Song một
số trường do lao động không được tổ chức một cách chặt chẽ, không vừa sức, lại không hướng dẫn ít hiệu quả, Cho nên, một số không ít học sinh còn có thái độ tiêu cực đối với lao động như lười biếng, cẩu thả, tùy tiện, Nếu ở gia đình, ngoài học tập cha mẹ không tập cho con cái lao động thì lớn lên trẻ sẽ lười biếng, thiếu trách nhiệm, ích kỉ, quen hưởng thụ, Nhà trường nên phát huy vai trò của mình tổ chức hoạt động lao động của học sinh một cách có sáng kiến và thường xuyên Nên khuyến khích học sinh tham gia lao động công ích như làm vệ sinh đường phố, giúp các gia đình thương binh, liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng,
2.2.4 Ý chí của học sinh tiểu học
Ở học sinh tiểu học, tình cảm giữ vai trò quan trọng trong các hành động ý chí của các em, đến nỗi trong nhiều trường hợp, nó trở thành động cơ của hành vi, của hoạt động Vì thế, ở lứa tuổi này, sự phát triển của ý chí và tình cảm diễn ra trong sự tác động lẫn nhau không ngừng Trong những trường hợp này tình cảm thúc đẩy sự phát triển của ý chí Trong những trường hợp khác, ngược lại, tình cảm kìm hãm sự phát triển của ý chí Chẳng hạn, sự phát triển mạnh của tình cảm trách nhiệm đã trở thành động cơ các hành động ý chí của học sinh các lớp cuối tiểu học Lúc đầu, những thôi thúc tình cảm này được qui định bởi các động cơ cá nhân Cho nên, học sinh lớp
1, lớp 2, khi được hỏi “Tại sao cháu không đi chơi?”, thường có câu trả lời “sợ mẹ mắng”, “phải học bài kẻo mai bị điểm kém”, Nhưng đến lớp 3, tình cảm thôi thúc hành động đã mang tính xã hội hơn “phải học bài kẻo nhận điểm kém ảnh hưởng đến tổ”
Học sinh tiểu học chưa có khả năng tự đặt ra các mục tiêu cho hành động của mình và chưa biết lập chương trình (kế hoạch) của hành động Nên trẻ không thế tập trung sức lực và kiên trì theo đuổi mục đích Vì vậy, các em dễ gặp thất bại và dễ mất lòng tin vào sức lực, khả năng của mình
Trang 7Tính độc lập, kiềm chế và tự chủ còn thấp, nên học sinh tiểu học, nhất là các em
ở các lớp đầu tiểu học, chưa thể độc lập hoàn toàn trong hành động mà còn trông chờ nhiều vào sự giúp đỡ của người khác
Tính bột phát ngẫu nhiên vẫn còn trong các hành động ý chí của học sinh tiểu học, nên các em dễ bắt chước hành động của người khác
Mức độ phát triển ý chí của trẻ phụ thuộc vào việc tổ chức hoạt động của trẻ như thế nào, đặc biệt là hoạt động học tập Điều quan trọng nhất ở đây là làm sao để học sinh nhìn thấy rõ mục đích hành động của mình Bởi sự tập trung của ý chí phụ thuộc vào mức độ rõ ràng của mục đích đã định Hơn nữa, nếu mục đích quá xa, quá khó quá
dễ đều khêu gợi những cảm xúc tiêu cực của trẻ, khiến các em từ chối sự tập trung sức lực Vì vậy, phải giúp trẻ xác định được mục đích có độ khó tương ứng với sức lực, khả năng của các em Ngoài ra, một điều kiện khác đảm bảo cho việc thể hiện các phẩm chất
ý chí của trẻ là trẻ phải biết được tiến trình đi đến mục đích và trẻ phải ý thức được cách thức đạt được mục đích Chẳng hạn, khi giao cho trẻ bài tập về nhà là đọc và kể lại bài đọc, nhưng giáo viên không giải thích đọc như thế thì học sinh phải cố gắng nhớ máy móc và bài đọc quá dài nên trẻ mất lòng tin vào sức lực của mình Còn nếu giáo viên chỉ rõ cách thức làm việc với bài đọc, học sinh sẽ nhanh chóng vượt qua mọi khó khăn để đạt được mục đích đã định Trong các hành động được ý thức như thế, ý chí
sẽ được phát triển
2.2.5 Tự đánh giá của học sinh tiểu học
Tự đánh giá là quá trình học sinh tiến hành thu thập, xử lí thông tin về chính mình, chỉ ra được mức độ tồn tại của những giá trị nhân cách ở bản thân, từ đó có thái
độ, hành vi phù hợp nhằm tự điều chỉnh, tự giáo dục để phát triển và hoàn thiện
Đặc điểm tự đánh giá của học sinh tiểu học:
Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh tiểu học Đó là hoạt động có mục đích, có kết quả, bắt buộc, có chủ định và được xã hội đánh giá, ở học sinh tiểu học biểu tượng về mình và tự đánh giá được hình thành và cùng với chúng là các kĩ xảo
tự kiểm tra, tự điều chỉnh hành động cũng được xuất hiện
Trên cơ sở biểu tượng về bản thân như vậy, học sinh tiểu học đã tiến hành việc
tự đánh giá Học sinh các lớp đầu tiểu học thường đánh giá, hành vi, việc làm cụ thể của mình chứ chưa thể đánh giá nhân cách của mình Học sinh các lớp cuối tiểu học đã
có thể đánh giá khả năng và các phẩm chất tâm lí của mình Sau nữa, sự phát triển của
kĩ năng tự đánh giá Nếu học sinh các lớp đầu tiểu học tự đánh giá phụ thuộc hoàn toàn vào đánh giá và hành vi của người lớn thì học sinh các lớp cuối tiểu học, tự đánh giá mình một cách độc lập và bền vững, tự đánh giá bắt đầu thực hiện chức năng làm động
cơ hoạt động cho trẻ
Nghiên cứu của các nhà tâm lí học Việt Nam cho thấy rằng, tự đánh giá của học sinh các lớp cuối tiểu học vẫn phụ thuộc khá nhiều vào nội dung và chuẩn đánh giá Những gì cụ thể, gần giũ với các em thì các em thường tự đánh giá một cách tự tin và
Trang 8mạnh dạn hơn Ngược lại, những nội dung trừu tượng (năng lực học tập, vị thế trong tập thể, khả năng nhận thức ) thường được các em tự đánh giá một cách dè dặt, thận trọng
và khiêm tốn hơn Tự đánh giá của các em chưa thật khách quan và phù hợp, các em thường đánh giá bản thân cao hơn so với hiện thực (chênh lệch khá cao so với kết quả hoạt động cụ thể cũng như so với đánh giá của giáo viên, bạn bè, cha mẹ) Tính ổn định trong sự đánh giá của các em cũng chưa cao và có mối liên hệ chặt chẽ với trình độ học lực
2.2.6 Năng khiếu của học sinh tiểu học
Năng khiếu là dấu hiệu phát triển sớm ở trẻ về một tài năng nào đó khi trẻ chưa được tiếp xúc một cách có hệ thống trong lĩnh vực hoạt động tương ứng
Học sinh có năng khiếu là những trẻ em dễ dàng thàng công và có thành tích khác thường về một loại hình hoạt động cụ thể nào đó Thường thì học sinh nào cũng có khả năng ở một mức độ nhất định (như khả năng học tập, khả năng lao động ), nhưng học sinh có năng khiếu về một lĩnh vực nào đó thì không nhiều Năng khiếu được bộc lộ sớm và phát triển rất nhanh ở lĩnh vực nào đó, như thơ ca, hội họa, cờ vua, cờ tướng, thể thao hoặc lĩnh vực cụ thể nào đó thuộc khoa học tự nhiên và kĩ thuật
Phát hiện năng khiếu là công việc phức tạp, khó khăn và còn nhiều bí ẩn Trên thế giới đã có nhiều bộ trắc nghiệm để phát hiện năng khiếu Nhưng đó không phải là phương pháp duy nhất để phát hiện năng khiếu.Vì muốn tìm được trẻ có tư chất phải tiến hành “đo” nó ở cấp độ quá trình chứ không phải căn cứ vào kết quả phép thử Điều quan trọng là phát hiện học sinh có năng khiếu phải thông qua hoạt động mà các
em là chủ thể Về phương diện này, đội ngũ giáo viên tiểu học có khả năng rất to lớn
Vì họ là người tiếp xúc hàng ngày với các em, là người tổ chức cho các em hoạt động
và đánh giá kết quả hoạt động của các em Nhà sư phạm có vai trò quan trọng trong việc phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu Vì học sinh có năng khiếu có thể trở thành tài năng, nếu các em gặp được người thầy biết cách dạy dỗ và người thầy đó xuất hiện đúng lúc
Trang 9NỘI DUNG THẢO LUẬN
1 Phân tích mối quan hệ giữa các quá trình nhận thức của học sinh tiểu học Tại sao đặc điểm các quá trình nhận thức của học sinh tiểu học chỉ có ý nghĩa tương đối?
2 Tại sao nhân cách của học sinh tiểu học là nhân cách đang được hình thành? Phân tích biểu hiện đặc trưng của nhân cách học sinh tiểu học là tính hồn nhiên, là khả năng phát triển
BÀI TẬP THỰC HÀNH Bài tập 1 Lấy các ví dụ và phân tích để làm rõ ảnh hưởng của hoạt động học tập đối với sự phát triển các quá trình nhận thức của học sinh tiểu học
Bài tập 2 Thiết kế các bài tập đo đặc điểm tư duy và trí nhớ của học sinh tiểu học
Bài tập 3 Người ta đưa ra cho học sinh một số mệnh đề, mỗi mệnh đề tuân theo một số quy tắc ngữ pháp nhất định và yêu cầu học sinh hãy xác định xem mỗi mệnh
đề phù hợp với quy tắc ngữ pháp nào Sau đó học sinh phải tự mình đưa ra những
ví dụ theo những quy tắc ngữ pháp đó Người ta không yêu cầu học sinh phải ghi nhớ các mệnh đề đó, nhưng ngày hôm sau lại bất ngờ yêu cầu học sinh phải nhớ lại các mệnh
đề mà họ đã đưa ra và những mệnh đề mà học sinh đã tự nghĩ ra
Theo bạn, học sinh nhớ những mệnh đề nào tốt hơn? Tại sao? Có thể rút
ra kết luận thực tiễn nào từ nghiên cứu trên?
Bài tập 4 Một ô tô phải đi từ A đến B Sau khi đi được 1 giờ thì ô tô giảm vận tốc chỉ còn bằng 3/5 vận tốc ban đầu, vì thế ô tô đến B chậm mất 2 giờ Nếu từ A, sau khi đi được 1 giờ, ô tô đi thêm 50 km nữa rồi mới giảm vận tốc thì ô tô đến B chỉ chậm
1 giờ 20 phút Tính quãng đường AB
Hướng dẫn học sinh thực hiện các thao tác tư duy để giải quyết bài tập trên
Bài tập 5 Hãy đề xuất và phân tích một biện pháp góp phần giáo dục tình cảm trí tuệ cho học sinh tiểu học
Bài tập 6 Lấy ví dụ và phân tích để làm rõ sự phụ thuộc lẫn nhau giữa tình cảm và ý chí trong các hành động của học sinh đầu tiểu học
Trang 10CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Phân tích các đặc điểm chú ý của học sinh tiểu học Vì sao người giáo viên tiểu học cần phải quan tâm đến việc hình thành và phát triển chú ý có chủ định cho học sinh tiểu học?
2 Phân tích các đặc điểm tri giác của học sinh tiểu học
3 Phân tích các đặc điểm trí nhớ của học sinh tiểu học.Tại sao người giáo viên cần phải hình thành và phát triển ghi nhớ ý nghĩa cho học sinh tiểu học?
4 Phân tích các đặc điểm của tư duy của học sinh tiểu học.Từ đó, nêu các ứng dụng sư phạm cần thiết
5 Phân tích các đặc điểm tưởng tượng của học sinh tiểu học Theo anh (chị) những môn học nào ở tiểu học có ưu thế đặc biệt đối với sự phát triển trí tưởng tượng của học sinh tiểu học? Vì sao?
6 Phân tích đặc điểm nhu cầu của học sinh tiểu học Tại sao người giáo viên tiểu học cần phải hình thành và phát triển nhu cầu nhận thức cho học sinh?
7 Phân tích đặc điểm tình cảm của học sinh tiểu học.Vì sao người giáo viên tiểu học cần phải quan tâm đến việc giáo dục tình cảm cho học sinh? Để làm được điều đó, giáo viên cần lưu ý những điều gì?
8 Phân tích các đặc điểm tính cách của học sinh tiểu học Phân tích các nét tính cách thường thấy ở học sinh tiểu học để làm rõ tính hồn nhiên của các em
9 Phân tích các đặc điểm ý chí của học sinh tiểu học.Tại sao người giáo viên tiểu học cần phải quan tâm đến việc hình thành và phát triển khả năng thực hiện hành động có mục đích cho học sinh tiểu học?
10 Phân tích các đặc điểm tự đánh giá của học sinh tiểu học.Tại sao người giáo viên tiểu học cần phải quan tâm đến việc hình thành sự tự đánh giá phù hợp, đúng đắn cho học sinh tiểu học?