II-PHẦN NỘI DUNG 1-Khái niệm Địa giới hành chính là Đường ranh giới phân chia các đơn vị hành chínhđược đánh dấu bằng các mốc địa giới, là cơ sở pháp lý phân định phạm vitrách nhiệm của
Trang 1Mã phách:……….(Để trống)
Kiên Giang – 2021
Trang 2MỤC LỤC Nội dung
Mục lục
I-MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu
II-NỘI DUNG
1-Khái niệm
2-Quy định pháp luật về điều chỉnh địa giới hảnh chính
2.1-Nguyên tắc và thẩm quyền điều chỉnh địa giới hành chính
2.2-Một số văn bản quy định về tiêu chuẩn, điều kiện, thủ tục
điều chỉnh địa giới hành chính
3-Lịch sữ địa giới hành chính ở nước ta thời gian qua
III KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 02 03 03 03 03 03 04 04 04 06 06 08
10 11 12 12 13
16 20
22 23 I-PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 31 Lý do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam đã trãi qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước
Để có được những thành quả như hôm nay, Công tác quản lý địa giới hànhchính được thực hiện khá tốt Việc chia tách, sáp nhập các địa phương đượcChính phủ quan tâm chỉ đạo thực hiện đúng theo quy định, phân cấp quản lý.Trong công tác quản lý nhà nước về đất đai thì công tác quản lý địa giới hànhchính là hết sức quan trọng, đây là lĩnh vực mang tính chất chính trị và chiếnlượt trong phát triển kinh tế - xã hội Do tầm quan trọng của nó, việc quản lýđịa giới hành chính là rất quan trọng, cần phải phân tích rõ
Vì vậy bản thân chọn chủ đề: “Trình bày khái quát lịch sử địa giới đơn
vị hành chính của Việt Nam từ năm 1975 đến nay Khái quát về lịch sử đơn
vị hành chính mà Anh (Chị) sinh sống” để nghiên cứu và phân tích.
2 Mục đích và nhiệm vụ nhiên cứu
Qua nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận quản lý địagiới hành chính Khái quát lịch sử địa giới đơn vị hành chính Việt Nam và xãVĩnh Phước A huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là Nhà nước CHXHCN Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là hoạt động quản lý địa giới hành chính, khái quátlịch sử đơn vị hành chính của Việt Nam từ năm 1975 đến nay và lịch sữ địagiới hành chính xã Vĩnh Phước A huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang
Trang 44 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu để nghiên cứu thực hiện đề tài là phương phápnghiên cứu tài liệu và phương pháp phân tích, tổng hợp
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý địa giới hành chính.Nhìn nhận tầm quan trọng của việc quản lý địa giới hành chính, tìm ra những
ưu điểm và khuyết điểm trong công tác quản lý địa giới hành chính Kiến nghịmột số giải pháp đóng góp trong quản lý địa giới hành chính Tạo động lựcphát triển kinh tế - xã hội, an sinh xã hội được phát triển bền vững và chútrọng hơn
II-PHẦN NỘI DUNG
1-Khái niệm
Địa giới hành chính là Đường ranh giới phân chia các đơn vị hành chínhđược đánh dấu bằng các mốc địa giới, là cơ sở pháp lý phân định phạm vitrách nhiệm của bộ máy hành chính nhà nước các cấp trong việc quản lý dân
cư, đất đai, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở địa phương
Mốc địa giới hành chính được cắm ở những nơi dễ thấy trên thực địa vàđược biểu thị đầy đủ trên bản đồ địa giới hành chính
Sự ổn định của địa giới hành chính là một trong những yếu tố cơ bản bảođảm sự ổn định của bộ máy nhà nước Những căn cứ để xác định địa giớihành chính thường là: diện tích đất đai, dân số, các mối quan hệ chính trị,kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, dân tộc, lịch sử, truyền thống,tập quán và tình cảm của dân cư địa phương
Việc điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộcthẩm quyền của Quốc hội; việc điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dướicấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc thẩm quyền của Chính phủ
Trang 5Hiện nay nước ta được chia thành 4 cấp hành chính là: cấp trung ương,cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Giữa các đơn vị hành chính các cấp này đều córanh giới được thực hiện bằng các mốc địa giới có tọa độ của vị trí các mốcđó.
Việc xác định địa giới hành chính được quy định tại Điều 16, Luật Đấtđai 2003 như sau: Chính phủ chỉ đạo việc xác định địa giới hành chính, lập vàquản lý hồ sơ địa giới hành chính các cấp trong phạm vi cả nước Bộ Nội vụquy định về trình tự, thủ tục xác định địa giới hành chính, quản lý mốc địagiới và hồ sơ địa giới hành chính Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về
kỹ thuật và đinh mức kinh tế trong việc cắm mốc địa giới hành chính, lập hồ
sơ địa giới hành chính các cấp Uỷ ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiệnviệc xác định địa giới hành chính trên thực địa, lập hồ sơ địa giới hành chínhtrong phạm vi địa phương
Như vậy, chỉ đạo việc xác định địa giới hành chính, quản lý mốc địa giớihành chính và hồ sơ địa giới hành chính trong toàn quốc (không phân biệt ởcấp nào) là nhiệm vụ của Chính phủ
Chính phủ trực tiếp tổ chức thực hiện việc xác định các mốc địa giớihành chính trên thực địa, lập hồ sơ địa giới hành chính của các tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trungương trực tiếp tổ chức thực hiện việc xác định các mốc địa giới hành chínhtrên thực địa, lập hồ sơ địa giới hành chính của các huyện, quận, thị xã, thànhphố thuộc tỉnh trong địa bàn mình quản lý
Uỷ ban nhân dân các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trực tiếp
tổ chức thực hiện việc xác định các mốc địa giới hành chính trên thực địa, lập
hồ sơ địa giới hành chính của các xã, phường, thị trấn trong địa bàn mìnhquản lý
Trang 6Tuy nhiên, số mốc, trình tự, thủ tục để xác định các mốc địa giới hànhchính trong hồ sơ là do Bộ Nội vụ quy định Đồng thời, Bộ Nội vụ còn quyđịnh về quản lý các mốc địa giới hành chính và hồ sơ địa giới hành chính Bởi
lẽ một mốc địa giới hành chính bao giờ cũng giáp ít nhất 2 đơn vị hành chínhnên phải có quy định cụ thể để một mốc địa giới hành chính chỉ giao cho mộtđơn vị hành chính trực tiếp quản lý Có như vậy mới tránh được tình trạng
"cha chung không ai khóc" tức là một mốc địa giới hành chính do nhiều đơn
vị hành chính cùng quản lý có thể sẽ trở thành không ai quản lý Theo quyđịnh của Bộ Nội vụ về số mốc địa giới hành chính, Bộ Tài nguyên và Môitrường quy định về kỹ thuật để xác định toạ độ các mốc địa giới hành chính
và quy định về định mức kinh tế khi thực hiện xác định các mốc đó và lập hồ
sơ địa giới hành chính
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh”, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, đưa nước ta cơ bản trở thànhnước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, ngoài các nhiệm vụphát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng, vấn đề ổn định lâudài hệ thống đơn vị hành chính các cấp được đặt ra là một nhiệm vụ tương đốicấp bách và có ý nghĩa quan trọng
2.Quy định pháp luật về điều chỉnh địa giới hành chính
Điều chỉnh địa giới hành chính là cụm từ thường được dùng chung choviệc thành lập, giải thể, sáp nhập, chia tách, điều chỉnh địa giới, đổi tên đơn vịhành chính của cấp có thẩm quyền Trong nhiều năm qua, Nhà nước ta đã banhành một số văn bản pháp luật quy định về việc điều chỉnh địa giới hànhchính Tuy nhiên cho đến nay, có những văn bản quy định về tiêu chuẩn, điềukiện, trình tự, thủ tục điều chỉnh địa giới hành chính ban hành đã nhiều năm,
Trang 7do vậy nhiều nội dung, quy định đã không còn phù hợp, không đáp ứng yêucầu quản lý trong thực tiễn.
2.1- Nguyên tắc và thẩm quyền điều chỉnh địa giới hành chính
Từ năm 2013 trở về trước, việc điều chỉnh địa giới hành chính ở nước tatuân thủ theo Hiến pháp 1992 và các luật, văn bản dưới luật có liên quan.Theo Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992,các đơn vị hành chính được phân định như sau:
“Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thànhhuyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chiathành quận, huyện và thị xã; huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộctỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường”
Quốc hội có thẩm quyền: “thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giớitỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hànhchính - kinh tế đặc biệt”
Chính phủ có thẩm quyền: “Quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn
vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”
Ngày 28/11/2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namkhóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua bản Hiến pháp sửa đổi năm 2013, theo
đó các đơn vị hành chính được phân định như sau:
“Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thànhhuyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chiathành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; Huyện chiathành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã;quận chia thành phường Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hộithành lập”
Trang 8Quốc hội có thẩm quyền: “thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa
giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt”
-Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền: “Quyết định thành lập, giảithể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương”
Chính phủ có nhiệm vụ: “Trình Quốc hội quyết định thành lập, giải thể,nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trungương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; trình Ủy ban thường vụ Quốc hộiquyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hànhchính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”
Hiến pháp 2013 cũng quy định rõ việc thành lập, giải thể, nhập, chia,điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính phải lấy ý kiến nhân dân địa phương vàtheo trình tự, thủ tục do luật định
Như vậy, thẩm quyền về điều chỉnh địa giới hành chính đối với cấp tỉnhvẫn do Quốc hội quyết định nhưng thẩm quyền điều chỉnh địa giới hành chínhcấp huyện, cấp xã đã được nâng lên, do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyếtđịnh chứ không phải do Chính phủ quyết định như trước đây nữa Quy địnhnày giúp cho việc điều chỉnh địa giới hành chính cấp huyện, cấp xã được tiếnhành chặt chẽ hơn, chính xác hơn, dân chủ hơn và đặc biệt sẽ giảm thiểu việcđiều chỉnh địa giới hành chính như thời gian qua
2.2- Một số văn bản quy định về tiêu chuẩn, điều kiện, thủ tục điều chỉnh địa giới hành chính
Ngày 31/01/1979, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng ban hành Thông tư số
19-BT về việc điều chỉnh địa giới các huyện, xã và các đơn vị tương đương thuộccác tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương Thông tư đã quy định cácnguyên tắc, tiêu chuẩn về chia lại địa giới huyện, xã và kế hoạch tiến hành
Trang 9Theo đó, việc điều chỉnh địa giới hành chính phải bảo đảm sự đoàn kết và tôntrọng truyền thống của nhân dân các dân tộc, bảo đảm sự chỉ đạo của cơ quanchính quyền được sát dân, sát cơ sở, nhạy bén, kịp thời và thuận tiện cho việcxây dựng lực lượng, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự
xã hội; bảo đảm điều kiện thuận lợi để phát triển văn hóa xã hội chủ nghĩa,phát triển phúc lợi tập thể và tổ chức đời sống của nhân dân một cách vănminh Việc chia lại huyện, xã và các đơn vị tương đương phải nắm vững tiêu
chuẩn về diện tích và số dân, bảo đảm sự phù hợp với cơ sở vật chất, kỹ thuật
và trình độ quản lý của cán bộ Khi cần sáp nhập huyện, xã phải nhập cả đơn
vị, không xé lẻ các xã, thôn, xóm ấp Đồng thời, Thông tư đã quy định cụ thểquy mô diện tích tự nhiên và dân số theo loại hình đơn vị hành chính: huyện,quận, thị xã, thành phố, xã, thị trấn, phường, tiểu khu và theo các vùng, miềntrên cả nước
Ngày 12/9/1981, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định
số 64b/HĐBT về điều chỉnh địa giới hành chính đối với những huyện, xã cóđịa giới chưa hợp lý Quyết định số 64b/HĐBT đã có những quy định cụ thểhơn về tiêu chuẩn, điều kiện, thủ tục điều chỉnh địa giới hành chính cấphuyện, cấp xã và cho đến nay (hơn 30 năm), vẫn đóng vai trò là văn bản thamchiếu, vận dụng chủ yếu khi các địa phương đề nghị điều chỉnh địa giới hànhchính cấp huyện, cấp xã
Ngày 26/9/1981, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số94/HĐBT về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy chính quyền cấpphường đã quy định phường là đơn vị hành chính cơ sở ở nội thành, nội thị, tổchức theo khu vực dân cư ở đường phố, có khoảng 7.000 đến 12.000 dân Ngày 06/11/1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Chỉ thị số364-CT về giải quyết những tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hànhchính tỉnh, huyện, xã Theo đó, quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong công tác
Trang 10giải quyết tranh chấp là hiệp thương thỏa thuận giữa cấp ủy, chính quyền cácđịa phương có liên quan; cấp có thẩm quyền chỉ xem xét, ban hành các quyếtđịnh giải quyết trong trường hợp cấp ủy, chính quyền các địa phương liênquan hiệp thương, thỏa thuận không có kết quả
Thông tư số 832/TCCP-ĐP ngày 25/10/1993 của Ban Tổ chức - Cán bộChính phủ (nay là Bộ Nội vụ) hướng dẫn giải quyết tranh chấp đất đai có liênquan đến địa giới hành chính các cấp trong tổ chức thực hiện Chỉ thị số 364-
CT ngày 06/11/1991
Quyết định số 12/2008/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2008 của Bộ trưởng BộTài nguyên và Môi trường ban hành "Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phânđịnh địa giới hành chính và lập hồ sơ địa giới hành chính các cấp"
Nghị định số 62/2011/NĐ-CP ngày 26/7/2011 của Chính phủ về thànhlập thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận, phường, thị trấn Nghị định đã quy định
cụ thể điều kiện, tiêu chuẩn, trình tự lập, thẩm định hồ sơ thành lập thành phốthuộc tỉnh, thị xã, quận, phường, thị trấn
Ngày 15/6/2012, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 02/2012/TT-BNVhướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 62/2011/NĐ-CP ngày26/7/2011 của Chính phủ về thành lập thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận,phường, thị trấn
3.Lịch sữ địa giới hành chính ở nước ta thời gian qua:
Nhìn lại lịch sử, việc tổ chức các đơn vị hành chính - lãnh thổ dưới cáctriều đại phong kiến ở Việt Nam có nhiều biến động cả về quy mô và tên gọicác đơn vị hành chính Các đơn vị hành chính dưới cấp trung ương có tên gọi
và vị trí khác nhau trong hệ thống hành chính các cấp như châu, quận, đạo, lộ,phủ, thừa tuyên, dinh, tỉnh, huyện, giáp, hương, trấn, tổng, lý, xã, ) tùy theotừng giai đoạn Cho đến năm 1832, vua Minh Mạng triều Nguyễn đã chia lạiđất nước thành 30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên Sau khi Việt Nam giành được
Trang 11độc lập tháng 8/1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, theoHiến pháp năm 1946, đất nước được chia làm ba Bộ: Bắc Bộ, Trung Bộ, vàNam Bộ Giai đoạn 1945 - 1946, nước ta có 65 tỉnh Năm 1975, Miền Namđược giải phóng, đất nước thống nhất và đến năm 1976, nước Cộng hòa Xãhội chủ nghĩa Việt Nam có 38 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 35 tỉnh và 3thành phố trực thuộc Trung ương Cho đến tháng 6/2013, Việt Nam có 58tỉnh, 5 thành phố trực thuộc Trung ương; 60 thành phố thuộc tỉnh, 46 thị xã,
47 quận, 550 huyện; 634 thị trấn, 1.461 phường, 9.052 xã (Nguồn: Vụ Chính quyền địa phương).
3.1 Địa giới hành chính cấp tỉnh
Năm 1989 có thể được xem như khởi đầu của việc các tỉnh được chiatách, tái lập như: tỉnh Nghĩa Bình tách thành 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định;tỉnh Phú Khánh tách thành 2 tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa; tỉnh Bình Trị Thiêntách ra làm 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế
Tiếp theo, đến năm 1991: tỉnh Hà Sơn Bình tách ra thành 2 tỉnh Hà Tây,Hoà Bình; tỉnh Hà Nam Ninh tách ra thành 2 tỉnh Nam Hà, Ninh Bình; tỉnh
Hà Tuyên tách ra thành 2 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang; tỉnh Hoàng Liên Sơntách ra thành 2 tỉnh Lào Cai, Yên Bái; tỉnh Nghệ Tĩnh tách ra thành 2 tỉnhNghệ An, Hà Tĩnh; tỉnh Gia Lai-Kon Tum tách ra thành 2 tỉnh Gia Lai, KonTum; tỉnh Thuận Hải tách ra thành 2 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận; tỉnh CửuLong tách ra thành 2 tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh Thành lập tỉnh Bà Rịa - VũngTàu, đồng thời giải thể Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo
Năm 1996, các tỉnh lại được tiếp tục chia tách: tỉnh Bắc Thái tách rathành 2 tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên; tỉnh Hà Bắc tách ra thành 2 tỉnh BắcGiang, Bắc Ninh; tỉnh Nam Hà tách ra thành 2 tỉnh Hà Nam, Nam Định; tỉnhHải Hưng tách ra thành 2 tỉnh Hải Dương, Hưng Yên; tỉnh Vĩnh Phú tách rathành 2 tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc