1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

câu hỏi tiểu luận lịch sử đảng ( đh công nghiệp hà nội)

15 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 27,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở đây có đề cương và đề thi và câu hỏi lịch sử đảng mới nhất của trường đại học công nghiệp hà nội. Tài liệu được cập nhật mới nhất và đạt tiêu chuẩn về chất lượng. HAUIer, muốn lấy 910 thì nhào vô nhen Đảm bảo hữu ích và sát với đề thi nhất ạ

Trang 1

Họ tên: Trương Bình Minh

Mã sinh viên: 19020370

Ngày sinh: 07/09/2001

TIỂU LUẬN Câu 2: Chủ trương đoàn kết, tập hợp lực lượng của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) Chủ trương đoàn kết, tập hợp đó có ý nghĩa như thế nào đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước? Bài học trong giai đoạn hiện nay

Bối cảnh lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975)

Sau thất bại tại Điện Biên Phủ (5/1954), thực dân Pháp buộc phải ký kết Hiệp định Geneve (21/7/1954) công nhận độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ

ba nước Đông Dương, rút quân về nước Nhưng ngay sau đó, đế quốc Mỹ tìm cách thay chân thực dân Pháp tiến hành chiến tranh xâm lược nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, một căn cứ quân sự phục vụ cho chiến lược toàn cầu Đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội đối lập nhau: miền Bắc hoàn toàn giải phóng tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam còn nằm dưới sự cai trị của chủ nghĩa đế quốc, tay sai

Thông qua các hình thức viện trợ, Mỹ đã dựng lên chính quyền, quân đội Sài Gòn làm công cụ, ra sức đàn áp phong trào yêu nước của đồng bào miền Nam Từ năm

1954 – 1975, Mỹ tiến hành hàng loạt các cuộc chiến tranh: Chiến tranh đặc biêt, Chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh Đặc biệt, từ năm 1965, Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh, quân một số nước đồng minh cùng nhiều loại vũ khí, trang bị cùng phương tiện chiến tranh hiện đại vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam, đồng

Trang 2

thời mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân ra miền Bắc Việt Nam

Tình hình đặc biệt của đất nước đòi hỏi Đảng phải đưa ra những chủ trương, đường lối đúng đắn, sáng tạo phù hợp với thực tiễn đất nước và thế giới, thực hiện được mục tiêu xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, là hậu phương lớn cho Miền Nam, đánh đuổi đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Chủ trương đoàn kết, tập hợp lực lượng của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)

Chủ trương đoàn kết, tập hợp lực lượng của Đảng được thể hiện xuyên suốt, rõ ràng qua từng giai đoạn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975), cụ thể như sau:

Thứ nhất, trên cơ sở phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, Trung ương Đảng

đã đề ra phương thức tập hợp quần chúng thông qua việc thành lập các mặt trận dân tộc thống nhất riêng phù hợp với đặc điểm, điều kiện ở từng miền, lấy liên minh giai cấp công - nông làm nền tảng.

Tháng 1/1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã xác định con đường phát triển cơ bản của cách mạng nước nhà là: phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam nhằm thực hiện mục tiêu chung là giải phóng hoàn toàn miền Nam, bảo

vệ miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tạo điều đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội

Nghị quyết Đại hội III của Đảng (9/1960) khẳng định, ở miền Nam phải “thực hiện một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống Mỹ - Diệm lấy liên minh công

Trang 3

nông làm cơ sở” Mặt trận phải đoàn kết được các giai cấp và các tầng lớp yêu nước, các dân tộc đa số và các dân tộc thiểu số, các đảng phái và tôn giáo yêu nước, và tất cả những người có khuynh hướng chống Mỹ - Diệm; đoàn kết tất cả những lực lượng có thể đoàn kết, tranh thủ bất cứ lực lượng nào có thể tranh thủ, trung lập những thế lực cần phải trung lập, thu hút đông đảo quần chúng nhân dân vào phong trào đấu tranh chung chống Mỹ - Diệm, giải phóng miền Nam, hoà bình thống nhất Tổ quốc Thực hiện Nghị quyết 15 và Nghị quyết Đại hội III, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, ngày 20/12/1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập

Tuy nhiên, việc tập hợp lực lượng ở các đô thị, nhất là Sài Gòn - Chợ Lớn gặp nhiều khó khăn Bởi vậy, ngay từ cuối năm 1967, Đảng ta chủ trương thành lập một tổ chức trung gian để tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân ở thành thị vào cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai, làm mất ổn định chính trị ngay trong trung tâm đầu não của chúng, tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy các mũi đấu tranh quân sự, binh vận, ngoại giao phát triển Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 của Trung ương Đảng (tháng 01-1968) xác định “… thành lập một Mặt trận thứ hai bên cạnh Mặt trận Dân tộc Giải phóng, lấy một tên thích hợp với cương lĩnh rộng rãi hơn Cương lĩnh chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Mặt trận thứ hai này sẽ giữ thái độ độc lập đối với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, nhưng tuyên bố thực hiện liên minh với Mặt trận Dân tộc Giải phóng và tất cả những người muốn phấn đấu cho miền Nam Việt Nam có độc lập, chủ quyền, dân chủ, hòa bình và trung lập” Mục đích của việc thành lập Mặt trận thứ hai nhằm mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc chống đế quốc Mỹ và tay sai ở đô thị; kêu gọi nhân dân đấu tranh cho độc lập, chủ quyền, tự do, dân chủ, hòa bình, trung lập, quan hệ bình thường giữa 2 miền Nam, Bắc, tiến tới thống nhất Tổ quốc Mặt trận thứ hai có

Trang 4

nhiệm vụ liên kết chặt chẽ với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam mở cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa ở các địa bàn trọng điểm - các đô thị trên toàn miền Nam

Do đó, ngày 20 và 21-4-1968, Đại hội thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam được tổ chức ở vùng giải phóng Ngày 30 và

31-7-1968, Liên minh đã tổ chức Hội nghị đại biểu, thông qua Chương trình hành động Trong đó, chỉ rõ: “Cứu nước là sự nghiệp của toàn dân, là sức mạnh bảo đảm thắng lợi, là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, chủ trương đoàn kết mọi lực lượng và cá nhân yêu nước, không phân biệt xu hướng, chính kiến, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội, đoàn kết trong giai đoạn đấu tranh giành độc lập và chủ quyền dân tộc hiện nay cũng như trong giai đoạn kiến thiết đất nước sau này” Tuy mục tiêu, cương lĩnh cụ thể của các mặt trận không giống nhau, hình thức tổ chức cũng như cơ cấu, thành phần có nhiều điểm khác nhau nhưng đều hướng đến mục đích tập hợp toàn dân thành một khối thống nhất theo tư tưởng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành lập ở miền Bắc (10/9/1955) đã cùng với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960) và Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam (20/4/1968) đoàn kết nhân dân cả nước làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang: Bảo vệ miền Bắc XHCN, giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước

Thứ hai, đoàn kết nhân dân hai miền, nhân dân miền Bắc ra sức chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam

Trang 5

Đứng trước khả năng đế quốc Mỹ trực tiếp đưa quân vào thực hiện chiến lược

“Chiến tranh cục bộ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt vào ngày 27-3-1964 Với hơn 300 đại biểu gồm những người tiêu biểu cho các ngành, các giới, đại diện cho 31 triệu đồng bào cả hai miền: Nam, Bắc, Hội nghị biểu thị khối đại đoàn kết toàn dân và ý chí quyết tâm sắt đá chiến đấu bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Được xem như là một “Hội nghị Diên Hồng” của dân tộc trong thời đại mới, Hội nghị chính trị đặc biệt đã thôi thúc cao trào hành động cách mạng trong cả nước

Ngày 17-7-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biểu thị quyết tâm đoàn kết toàn dân tộc

để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước với ý chí sắt đá: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân miền Bắc đã kết thành một khối, đẩy mạnh các phong trào thi đua sôi nổi trên tất cả các lĩnh đã lôi cuốn đông đảo mọi tầng lớp nhân dân, từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền núi,

từ biên giới đến hải đảo hăng hái thi đua vừa lao động sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu dũng cảm, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ; đồng thời, sẵn sàng lên đường chi viện cho chiến trường miền Nam Trên chiến trường miền Nam, hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân miền Nam đẩy mạnh tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược, bằng ba mũi giáp công, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, góp phần chia lửa với đồng bào miền Bắc Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân là sự tiếp nối của những hoạt động đó; đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ

Thứ ba, đoàn kết với dân tộc anh em, với nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới

Trang 6

Nhằm hỗ trợ cho chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, đặt ách thống trị chế độ thực dân mới lên toàn Đông Dương bán đảo Đông Dương, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh xâm lược sang Lào và Campuchia Hội nghị Bộ Chính trị tháng 4-1969

và Hội nghị lần thứ 18 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III tháng 01-1970

đã vạch rõ nhiệm vụ của Nhân dân ta tăng cường đoàn kết chiến đấu với nhân dân Lào và Campuchia, đánh bại mưu đồ xâm lược của Mỹ

Ý nghĩa của chủ trương đoàn kết, tập hợp lực lượng của Đảng đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Chủ trương đoàn kết, tập trung lực lượng của Đảng đã huy động được tối đa sức người sức của cho cuộc chiến tranh chống Mỹ; huy động được tất cả lực lượng từ người già đến trẻ nhỏ, phụ nữ, các giai tầng khác nhau trong xã hội, lực lượng thuộc các giai cấp, tôn giáo… khác nhau

Từ chủ trương đoàn kết, tập hợp lực lượng đúng đắn, sáng tạo của Đảng, nhân dân hai miền nói riêng và cả nước nói chung đoàn kết, đồng lòng chống giặc Bằng sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, nhân dân miền Bắc vừa kiên cường chiến đấu, đánh bại hoàn toàn hai cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ trong những năm 1965 - 1968 và 1972 – 1973, vừa đẩy mạnh sản xuất, ra sức chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam Toàn bộ cuộc chiến tranh, miền Bắc đã chuyển vào chiến trường hàng triệu tấn vật chất cùng hàng triệu thanh niên bổ sung cho lực lượng chiến đấu Sự chi viện từ miền Bắc cho miền Nam không chỉ tạo nên sức mạnh, phục vụ tốt nhiệm vụ chiến đấu, mà còn đáp ứng yêu cầu xây dựng vùng giải phóng trên tất cả các mặt: kinh tế, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, y tế và chuẩn bị cho việc tiếp quản vùng giải phóng khi chiến tranh kết thúc Đó thực sự là một trong những biểu tượng rõ nét cho tình đoàn kết của nhân dân miền Bắc đối với miền Nam, tô đậm thêm sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Trang 7

Từ sự đoàn kết lực lượng toàn dân, Đảng và nhân dân ta đã giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đánh bại đế quốc sừng sỏ lúc bấy giờ

Bài học kinh nghiệm trong giai đoạn hiện nay

Ngày nay, việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được Đảng ta tiếp tục coi trọng; bởi đó không chỉ là bài học thành công của quá khứ, mà tiếp tục là động lực chủ yếu, nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

Để vận dụng thành công bài học đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới, cần tiếp tục bám sát 4 nhân tố tạo nên sức mạnh đại đoàn kết đó là: đoàn kết, thống nhất trong Đảng - đây là hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy cao

độ truyền thống yêu nước của nhân dân kết hợp với phương thức tập hợp quần chúng sáng tạo và đường lối cách mạng độc lập, tự chủ, đúng đắn của Đảng

Đảng cần đưa ra những giải pháp phát huy sức mạnh toàn dân phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới

Tích cực chăm lo xây dựng và củng cố “thế trận lòng dân” bằng những giải pháp đồng bộ cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại Bên cạnh đó, Đảng và nhân dân kiên quyết đấu tranh với những thủ đoạn thâm độc của các thế lực nhằm phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Đối với cá nhân thế hệ trẻ, bản thân các sinh viên hơn hết càng phải nhận thức rõ

về tinh thần đoàn kết dân tộc, nắm vững chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước, tích cực trong công tác xây dựng khối đại đoàn kết, đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, và các nước khác trên thế giới

Câu 3: Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với sự ra đời của Đảng đầu năm 1930.

Ý nghĩa của sự kiện Đảng ra đời đối với cách mạng Việt Nam?

Trang 8

Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với sự ra đời của Đảng đầu năm 1930

Thứ nhất, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam

Nhận ra những hạn chế của các nhà yêu nước đương thời và hạn chế của những cuộc cách mạng dân chủ tư sản là những cuộc cách mạng không giải phóng được công nông và quần chúng lao động, Nguyễn Ái Quốc đã quyết định ra đi tìm một con đường cứu nước mới, phù hợp với hoàn cảnh dân tộc

Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I Lênin Luận cương đã giải đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở, giúp Người thấy rõ con đường thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Luận cương của V.I Lênin đã có ảnh hưởng quyết định đến lập trường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc: Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tán thành Quốc tế thứ ba, đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo cách mạng vô sản, trở thành một trong những nhà sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam

Thứ hai, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng

Về tư tưởng,

Từ giữa năm 1921, tại Pháp, cùng một số nhà cách mạng của các nước thuộc địa khác, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Hội liên hiệp thuộc địa, sau đó sáng lập

tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) Người viết nhiều bài trên các báo Nhân đạo, Đời sống công nhân, Tạp chí Cộng sản, Tập san Thư tin quốc tế Năm 1922, Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp được thành lập, Nguyễn Ái Quốc được cử làm Trưởng Tiểu ban Nghiên cứu về Đông Dương Vừa nghiên cứu lý luận, vừa tham gia hoạt động thực tiễn trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, dưới nhiều phương thức phong phú, Nguyễn Ái Quốc tích cực tố cáo, lên

án bản chất áp bức, bóc lột, nô dịch của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các

Trang 9

nước thuộc địa và kêu gọi, thức tỉnh nhân dân bị áp bức đấu tranh giải phóng Người chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa thực dân, xác định chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới Đồng thời, Người tiến hành tuyên truyền tư tưởng về con đường cách mạng vô sản, con đường cách mạng theo lý luận Mác-Lênin, xây dựng mối quan

hệ gắn bó giữa những người cộng sản và nhân dân lao động Pháp với các nước thuộc địa và phụ thuộc

Năm 1927, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy” Đảng mà không

có chủ nghĩa cũng giống như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam Phải truyền bá tư tưởng vô sản, lý luận Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam

Về chính trị,

Xuất phát từ thực tiễn cách mạng thế giới và đặc điểm phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, kế thừa và phát triển quan điểm của VILênin về cách mạng giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đưa những luận điểm quan trọng về cách mạng giải phóng dân tộc Người khẳng định rằng, con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản Đường lối chính trị của Đảng cách mạng phải hướng tới giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào Nguyễn Ái Quốc xác định cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới; giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở “chính quốc” có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau, nhưng cách mạng giải phóng dân tộc ở nước thuộc địa không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở “chính quốc” mà có thể

Trang 10

thành công trước cách mạng vô sản ở “chính quốc”, góp phần tích cực thúc - đẩy cách mạng vô sản ở “chính quốc”

Đối với các dân tộc thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: trong nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân là lực lượng đông đảo nhất, bị đế quốc, phong kiến áp bức, bóc lột nặng nề, vì vậy phải thu phục và lôi cuốn được nông dân, phải xây dựng khối liên minh công nông làm động lực cách mạng: “công nông là gốc của cách mệnh; còn học trò nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn cách mệnh của công nông” Do vậy, Người xác định rằng, cách mạng “là việc chung của cả dân chúng chứ không phải là việc của một hai người”

Về vấn đề Đảng Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Cách mạng trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy

Về tổ chức,

Sau khi lựa chọn con đường cứu nước-con đường cách mạng vô sản-cho dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc thực hiện “lộ trình” đi vào quần chúng, thức tỉnh họ,

tổ chức họ, đoàn kết họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập Vì vậy, sau một thời gian hoạt động ở Liên Xô để tìm hiểu, khảo sát thực tế về cách mạng vô sản, tháng 11-1924, Người đến Quảng Châu (Trung Quốc) - nơi có đông người Việt Nam yêu nước hoạt động để xúc tiến các công việc tổ chức thành lập đảng cộng sản Tháng 2-1925, Người lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã, lập ra nhóm Cộng sản đoàn

Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc), nòng cốt là Cộng sản đoàn Hội đã công bố chương trình, điều lệ của Hội, mục đích: để làm cách mệnh dân tộc (đập tan bọn Pháp và

Ngày đăng: 02/01/2022, 23:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w