Khuôn khổ nghiên cứu cuối cùng bao quát những lĩnh vực nghiên cứu như sau: • Nhận thức về nghèo đói và xu hướng nghèo, nguyên nhân dẫn tới nghèo và khả năng dễ bị tổn thương; • Tiến bộ t
Trang 1Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại TPHCM
Trang 2
Tháng 7‐8/ 2003
Trang 4M ụ c L ụ c
Danh mục các Bảng và Khung iii
Lời nói đầu của Nhóm hành động chống đói nghèo v
Lời cảm ơn vii
Những chữ viết tắt ix
Tóm tắt Báo cáo 1
Phần 1: Giới thiệu 4
Phần 2: Địa điểm Nghiên cứu 8
Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm, những
rủi ro và tính dễ tổn thương 12
Phần 4: Tham gia và Tăng cường Năng lực trong việc Đưa ra các Quyết định tại
Địa phương 25
Phần 5: Cải cách Hành chính công 32
Phần 6: Di dân và các Vấn đề Đô thị 39
Tài liệu Tham khảo 48
PHỤ LỤC 1: Phương pháp nghiên cứu 49
PHỤ LỤC 2: Số liệu Tóm tắt Tham vấn tại Địa bàn Nghiên cứu 51
PHỤ LỤC 3: Danh sách thành viên nhóm khảo sát thực địa 54
PHỤ LỤC 4: Các loại hình thức cư trú đối với quản lý hành chính 55
PHỤ LỤC 5: Quan hệ đối tác trong Đánh giá nghèo theo vùng 57
Trang 5Bảng
Bảng 1: Dân số huyện Bình Chánh, Thị Trấn An Lạc và Xã Tân Tạo 9 Bảng 2: Dân số Quận 8, Phường 4 và Phường 5 11 Bảng 3: Tính đa khía cạnh của tình trạng nghèo 18 Bảng 4: Ý kiến của cán bộ và người dân địa phương về các lĩnh vực
dân chủ cơ sở 27 Bảng 5: Ý kiến của cán bộ và người dân địa phương về cơ chế tăng cường sự
tham gia và đảm bảo việc phổ biến, trao đổi thông tin 29 Bảng 6: Dân chủ cơ sở trực tiếp và đại diện 30
Khung
Khung 1: Tiêu chí xác định hộ nghèo của chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo 15 Khung 2: Ý nghĩa của các nguồn lực chính trị và xã hội đối với người nghèo 16 Khung 3: Người nghèo nhận thức được chất lượng cuộc sống của họ thấp kém 17 Khung 4: Quy trình xét chọn hộ hưởng chương trình Xoá đói giảm nghèo
tại khu phố 31 Khung 5: Rơi vào cảnh nghèo vì tác động của quy hoạch đô thị 45
Trang 6L ời nói đầu của Nhóm hành động chống đói nghèo
Tháng 5 năm 2002, Chính phủ Việt Nam đã hoàn thành Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo (CPRGS) và bắt đầu quá trình triển khai thực hiện CPRGS ở cấp địa phương. Thông qua các chiến dịch thông tin và hàng loạt các hội thảo vùng, cán bộ của các bộ ngành chủ chốt đã giải thích cho đại diện của các chính quyền địa phương về các phương pháp sao cho các quy trình lập kế hoạch của địa phương có thể được thực hiện theo định hướng vì người nghèo hơn, dựa trên số liệu thực tế hơn, chú trọng vào kết quả hơn, cân đối tốt hơn trong các quyết định phân bổ nguồn lực và được giám sát tốt hơn.
Năm 2003 Nhóm hành động chống đói nghèo (PTF) đã hỗ trợ thực hiện cho các đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng (PPAs) ở 12 tỉnh của Việt Nam. Những đánh giá nghèo này đã sử dụng khung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu chung để tìm hiểu những vấn đề nghèo đói mà các số liệu định lượng đã không mô tả được hết. Mục đích của việc làm này là đưa ra một nghiên cứu có thể sử dụng cùng với số liệu của Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam để cung cấp thông tin cho Ban thư ký CPRGS về tiến độ thực hiện CPRGS cho tới nay. Đánh giá nghèo cũng được thiết kế
để cung cấp thông tin cho các nghiên cứu mới về nghèo đói ở các vùng và trên toàn quốc và các nghiên cứu này cũng đã được công bố riêng. Các đánh giá nghèo theo vùng sẽ được sử dụng như những công cụ xây dựng năng lực cho các quy trình lập kế hoạch với định hướng vì người nghèo ở các cấp chính quyền địa phương.
Tám nhà tài trợ đã đóng góp nguồn lực tài chính và nhân lực để hỗ trợ cho các đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng, là cơ sở cho việc xây dựng báo cáo này và các đánh giá nghèo theo vùng bổ sung. Các nhà tài trợ bao gồm ADB, AusAID, DFID, GTZ, JICA, SCUK, UNDP và Ngân hàng Thế giới. Mỗi nhà tài trợ đóng vai trò chính ở một vùng của Việt Nam. Việc phân bố các vùng giữa các nhà tài trợ được tóm tắt ở Bảng A, và dựa trên định hướng hoạt động của các nhà tài trợ trong từng lĩnh vực. Bằng cách lựa chọn vùng nào mình thấy quen thuộc nhất, thông qua các dự án và hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, các nhà tài trợ có thể tận dụng hoàn toàn được những hiểu biết tích luỹ được khi đã làm việc tại vùng đó.
Các nhóm nghiên cứu đã tiến hành đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng ở 43
xã rải rác trên toàn quốc. Trong số đó có hai tổ chức phi chính phủ quốc tế (Action Aid và SCUK), các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan nghiên cứu của Việt Nam, bao gồm Trung tâm phát triển nông thôn, Viện xã hội học (IOS), Trung tâm Chăm sóc sức khoẻ ban đầu Long An, Trung tâm dịch vụ phát triển nông thôn (RDSC) và Vietnam Solutions. Ngoài ra, có hai nhà tài trợ đã tiến hành nghiên cứu bằng cách lập các nhóm nghiên cứu gồm các chuyên gia trong nước dưới sự quản lý trực tiếp của nhà tài trợ. Kiến thức và kinh nghiệm của các tổ chức phi chính phủ và cơ quan nghiên cứu đóng vai trò then chốt đối với chất lượng của công tác này. Một cơ chế phối hợp đã được hình thành cho công tác đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng
Trang 7nghiên cứu cũng được chỉnh sửa cho phù hợp với những bài học kinh nghiệm được rút ra. Khuôn khổ nghiên cứu cuối cùng bao quát những lĩnh vực nghiên cứu như sau:
• Nhận thức về nghèo đói và xu hướng nghèo, nguyên nhân dẫn tới nghèo và khả năng dễ bị tổn thương;
• Tiến bộ trong công tác tăng cường dân chủ ở cấp cơ sở, đặc biệt là mức độ các
hộ nghèo có thể tham gia một cách có ý nghĩa vào các quy trình xây dựng kế hoạch và lập ngân sách;
• Những thách thức trong việc cung cấp các dịch vụ cơ bản, tập trung vào sự tương tác của các hộ gia đình nghèo với các nhà cung cấp dịch vụ và các hộ nghèo có thể được tăng cường quyền lực như thế nào để có thể yêu cầu quyền lợi được cung cấp các dịch vụ cơ bản một cách hiệu quả hơn;
Những Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng hiện nay đang được công bố thành bộ. Một báo cáo tổng hợp các kết quả của cả 43 xã và phân tích một cách tổng hợp hơn các chủ đề này cũng sẽ được công bố. Cũng sẽ có một báo cáo khác tóm tắt phương pháp tiếp cận, phương pháp nghiên cứu được sử dụng và những câu hỏi nghiên cứu chi tiết.
Trang 8L ờ i c ả m ơ n
Chúng tôi xin chân thành cám ơn sự chỉ đạo và hỗ trợ quý báu và kịp thời của Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh, Ban Chỉ Đạo Chương Trình Xóa Đói Giảm Nghèo và Việc Làm (Sở Lao Động Thương Binh Xã Hội), chính quyền Huyện Bình Chánh, Thị trấn An Lạc, Xã Tân Tạo, và chính quyền Quận 8, Phường 4, và Phường 5, trong suốt quá trình nghiên cứu. Đặc biệt, xin cảm ơn sự cộng tác nhiệt tình và đầy tính trách nhiệm của các cán bộ chuyên trách chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo cấp thành phố, quận/huyện và phường/ xã/ thị trấn đã góp phần quyết định vào sự thành công của đợt khảo sát, đồng thời minh chứng cho tính tham gia là phương pháp chủ đạo của tất cả các cuộc đánh giá nghèo được thực hiện từ năm 1999 đến nay.
Chúng tôi cũng xin cám ơn các tổ chức đoàn thể, các tổ trưởng tổ dân phố, ban vận động khu phố/ ấp được chọn khảo sát đã vận động người dân tham gia tích cực và tổ chức chu đáo các buổi họp dân, tạo ra bầu khí cho sự tham gia tích cực, cởi mở để nhóm nghiên cứu có được các thông tin xác thực từ chính người dân địa phương.
Xin cám ơn T.S. Martin Rama, Th.S. Carrie Turk (Ngân Hàng Thế Giới), và Th.S. Nguyễn Văn Thuần (Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc), đã hỗ trợ công việc nghiên cứu, đặc biệt về phương pháp, trong suốt các giai đoạn chuẩn bị, thực địa, cũng như viết báo cáo.
Cuối cùng, xin chân thành cám ơn những người dân đã trực tiếp tham gia nghiên cứu thông qua các hoạt động thảo luận nhóm, phân hạng kinh tế hộ, phỏng vấn sâu trường hợp điển cứu và các ý kiến thực tế, chân tình, xây dựng để nghiên cứu này có thể hoàn thành tốt đẹp.
Trang 10
TPHCM Thành Phố Hồ Chí Minh
UBND Ủy Ban Nhân Dân
XĐGN Xóa Đói Giảm Nghèo
Trang 12từ 2 đến 7 hộ trong mỗi tổ dân phố, tức khoảng 4% đến 15% tổng số hộ là nghèo.
Trong khi có một số người dân được tham khảo ý kiến cho rằng cuộc sống khá lên trong vài năm qua (nhất là nhờ bán đất hay tài sản khác – dù điều này không đảm bảo sinh kế bền vững), số đông còn lại cho rằng cuộc sống trở nên khó khăn hơn và than phiền không đủ ăn, cho con cái nghỉ học sớm và sống lây lất qua ngày.
Có nhiều nguyên nhân lý giải cho cuộc sống ngày càng khó khăn, chứng tỏ rằng nghèo không chỉ là thu nhập ít ỏi, mà còn là chi phí sống cao, công việc bấp bênh, sức khỏe kém, không được học hành, nhà cửa không an toàn và kém vệ sinh, các mối quan hệ xã hội bị hạn chế, và cách biệt giàu nghèo ngày càng tăng.
Công việc làm vẫn còn là thách đố lớn đặt ra cho người nghèo. Người nghèo gần như không thể tìm việc làm nhờ các trung tâm giới thiệu việc làm của nhà nước. Còn tìm việc nhờ các dịch vụ việc làm tư nhân thì có rủi ro cao, và có nhiều dịch vụ mang tính ʺlừa đảoʺ. Những công nhân không có tay nghề, lớn tuổi, hay sức khoẻ kém gặp nhiều trắc trở trên con đường tìm việc. Một khi tìm được, tình trạng thiếu luật lệ hoặc luật lệ không được thực thi làm cho quyền lợi của công nhân thường không được bảo vệ. Công nhân nữ trẻ (chiếm 90% lực lượng lao động trong nhiều xí nghiệp) tỏ ra lo ngại
về sự cô lập xã hội của họ.
Tham gia và tăng cường năng lực trong việc đưa ra các quyết định tại địa phương
Lúc đợt nghiên cứu đánh giá nghèo có sự tham gia này đang tiến hành, các phường/ xã/ thị trấn đang tổng kết 5 năm thực hiện Nghị định 29 (Dân chủ cơ sở – DCCS) chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sau: 14 việc dân biết đến, 6 việc dân bàn bạc và quyết định trực tiếp, 8 việc dân tham gia ý kiến, HĐND và UBND quyết định, 10 việc dân giám sát, kiểm tra. Các cán bộ và người dân địa phương đều đồng ý rằng đã có nhiều tiến bộ trong việc thực hiện các nội dung tuyên truyền, phổ biến DCCS và các chính sách khác của nhà nước, thái độ tiếp dân tích cực hơn trong các cơ quan nhà nước, bầu cử đại biểu Hội đồng Nhân dân, đóng góp vào các khoản quỹ địa phương và phát triển cơ sở hạ tầng địa phương. Các cán bộ chính quyền quận/ huyện và phường/ xã/ thị trấn cho rằng khâu có nhiều hạn chế duy nhất là vấn đề công khai ngân sách địa phương.
Trang 13
dân thường trú; các tổ trưởng tổ dân phố (những người đóng vai trò thiết yếu trong
việc đưa ra các ý kiến hướng dẫn) có năng lực làm việc rất khác nhau; đại biểu Hội đồng Nhân dân thường là các cán bộ địa phương; việc thực hiện DCCS chỉ giới hạn trong khuôn khổ UBND, không ít trường hợp bị hạn chế vì thiếu sự phối kết hợp với các cơ quan ngành dọc như giáo dục và quản lý đô thị.
Ý kiến đề xuất chủ yếu là cần thay đổi bản chất tham gia từ khá bị động và một chiều (chẳng hạn như được thông báo) như hiện nay trở nên chủ động hơn và có sự bàn bạc, trao đổi, tham khảo ý kiến hai chiều (ví dụ như về việc đóng các khoản phí ngoài học phí), và chuyển sang giám sát chủ động hơn sau này (chẳng hạn như xác định đối tượng hỗ trợ xã hội và giám sát việc thực hiện chương trình XĐGN). Cần phải thu hẹp khoảng cách nhận thức của các cán bộ địa phương và của người dân địa phương về các vấn đề vừa nêu trên.
Cải cách hành chính
Các cán bộ địa phương và người nghèo ghi nhận có một số cải tiến đáng kể trong lĩnh vực dịch vụ quản lý hành chính, điển hình là dịch vụ “một cửa một dấu” cho chứng nhận các loại giấy tờ tuỳ thân. Tuy nhiên, theo ý kiến người nghèo, còn nhiều vấn đề tồn tại trong lĩnh vực nhà đất – địa chính và đăng ký nhân hộ khẩu, chẳng hạn như vẫn còn nhiều các thủ tục phức tạp và làm mất nhiều thời gian, tình trạng tham nhũng và năng lực, phẩm chất cán bộ địa phương làm việc trong các ngành này, đã và đang ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của họ.
Về phân cấp quản lý, cán bộ cấp quận/ huyện và phường/ xã cho rằng còn có sự mơ
hồ, chồng chéo, không phân biệt rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của các cấp, các ban ngành. Cán bộ cả hai cấp đều tán thành phân cấp quản lý nhiều hơn cho cấp cơ sở phường/ xã theo hướng vì người nghèo, tuy nhiên, sự phân cấp này phải đi cùng với các giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả và hiệu lực, ví dụ như hợp lý hoá sự phân công phân cấp, cải thiện các luồng thông tin và các mối liên kết, phối hợp công tác, tăng cường tính công khai, minh bạch và đơn giản hóa các thủ tục và quy định, tạo ra nhiều hơn sự kiểm tra, giám sát và xem xét việc phân bổ kinh phí và nhân sự cho phù hợp với thực tế tình hình các địa phương (có tính đến tốc độ phát triển và sự gia tăng dân số ở một số khu vực phường/ xã).
Bản thân người nghèo có những nhận thức khác nhau, nhưng thường rất hạn chế, về cải cách hành chính và các ảnh hưởng, liên quan giữa cải cách hành chính công (CCHC) với họ, đồng thời họ thấy mình khó tác động đến tiến trình thực hiện CCHC.
Di dân và các vấn đề đô thị
Một số thông tin quan trọng nhất ghi nhận được về các quan tâm của cộng đồng về các vấn đề di dân và đô thị hóa tại hai quận huyện khảo sát có thể được tóm tắt như sau:
‐ Có khoảng 34% ‐ 40% dân số không có hộ khẩu thường trú (đặc biệt ở một xã của huyện Bình Chánh, tỉ lệ này lên đến 65%)
‐ Từ năm 1999 đến nay, số cư dân của các khu vực khảo sát tăng khoảng 28% đến 39% (có một xã của huyện Bình Chánh tỉ lệ tăng dân số lên đến 64%)
Trang 14Tóm tắt Báo cáo
Các hệ quả của tình trạng thiếu hộ khẩu thường trú một lần nữa lại được người dân nêu ra (tương tự như lần đánh giá nghèo năm 1999 và tham khảo ý kiến cộng đồng về Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo năm 2002), như: không bình đẳng quyền lợi trong tiếp cận giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, thụ hưởng chương trình Xoá đói giảm nghèo, các chương trình tín dụng và các hỗ trợ xã hội khác cũng như phải trả các chi phí cao cho điện, nước và các phí tổn cho gia hạn đăng ký tạm trú.
Ngoài ra, trong khi người nhập cư là người phải gánh chịu sự thiếu an toàn do tình trạng cư trú tạm thời của họ thì người dân nghèo tại chỗ là những người bị ảnh hưởng bởi các dự án quy hoạch đô thị lại phàn nàn nhiều về tình trạng bấp bênh, không ổn định, thiếu sự công khai rõ ràng, thiếu tư vấn cộng đồng và sự chậm trễ, kéo dài (trong một số trường hợp đến hơn 5 năm) của các dự án thuộc quy hoạch “treo”.
Các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội không căn cứ trên số cư dân hiện đang sinh sống tại địa phương (vì chỉ có lực lượng công an nắm số liệu về số dân nhập cư để quản lý trật tự trị an) mà chỉ căn cứ trên số dân có đăng ký thường trú. Các kế hoạch này vì thế không theo hướng giảm nghèo, chí ít là xét trên khía cạnh không tính đến các nhóm dân nghèo mới di chuyển từ nông thôn vào thành phố. Cũng vì thế, người nhập cư là người nghèo không được nhận diện.
Tuy nhiên, nếu so sánh với các cuộc đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng trước đây, có sự thay đổi đáng ghi nhận nhất về thái độ của các lãnh đạo và viên chức các cấp là hiện nay nhiều người cởi mở chấp nhận có những thiếu sót trong cách tiếp cận hiện hành, công nhận nhiều hơn các quyền lợi bình đẳng của người nhập cư với
tư cách là những công dân Việt Nam như là những người Việt Nam khác, nhìn nhận vai trò quan trọng của họ trong sự phát triển kinh tế của Thành phố và vì thế cần có
sự vận dụng mềm dẻo, linh hoạt hơn các quy định về đăng ký cư trú.
Trang 15Phần 1: Giới thiệu
Cơ sở và mục đích nghiên cứu
Theo số liệu chính thức năm 2003, thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đạt thành tựu về tổng sản phẩm quốc nội đầu người (GDP per capita) cao thứ nhì1 và chỉ số phát triển con người (HDI) cao thứ ba2 trong 61 tỉnh thành trên toàn quốc. Theo Ban Chỉ Đạo Xóa Đói Giảm Nghèo và Việc Làm Thành phố, số người sống dưới ngưỡng nghèo hiện nay đang giảm dần, còn 1.74% đến tháng 10/20033, và Thành phố phấn đấu cuối năm nay sẽ xóa nghèo theo chuẩn nghèo hiện tại. Cũng xin lưu ý rằng ngưỡng nghèo Thành phố được quy định ở mức tương đối cao hơn nhiều so với các tỉnh thành khác.
Tuy nhiên, các thông số trên chưa phản ánh tình trạng có một số lượng lớn người dân chưa hoặc không đăng ký cư trú, hầu hết là những người nhập cư từ các tỉnh khác đến Thành phố mưu sinh, hoặc sinh sống tạm thời hoặc có thể định cư lâu dài tại đây. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá tình trạng nghèo có sự tham gia lần này4 nhằm tìm hiểu thực chất những vấn đề nghèo phát sinh trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ đang diễn ra tại Thành phố mà các con số thống kê không đo lường được.
Với mục tiêu như vậy, nghiên cứu này vừa là một nghiên cứu về vấn đề nghèo đô thị của thành phố Hồ Chí Minh, vừa là một phần của nghiên cứu đánh giá tình trạng nghèo trên cả nước, với khung nghiên cứu được Bộ Kế hoạch Đầu tư, Ngân hàng Thế giới, và Nhóm Hành động chống đói nghèo, các viện nghiên cứu và tổ chức phi chính phủ Việt Nam cùng thực hiện; với công tác thực địa và báo cáo được Nhóm Hành động chống đói nghèo, chính quyền địa phương các cấp, và người dân tại cộng đồng của 12 tỉnh thành thuộc 7 vùng trên toàn quốc cùng đồng loạt tiến hành. Vì vậy, kết quả của nghiên cứu này, cùng với các nghiên cứu Đánh giá Tình trạng nghèo (PPA) khác và Điều tra Mức sống Hộ gia đình 2002, sẽ đóng góp vào báo cáo tiến độ thực hiện Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Giảm nghèo, sẽ được trình bày tại cuộc họp Nhóm Tư vấn các nhà tài trợ tháng 12 năm 2003, cũng như đóng góp vào bản Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004 của các tổ chức tài trợ. Nói một cách khác, một mặt, kết quả của nghiên cứu này sẽ góp phần nâng cao năng lực cán bộ chính quyền ở cấp tỉnh thành và các cấp thấp hơn nhằm làm cho các quá trình lập kế hoạch địa phương nhận được thông tin dữ liệu tốt hơn nhờ các công trình nghiên cứu phân tích được xây dựng trên nền tảng tham gia mang tính chất đối thoại của người nghèo về chính sách. Mặt khác, kết quả nghiên cứu sẽ được hướng đến việc lấp đầy những khoảng trống phân tích trong Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Giảm nghèo và hỗ trợ tăng cường khung giám sát Chiến lược, đặc biệt về những vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ.
1 5.209 đô‐la Mỹ (sau Bà Rịa Vũng Tàu: 14.470) (Đổi mới và Phát triển Con người ở Việt Nam. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. 2001.)
2 0,796 (sau Bà Rịa – Vũng Tàu 0,835 và Hà Nội 0,798 (Đổi mới và Phát triển Con người ở Việt Nam. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. 2001.)
3 Báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 16/10/2003, trang 1.
4 Nghiên cứu Đánh giá tình trạng nghèo có sự tham gia vào năm 1999 (SCUK 1999) và Tham khảo ý kiến cộng đồng về Chiến Lược Toàn Diện về Tăng Trưởng và Xóa Đói Giảm Nghèo (CPRGS) vào cuối năm 2001 (SCUK 2002) đã có một số phát hiện về các khía cạnh nghèo và mối tương quan giữa vấn đề nghèo và di dân.
Trang 16Phần 1: Giới thiệu
Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu Đánh giá Tình trạng nghèo này nhằm tìm hiểu quan điểm cấp cơ sở về nguyên nhân và xu hướng nghèo, và phản hồi của người dân nghèo về những nỗ lực thực hiện chính sách hướng về người nghèo như chính sách giảm nghèo, quy chế dân chủ cơ sở, cải cách hành chính, vấn đề di dân và các vấn đề đô thị khác. Cụ thể, đợt nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các vấn đề sau:
• nhận thức về nguyên nhân và xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm, những rủi ro, tính tổn thương
• tiến độ tăng cường thực hiện dân chủ cấp cơ sở, đặc biệt là mức độ các hộ nghèo có thể tham gia một cách có ý nghĩa vào quá trình lập kế hoạch và ngân sách ở địa phương
• việc cải cách hành chính diễn ra ở cấp chính quyền địa phương như thế nào
• vấn đề về di dân trong bối cảnh đô thị và những vấn đề liên quan.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này là một nghiên cứu Đánh giá Tình trạng nghèo có sự tham gia của người dân (PPA), là một phương pháp không ngừng được công nhận trong thập kỷ vừa qua như là “một công cụ để ghi nhận quan điểm người nghèo trong phân tích vấn đề nghèo và hình thành các chiến lược để giảm nghèo bằng chính sách công”5. Là một PPA, trước hết nghiên cứu này nhằm nâng cao khái niệm và sự hiểu biết về vấn
đề nghèo bằng cách tham vấn ý kiến người nghèo về nguyên nhân nghèo, dựa trên đó các chính sách giảm nghèo có thể được thực hiện hiệu quả hơn nhờ xác định những hành động ưu tiên giải quyết các vấn đề mà người nghèo nhận thấy quan trọng. Thứ hai, nghiên cứu nhằm tăng cường sự tham gia của người nghèo, nhờ vậy khuyến khích cơ chế hiệu quả hơn cho việc học hỏi và phản hồi về các kết quả của các chính sách và chương trình. Thứ ba, nghiên cứu cũng nhằm làm sáng tỏ mức độ các chính sách chủ yếu của nhà nước (như Nghị định Dân chủ cơ sở và Cải cách Hành chính) được biết đến và hiểu như thế nào, tác động được người dân cảm nhận của những chính sách này, và mức độ các cơ quan nhà nước khác nhau được người dân tin cậy
để phân phối lợi ích6.
Dùng các phương pháp và công cụ PPA, nghiên cứu này được thiết kế để bổ sung cho đánh giá nghèo rút ra từ cuộc Điều tra Mức sống Hộ gia Đình của Tổng Cục Thống Kê bằng việc cung cấp những thông tin một nghiên cứu định lượng như cuộc Điều tra không thể thu thập nắm bắt được, như sự đa khía cạnh của tình trạng nghèo, đơn vị phân tích (phân tích các yếu tố nghèo ngoài đơn vị hộ gia đình như tác động của nghèo lên những cá nhân khác nhau về tuổi tác và giới tính trong nội bộ hộ gia đình, hoặc các yếu tố cộng đồng như tiếp cận cơ sở hạ tầng), tính dễ tổn thương và các quá trình động thái.
Để đạt được điều trên, nghiên cứu Đánh giá Tình trạng nghèo này dùng một loạt các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội như thu thập thông tin thứ cấp để có được bối cảnh, cơ sở, và đối chiếu các ghi nhận chính; thảo luận nhóm tập trung, quan sát trực tiếp, phân hạng kinh tế hộ gia đình7, phỏng vấn cá nhân không cấu trúc và bán cấu trúc.
5 Norton, Andy. Đánh giá Tình trạng nghèo có sự tham gia của người dân – Lý thuyết và Thực hành. Overseas Development Institute. 2001.
6 ibid.
7 Xem Phụ lục 1.
Trang 17Dựa trên mục tiêu và phương pháp nghiên cứu trên, cuộc nghiên cứu tình trạng nghèo có sự tham gia của người dân lần này được thực hiện ở Thị trấn An Lạc và Xã Tân Tạo thuộc Huyện Bình Chánh, Phường 4 và Phường 5 Quận 8, là các quận huyện đang đô thị hóa có những đặc điểm và tốc độ phát triển khác nhau. Nghiên cứu thực địa kéo dài hai tuần, từ ngày 3 đến ngày 16 tháng 8 năm 2003. Ngoài ra còn có các giai đoạn chuẩn bị nghiên cứu, tập huấn, viết và thông qua báo cáo kết quả nghiên cứu.
Trong mỗi phường, xã, hoặc thị trấn, để tham khảo ý kiến người nghèo, có 4 cuộc phân hạng kinh tế hộ, mỗi cuộc có 4 tham dự viên; và có 9 cuộc thảo luận nhóm, mỗi cuộc có khoảng 12 tham dự viên, gồm phụ nữ nghèo địa phương, nam nghèo địa phương, phụ nữ nghèo nhập cư, nam nghèo nhập cư (ở độ tuổi từ 35‐55), thanh niên nam nữ nghèo địa phương và thanh niên nam nữ nghèo nhập cư (ở độ tuổi 18‐25), thiếu nhi nghèo địa phương và thiếu nhi nghèo nhập cư (ở độ tuổi 12‐16 tuổi), và chính quyền, ban ngành, đoàn thể địa phương.
Tương tự ở cấp quận huyện, thông tin và ý kiến được thu thập qua các buổi thảo luận nhóm với chính quyền quận huyện và chủ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, mỗi nhóm khoảng 12 người tham dự.
Tổng cộng toàn đợt nghiên cứu có 16 cuộc phân hạng kinh tế hộ, 41 cuộc thảo luận nhóm, và 20 cuộc phỏng vấn sâu các trường hợp điển cứu với 457 người tham dự, được phân chia theo lứa tuổi, giới tính, và vị trí xã hội như sau (xem phụ lục 2):
• Theo tuổi: 271 người lớn (35‐55 tuổi), 92 thanh niên (18‐25 tuổi), và 94 trẻ em (12‐16 tuổi)
• Theo giới: 223 nữ và 234 nam
• Theo vị trí xã hội: 70 cán bộ chính quyền, 17 đại diện doanh nghiệp nhỏ và vừa, và 370 người dân địa phương (trong đó 193 người thuộc diện KT1 và KT2, 177 người thuộc diện KT3 và KT4)
• Theo dân tộc: Đại đa số tham dự viên là người Kinh. Chỉ có một số rất ít (11 người) là người Hoa, và một (01) người là dân tộc thiểu số (Tày).
Tổng số thành viên tham gia nghiên cứu gồm 47 người từ các tổ chức chính quyền, đoàn thể, các cơ quan nghiên cứu và giáo dục, được điều phối bởi tổ chức phi chính phủ là Tổ chức Cứu Trợ Trẻ Em Anh (SCUK). Trong số này có 5 người là nghiên cứu viên của phía SCUK, 9 người từ các viện nghiên cứu và trường đại học, cao đẳng; 15 người là cán bộ chính quyền, ban ngành, đoàn thể địa phương 3 cấp (thành phố, quận/ huyện, phường/ xã/ thị trấn) đã tích cực tham gia như là các nghiên cứu viên chính thức (xem Phụ lục 3). Trung bình mỗi quận/ huyện có 3 cán bộ quận/ huyện và một số cán bộ phường/ xã/ thị trấn tham gia hỗ trợ thảo luận nhóm bằng cách cùng hướng dẫn thảo luận hoặc ghi biên bản. Ngoài ra, các tổ trưởng và trưởng ban nhân dân khu phố/ ấp đã tích cực hỗ trợ xác định người dân nghèo tham gia phân hạng kinh tế hộ, thảo luận nhóm, phỏng vấn trường hợp điển cứu để nhóm nghiên cứu thu thập ý kiến và ghi nhận thông tin.
Trang 18
Phần 1: Giới thiệu
Phạm vi và hạn chế của nghiên cứu
Là một PPA, nghiên cứu này không nhằm đưa ra một bức tranh tổng thể về sự phát triển kinh tế xã hội của TPHCM, cũng không nhằm đánh giá việc thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, một chương trình đã đạt được nhiều thành tựu đầy sức thuyết phục trong thập kỷ qua. Mục tiêu nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các khía cạnh của thực trạng nghèo tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2003 cũng như nêu bật những thách thức còn tồn tại trong bối cảnh Chính phủ đang nỗ lực cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân bằng nhiều biện pháp và phương thức phát triển kinh tế xã hội và giảm nghèo được khẳng định trong Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Giảm nghèo.
Tham gia nghiên cứu này có 370 người dân địa phương nghèo (người lớn, thanh niên,
và trẻ em), trong số 1.248 hộ nghèo (được chương trình Xóa đói Giảm nghèo xác định) tại các phường, xã, thị trấn nơi nghiên cứu được tiến hành. Vì vậy, để đảm bảo các kết luận được xác thực, đáng tin cậy và không thiên kiến, các phương pháp so sánh đối chiếu thông tin dữ liệu được áp dụng để đưa ra thực tiễn, kinh nghiệm, ưu tiên và cảm nhận đại diện của người nghèo.
Bố cục của báo cáo
Báo cáo này được chia làm 6 phần. Phần 1 giới thiệu chung về mục tiêu, địa điểm, phương pháp và thành phần tham gia nghiên cứu. Các phần sau viết về bối cảnh của các địa bàn nghiên cứu thuộc TPHCM (Phần 2) và các thông tin liên quan đến nhận thức về nghèo (Phần 3), sự tham gia và trao quyền (Phần 4), cải cách hành chính (Phần 5), di dân và các vấn đề đô thị khác (Phần 6). Để tiện cho độc giả tham khảo, có một phần tóm tắt báo cáo (trang 1‐3), và ở đầu mỗi phần (từ Phần 3 đến 6) có phần tóm lược các thông tin ghi nhận chính.
Trang 19Phần 2: Địa điểm Nghiên cứu
Huyện Bình Chánh
Huyện Bình Chánh nằm phía tây nam Thành phố Hồ Chí Minh, nối liền Thành phố với Đồng bằng Sông Cửu Long bằng Quốc lộ 1. Huyện Bình Chánh có tổng diện tích 30.458 héc‐ta, trong đó có khoảng 20.000 héc‐ta đất nông nghiệp và 3.000 héc‐ta đất thổ cư. Huyện Bình Chánh có 1 thị trấn và 19 xã.
Huyện có một (01) Trung tâm y tế, 3 phòng khám khu vực, 25 trường mẫu giáo, 53 trường tiểu học và phổ thông cơ sở, 4 trường phổ thông và trung học cơ sở, một (01) trường đặc biệt bán tập trung cho trẻ khuyết tật, một (01) Trung tâm Dạy nghề (một
cơ sở chính và 4 cơ sở phụ) trực thuộc Phòng Lao Động Thương Binh Xã hội), một (01) Trung tâm Giáo dục Thường xuyên.
Quá trình phát triển kinh tế và xã hội mạnh mẽ bắt đầu diễn ra tại Huyện Bình Chánh
từ giữa những năm 1990. Quá trình này đã thu hút một làn sóng người nhập cư từ các quận huyện cũng như tỉnh thành khác đến. Hiện tại có 4 khu công nghiệp và khoảng
900 xí nghiệp và doanh nghiệp (ngoài ra còn có hơn 11.000 hộ kinh doanh cá thể) hoạt động trên địa bàn Huyện, đa số tập trung vào một số xã như Tân Tạo, Lê Minh Xuân, Vĩnh Lộc A, và Thị trấn An Lạc. Vì vậy, dân số tăng trưởng với tốc độ hết sức nhanh, đến mức chính quyền địa phương cho rằng họ khó có thể đưa ra một con số thống kê chính xác về số lượng những người chưa/ không có hộ khẩu thường trú.
Theo thống kê vào tháng 8 năm 2003, có 43.733 hộ gồm 461.647 người cư trú tại Huyện Bình Chánh. Trong số này 182.449 người không có hộ khẩu thường trú (78.844 diện KT3 và 103.605 diện KT4) (xem Phụ lục 4 về các loại hình thức cư trú đối với quản lý hành chính: KT1, KT2, KT3, và KT4). Sự tăng trưởng dân số, đặc biệt là số không có hộ khẩu thường trú đã tăng lên rất nhanh. So với thống kê điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 1999, dân số đã tăng thêm khoảng 130.000 người (Bảng 1)
Thị trấn An Lạc
Thị trấn An Lạc có diện tích 600 héc‐ta, trong đó khoảng 170 héc‐ta đất thổ cư gồm 7 khu phố và 185 tổ dân phố. Nằm dọc theo Quốc lộ 1 và là cửa ngõ vào đồng bằng sông Cửu Long, thị trấn này đã chứng kiến quá trình đô thị hóa từ những năm 1980, sớm hơn khá nhiều so với những xã còn lại của Huyện, khi các xí nghiệp và cơ sở kinh doanh bắt đầu phát triển. Từ đó, quá trình đô thị hóa ở đây tiếp tục diễn ra cùng với quá trình đô thị hóa của Huyện Bình Chánh, làm cho dân số thị trấn cũng tăng nhanh tương ứng. Hiện nay thị trấn có 7.962 hộ với dân số 47.920 người, trong đó khoảng 16.000 (tức một phần ba) người không trong diện đăng ký thường trú. Trong
số này, đáng chú ý là gần 10.000 nhân khẩu thuộc diện KT4 chỉ được ghi nhận như là nhân khẩu chứ không được phân loại là hộ như các diện cư trú khác (KT1, KT2, KT3).
Xã Tân Tạo
Xã Tân Tạo là một trong những xã có diện tích lớn nhất của Huyện Bình Chánh (1.738 héc ta), với khoảng 70 héc ta đất thổ cư với 4 ấp và 158 tổ dân phố Tân Tạo cũng là một trong 4 xã có tiến trình đô thị hoá nhanh và mạnh nhất trong huyện. So với Thị trấn An Lạc, sự gia tăng dân số của Tân Tạo đột biến hơn nhiều. Đến nay, Tân Tạo có 61.023 cư
Trang 20Phần 2: Địa điểm Nghiên cứu
dân với khoảng hai phần ba (2/3) (khoảng 40.000) thuộc diện đăng ký KT3 và KT4. Cũng như ở Thị trấn An Lạc, trong số này, khoảng 35.000 nhân khẩu diện KT4 chỉ được ghi nhận như là nhân khẩu. Có sự gia tăng dân số cao đột biến như vậy là do trên địa bàn
xã các khu công nghiệp và các xí nghiệp, doanh nghiệp lớn, nhỏ, và vừa liên tục thành lập và đi vào hoạt động trong vòng 5 năm qua. Theo số liệu thống kê mới nhất của UBND huyện, hiện tại xã có 3 khu công nghiệp và 116 xí nghiệp lớn mới thành lập.
Bảng 1 Dân số Huyện Bình Chánh, Thị trấn An Lạc và Xã Tân Tạo
Huyện Bình Chánh Thị trấn An Lạc Xã Tân Tạo
47,920 9
31,944 15,976 (33%)
61,023 10
21,501 39,522 (65%) Mức độ tăng trưởng dân số (so với
(28%)
9,911 (21%)
38,940 (64%)
Trang 21do dòng người từ nơi khác đến) thêm 208.129 trong vòng 4 năm qua (xem Bảng 2). Số người không có hộ khẩu thường trú cũng khá cao: 182.449 người (34%).
Một đặc thù của Quận 8 là có một số lượng đáng kể người dân sống dọc trong những khu nhà lụp xụp dọc hai bờ các kênh rạch, vốn chiếm một diện tích đáng kể trong quận. Không có con số thống kê số người này trên toàn quận.
Nghề nghiệp và sinh kế của người dân Quận 8 trong những năm qua đã có nhiều thay đổi, bị tác động bởi sự di dời ra ngoại thành của nhiều cơ sở gây ô nhiễm môi trường (theo Quyết định 81 ngày 8/7/2002), đồng thời do sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong quá trình đô thị hoá. Trong quá trình này, có những người khá lên, cũng có những người nghèo đi. Có người bán đất và kinh doanh thành công. Có người đi làm cho các xí nghiệp và doanh nghiệp ở Phường 6, nơi có khu công nghiệp đang phát triển. Nhiều người mất việc sau khi xí nghiệp di dời và không tìm được việc. Một số phải cố gắng xoay sở sống qua ngày bằng cách tham gia vào thành phần kinh tế phi chính thức, như bán dạo, chạy xe ôm, bán vé số, buôn bán ʺhàng bôngʺ14
để tránh gây ô nhiễm trong các khu dân cư. Tuy nhiên, hầu hết các xí nghiệp vừa và nhỏ thường sản xuất kinh doanh các mặt hàng truyền thống của địa phương hiện vẫn còn hoạt động tại đây.
Trang 22Phần 2: Địa điểm Nghiên cứu
Bảng 2 Dân số Quận 8, Phường 4 và Phường 5
33,589 27,454 6,135 (18%)
32,695 27,498 5,191 (16%) Mức độ tăng trưởng dân số (so với Tổng
(39%)
3,366 (10%)
5,771 (18%)
Trang 23Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm, những
rủi ro và tính dễ tổn thương
Tóm tắt ý chính
Cuối năm nay (2003), Thành phố Hồ Chí Minh phấn đấu xoá nghèo theo tiêu chí của Thành phố. Tuy nhiên, kết quả cuộc nghiên cứu Đánh giá tình trạng nghèo có sự tham gia này cho thấy có sự chênh lệch đáng kể giữa số hộ nghèo được chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo xác định và con số
hộ được người dân địa phương cho là nghèo. Khi phân hạng kinh tế hộ, trong mỗi tổ dân phố, người dân xác định có khoảng 30% đến 50% hộ gia đình là “nghèo” hay “rất nghèo” (so với hộ
“khá giàu” và “trung bình”). Trong khi đó, chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo thường xác định
có từ 2 đến 7 hộ trong mỗi tổ dân phố, tức khoảng 4% đến 15% tổng số hộ là nghèo.
Trong khi có một số người dân được tham khảo ý kiến cho rằng cuộc sống khá lên trong vài năm qua (nhất là nhờ bán đất hay tài sản khác – dù điều này không đảm bảo sinh kế bền vững), số đông còn lại cho rằng cuộc sống trở nên khó khăn hơn và than phiền không đủ ăn, cho con cái nghỉ học sớm và sống lây lất qua ngày.
Có nhiều nguyên nhân lý giải cho cuộc sống ngày càng khó khăn, chứng tỏ rằng nghèo không chỉ là thu nhập ít ỏi, mà còn là chi phí sống cao, công việc bấp bênh, sức khỏe kém, không được học hành, nhà cửa không an toàn và kém vệ sinh, các mối quan hệ xã hội bị hạn chế, và cách biệt giàu nghèo ngày càng tăng.
Việc làm vẫn còn là thách đố lớn đặt ra cho người nghèo. Người nghèo gần như không thể tìm việc làm nhờ các trung tâm giới thiệu việc làm của nhà nước. Còn tìm việc nhờ các dịch vụ việc làm tư nhân thì có rủi ro cao, và có nhiều dịch vụ mang tính ʺlừa đảoʺ. Những công nhân không
có tay nghề, lớn tuổi, hay sức khoẻ kém gặp nhiều trắc trở trên con đường tìm việc. Một khi tìm được, tình trạng thiếu luật lệ hoặc luật lệ không được thực thi làm cho quyền lợi của công nhân thường không được bảo vệ. Công nhân nữ trẻ (chiếm 90% lực lượng lao động trong nhiều xí nghiệp) tỏ ra lo ngại về sự cô lập xã hội của họ.
Chương này trước tiên đề cập đến nhận thức của các nhóm người nghèo khác nhau về tình trạng và xu hướng nghèo được trong vài năm qua, được thể hiện đan xen nhau thông qua các dáng vẻ và các nguyên nhân đa dạng của nó. Tiếp theo là nêu lên các cảm nhận của họ về nghèo như là một vấn đề đa khía cạnh, trong đó nổi lên những rủi ro và tính dễ bị tổn thương
mà người nghèo thường dễ gặp phải. Sau cùng, báo cáo mô tả quá trình nỗ lực để có được sinh
kế và việc làm của đa số người nghèo.
Nhận thức về nghèo và xu hướng nghèo
Người nghèo được tham vấn trong nghiên cứu này có nhiều ý kiến khác nhau về tình trạng nghèo trong vài năm qua.
Một số người cho rằng cuộc sống trong xóm họ được cải thiện, thể hiện qua việc nhiều người khá lên, sửa chữa và cất nhà mới và điều kiện sống của họ cũng khá hơn.
Lý do khá hơn mà người nghèo được tham vấn thường đưa ra đầu tiên và có tần suất cao nhất là do có được một số tiền lớn nhờ bán đất hay được nhà nước đền bù cho nhà và đất bị giải toả. Ngoài ra, một số người nghĩ rằng dấu hiệu một cuộc sống khá
Trang 24Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm và những rủi ro
hơn còn thể hiện qua sự xuất hiện của nhiều hàng quán trong khu phố. Sở dĩ có được những thay đổi tốt hơn này là nhờ cơ sở hạ tầng (nhỏ như hẻm, đường nội bộ, và/ hoặc là xa lộ) được nâng cấp; cũng như nhờ có nhiều người nhập cư đến, trở thành
một nguồn tiêu thụ thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển: “Một số người xây dựng
nhà trọ cho công nhân ở và kiếm được nhiều tiền” (tất cả các nhóm người lớn và chính
quyền địa phương). Nhìn chung, khi người nghèo đề cập những trường hợp khá lên này, họ thường nói về người khác chứ không phải về chính bản thân họ.
Tuy nhiên, người nghèo cũng nhận thấy rằng một mặt có những nguyên nhân tạo ra công ăn việc làm tốt hơn và bền vững. Song mặt khác lại có những nguyên nhân chỉ mang đến một sự sung túc nhất thời mà không tạo ra một sinh kế bền vững; trong trường hợp như thế, họ bị sa sút, rơi vào nghèo đói và không còn khả năng đối phó một khi phải đối mặt với rủi ro. Nổi bật lên trong số những nguyên nhân trên là việc
có được một số tiền nhờ chuyển nhượng đất đai, là hệ quả của quá trình đô thị hoá ở nhiều vùng ven của thành phố. Theo những người nghèo được tham vấn trong nghiên cứu này, khả năng được phất lên nhờ chuyển nhượng đất đai dường như cũng ngang ngửa với khả năng bị nghèo đi (vì dùng hết số tiền mà không đầu tư sinh lợi được), rồi trắng tay, và thậm chí rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất, ngày càng lún sâu và không thể thoát ra được. Người nghèo nêu lên nhiều ví dụ sinh động về các trường hợp láng giềng chuyển nhượng đất, dùng số tiền có được để xây nhà, mua sắm những vật dụng tiêu dùng đôi khi quá xa hoa, mà không biết đầu tư sinh lợi để có sinh kế bền vững, phần lớn vì họ chưa từng làm ăn, mà trước giờ chỉ làm nông. Rốt cuộc họ ăn xài hết số tiền đó và phải bán hết đồ đạc, kể cả bán nhà và rơi vào cảnh nợ nần.
Cũng có một số người cho rằng cuộc sống của họ khá lên đôi khi chút là nhờ có được việc làm ổn định nhờ con cái lớn đi làm và phụ giúp kinh tế gia đình, hay nhờ được thừa hưởng gia tài, của cải. Những phát hiện của nghiên cứu này cũng nhất quán với nghiên cứu tham khảo ý kiến người dân vào năm 1999 và 2001.
Cũng có một số người khác khá hơn chút ít nhờ vào việc bán hàng bông và thức ăn cho các công nhân, nhập cư làm việc tại các khu công nghiệp và chế xuất. Theo các nhóm nữ và nam nghèo thường trú và nhập cư, đặc biệt là tại xã Tân Tạo, Huyện Bình Chánh, việc hình thành 4 khu công nghiệp và hàng trăm các doanh nghiệp lớn đã tạo
công ăn việc làm cho hàng ngàn dân nghèo: ʺNhờ có cái (xí nghiệp) Pou Chen thành lập,
đi làm ở đó được có tiền” (nhóm nữ nghèo thường trú Tân Tạo).
Cũng có một vài trường hợp cho rằng cuộc sống của họ khá hơn lên là do vay mượn quỹ tín dụng Xoá Đói Giảm Nghèo, Hội Phụ Nữ, CIDSE, CEP và làm ăn buôn bán có lời. Nhóm trẻ em ở Bình Chánh cũng như Quận 8 còn cho biết thêm rằng một số phụ
Trang 25(nhóm phụ nữ nghèo thường trú).
Ở một góc tối của bức tranh nghèo, có thể thấy là vẫn còn đa số người nghèo được tham khảo ý kiến cho rằng cuộc sống của họ trở nên khó khăn hơn trong mấy năm
qua. Nhiều người “không có đủ cái ăn”, phải cho con cái nghỉ học sớm. Họ chỉ biết sống tạm bợ, ʺlây lất cho qua ngàyʺ, ʺsống hôm nay không biết đến ngày maiʺ, hay ʺtới đâu hay
tới đóʺ (tất cả các nhóm người lớn và thanh niên).
Tất cả các nhóm thảo luận, kể cả nhóm trẻ em, cho rằng cuộc sống của họ vất vả hơn
là do nhiều nguyên nhân khác nhau như:
- Không có công ăn việc làm do trình độ học vấn thấp, thiếu tay nghề, thiếu mạng lưới hỗ trợ xã hội, không biết thông tin tuyển dụng lao động, mất việc làm cũ hoặc trở nên thất nghiệp do doanh nghiệp đóng cửa/ di dời đi nơi khác và do bị dẹp chợ (chợ tự phát).
- Công việc, làm ăn, buôn bán không ổn định, như buôn gánh bán bưng, chạy xe
ôm, làm hồ, làm thuê mướn.
- Không biết làm ăn, thua lỗ, và mất hết vốn (có được nhờ bán đất hay được đền bù giải tỏa).
- Bị tịch thu các phương tiện kiếm sống (do buôn bán trên vỉa hè, lề chợ).
- Mù chữ, trình độ học vấn thấp, không có tay nghề, kỹ năng chuyên môn để có việc làm ổn định.
- Bệnh tật và rơi vào cảnh nợ nần do chi phí khám chữa bệnh tốn kém.
- Gia đình đông con (đặc biệt là những gia đình có con còn nhỏ, chưa đến tuổi đi làm).
- Đóng các khoản phí cao để cho con đi học.
- Sa vào tệ nạn như cờ bạc, ăn chơi phung phí, nghiện ngập xì ke ma túy, vì vậy rơi vào cảnh nợ nần.
Hơn nữa, việc chi tiêu cần thiết để duy trì các mối quan hệ xã hội như thường xuyên tham dự các đám cưới, hỏi, ma chay, giỗ, tiệc tùng của xóm giềng cũng làm cho họ khó có thể có được số tiền để dành từ nguồn thu nhập khiêm tốn.
Ngoài những nhận thức nghèo tương tự giữa tất cả các nhóm dân, có một số nhóm có thêm vài nguyên nhân đặc biệt khác cũng làm cho cuộc sống của họ nghèo đi. Dưới đây là một số nguyên nhân đáng chú ý.
Người dân sống dọc kênh rạch ở Quận 8 còn phải chịu thiệt thòi vì tình trạng nhà cửa thường xuyên xuống cấp. Cứ mỗi khi dành dụm được một số tiền họ lại phải chi
dùng vào việc sửa chữa nhà cửa, vì thế họ khó có thể thoát được cảnh nghèo. “Tụi tui
ở nhà sàn có đóng cừ trên kênh nên thường cứ 2‐3 năm phải thay cừ để nhà khỏi bị sụp”
(nhóm nam nghèo và nữ nghèo Quận 8). Ngoài ra họ còn phải chịu các rủi ro như ngập nước, cháy nhà vì thường sống trong các khu dân cư môi trường thấp kém nằm trong các hẻm nhỏ, sâu, ngoằn ngoèo chật chội hoặc ven kênh rạch.
Riêng đối với nhóm nhập cư, còn có các yếu tố khác nữa khiến cho cuộc sống của họ không khá lên dù họ đã cố gắng làm việc và tiêu xài tằn tiện, có thể được kể tóm tắt như sau:
Trang 26Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm và những rủi ro
Tính đa khía cạnh của tình trạng nghèo
Ngoài việc thấy rõ các nguyên nhân nghèo, người nghèo cũng nhận thức được rằng nghèo là một tình trạng có rất nhiều khía cạnh khác nhau. Trong các bài tập phân hạng kinh tế hộ tiến hành tại các tổ dân phố, người dân địa phương đã đưa ra hành loạt các tiêu chí nghèo đa dạng để dựa theo đó mà phân hạng một hộ gia đình là
“khá”, “trung bình”, “nghèo”, hay “rất nghèo”. Các tiêu chí này, sau khi được tổng hợp lại, cho thấy nhiều điểm tương đồng nổi bật và nhìn chung có thể quy vào một số nhóm như giàu hay nghèo về vật chất (thu nhập, tài sản, điều kiện sống, chất lượng cuộc sống), khả năng và vốn con người (trình độ học vấn và sức khoẻ), các nguồn lực
xã hội và chính trị (mạng lưới hỗ trợ xã hội, tiếng nói và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tiếp cận thông tin), và sự bấp bênh cũng như những tổn thương (xem Bảng 3). Theo kết quả của nghiên cứu đánh giá nghèo lần này, trung bình có khoảng 40% KT1
và KT2, 50% hộ KT3 và 30% KT4 của tổng số hộ trong tổ dân phố được cộng đồng phân hạng là thuộc dạng “nghèo” và “rất nghèo”. Những con số này cho thấy một sự khác biệt rõ rệt giữa nhận thức về nghèo của người dân địa phương và tiêu chí xếp loại nghèo của chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo (xem Khung 1), chủ yếu là dựa trên thu nhập. Theo chương trình này, thường có khoảng từ 2 đến 7 tức 4% đến 15% hộ trong tổ dân phố (tổng trung bình mỗi tổ có khoảng 48 hộ) là thuộc diện nghèo. Ngoài ra, có ghi nhận rằng bài tập phân hạng kinh tế hộ này đã bỏ sót một số lượng đáng kể các hộ
và nhân khẩu KT3 và KT4, những người tương đối không được các phân hạng viên biết đến nhiều. Các con số khác nhau về số lượng người nghèo này cho thấy người dân nghèo ngày càng nhận thức về vấn đề nghèo là một vấn đề có nhiều khía cạnh đa dạng (không chỉ là thu nhập) và các khía cạnh của tình trạng nghèo có liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại và tạo nên cái gọi là “vòng luẩn quẩn của đói nghèo”
Khung 1: Tiêu chí xác định hộ nghèo của chương trình Xóa Đói Giảm Nghèo
Tiêu chí đầu tiên và quan trọng nhất để xếp loại hộ nghèo của chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo là dựa trên thu nhập (chủ yếu là bình quân thu nhập đầu người/ năm). Ở các huyện ngoại thành như Huyện Bình Chánh, tiêu chí này là 2.500.000 đồng/người/năm (được áp dụng từ năm 1997 đến nay). Ở các quận nội thành như Quận 8 là 3.000.000 đồng/người/năm (được áp dụng từ năm 1997 đến nay). Tiêu chí thứ hai là hộ khẩu thường trú. Tuy nhiên, các tiêu chí này chỉ được xem là những điều kiện cần. Các điều kiện
đủ bao gồm các: nhân khẩu có khả năng lao động và chịu khó làm ăn, không rượu chè, cờ bạc, đánh đề, hay nghiện ngập ma túy. Người nhập cư được xét chọn vào chương trình XĐGN nếu họ có nhà, có hộ khẩu KT3 và công việc làm ổn định (theo kết quả phỏng vấn cán bộ XĐGN cấp quận huyện và thành
phố)
So với nghiên cứu Đánh giá tình trạng nghèo 1999 (SCUK 1999) cũng như Tham khảo
ý kiến cộng đồng về chiến lược CPRGS năm 2001 (SCUK 2002), nghiên cứu Đánh giá tình trạng nghèo lần này không có những điểm khác biệt nổi bật về sự đa dạng khía cạnh của tình trạng nghèo. Nhìn chung tất cả các nhóm người nghèo không chỉ quan
Trang 27tâm đến các khía cạnh vật chất và hữu hình của tình trạng nghèo như thu nhập, của cải, điều kiện nhà cửa, mà còn quan tâm những khía cạnh khác như giáo dục, sức khoẻ, các mạng lưới hỗ trợ, sự bấp bênh, công việc mùa vụ, và tính rủi ro dễ tổn thương (xem bảng 3). Tuy nhiên, cũng có một số điểm đáng chú ý giữa nghiên cứu lần này và hai lần trước.
Khung 2 Ý nghĩa của các nguồn lực chính trị và xã hội đối với người nghèo
Trước tiên người nghèo tham khảo ý kiến lần này rất quan tâm đến các cơ hội phát triển cũng như các nguy cơ bị mai một nguồn vốn con người. Họ đặc biệt quan tâm đến việc học hành con cái và xem đó như là một tài sản thiết yếu để vượt qua đói nghèo và có cơ hội vươn lên trong xã hội. Tuy vậy chi phí cho con cái đến trường hoặc các trung tâm dạy nghề quá cao đã buộc họ phải cho con cái nghỉ học và không ít các trường hợp con cái của họ phải trở thành trẻ lao động sớm. Đến lượt những trẻ em này lớn lên lại trở thành những người thất nghiệp. Vì vậy, tình trạng nghèo từ thế hệ này
sang thế hệ khác cứ tiếp diễn, kiểu “nghèo từ đời ông bà cha mẹ đến đời con cái” như một
nam nghèo ở Phường 4 Quận 8 nói. Ngoài trình độ học vấn, sức khoẻ ngày càng được tất cả các nhóm nghèo, kể cả thanh niên và trẻ em nhận thức như là một phương tiện sản xuất tạo ra của cải. Sự hao mòn sức khỏe vì bệnh tật, tai nạn và bóc lột lao động làm cho họ cạn kiệt những khoản tiết kiệm và vô hiệu hoá mọi nỗ lực vươn lên của họ.
Một điểm tương đồng nổi bật thứ hai giữa các nhóm là mối quan tâm càng nhiều về việc tiếp cận các dịch vụ và chương trình hỗ trợ của nhà nước, các nguồn lực chính trị
và xã hội. Người nghèo ngày càng nhận ra rằng tình trạng thiếu tiếng nói của chính
họ và sự thiếu cơ chế hữu hiệu đảm bảo tính chịu trách nhiệm với dân của các cơ quan nhà nước là một trong những yếu tố liên quan mật thiết đến tình trạng nghèo. Người nghèo được tham vấn tỏ ra hiểu rõ rằng việc thiếu hộ khẩu thường trú và chi phí cao đã tạo ra những rào cản làm cho họ không tiếp cận được dịch vụ xã hội cơ bản. Việc không tiếp cận được những dịch vụ cơ bản như nước, tín dụng, giáo dục, đào tạo tay nghề, và y tế không chỉ làm cho tài sản, nguồn lực tài chính và vốn con người bị cạn dần mà còn làm cho họ không thể tạo ra của cải vật chất. Những người
có nguồn lực và phương cách xoay sở hạn hẹp rơi vào cảnh nợ nần và càng túng bấn hơn. Nhìn chung, đa số người nghèo được tham vấn chưa cảm thấy các biện pháp giảm nghèo của nhà nước đã tạo những tác động tích cực cho cuộc sống của họ. Hơn nữa việc thiếu mạng lưới hỗ trợ xã hội, mà đặc biệt người nhập cư thường gặp phải,
là một trở lực lớn đối với việc dành dụm tích lũy. Người nhập cư không được hưởng một số lợi thế mà người địa phương hưởng được nhờ là thành viên lâu năm của cộng đồng, như là mua chịu, hay mượn tiền với lãi suất thấp hay không có lãi suất từ hàng xóm của họ.
Trang 28Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm và những rủi ro
Khung 3 Người nghèo nhận thức được chất lượng cuộc sống của họ thấp
“Có tivi nội địa/ trắng đen/ người ta cho ” (nhóm nam nghèo và nữ địa phương)
“Sống trong môi trường hôi thối bệnh nhiều” (tất cả các nhóm địa phương và nhập cư kể cả thanh
niên và trẻ em)
“Công việc bấp bênh không vững/ nghề nghiệp không ổn định/ kêu làm gì thì làm đó, buôn gánh bán bưng/ buôn bán bậy bạ lây lất, công việc mùa vụ” (tất cả các nhóm, kể cả thanh niên và trẻ em)
Trang 29Bảng 3 Tính đa khía cạnh của tình trạng nghèo
Thu nhập không đủ ăn
Thu nhập không đủ để đóng tiền học cho con
Thu nhập thấp
Thu nhập không đủ mua thức ăn
và quần áo, thu nhập quá thấp không đáp ứng được nhu cầu của người trong nhà
Không có đất, thiếu thu nhập
Không đủ tiền xài
Không dư ăn, gạo không có để nấu
Thu nhập thấp hơn mức chi tiêu
Tiện nghi gia đình rất hạn chế,
không có giường tủ, bàn ghế
Tiện nghi vật chất (đồ dùng,
chén bát) không có Không có phương tiện xe cộ để
đi học
Không có khả năng lấp sàn nhà, không có tiền sửa, cừ mục
Không có tiền sửa chữa nhà
Không có tiền sửa chữa nhà Không có tiền sửa nhà Thiếu nợ phải bán nhà
Nghèo đi vì phải bán nhà trả nợ Không có tiền sửa chữa nhà
Nhà mưa ngập lầy lội, khổ, dơ
Có bữa có tiền mua gạo, có bữa không, mua gạo từng ngày
Thiếu ăn thiếu gạo phải chạy ăn từng
bữa Bữa cơm bữa cháo Gạo không đủ ăn, áo không đủ
mặc
Cuộc sống không ổn định Nước nôi không đủ, nước phèn, giếng
không lọc nên bị ghẻ ngứa, cả khu nước giếng vàng, hôi, thuốc tẩy nặng mùi
Chất lượng cuộc
sống
Trẻ bị bệnh do phải sống trong môi trường ô nhiễm (cứ 10 trẻ thì có tới 8 trẻ bị bệnh)
Bệnh hoạn, không đủ khả năng chữa chạy
Trẻ bị bệnh không tiền chữa trị
Không có tiền mua thuốc
Bệnh không có tiền chữa bệnh
Trang 30Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm và những rủi ro
Tivi nội địa/ người ta cho/ rẻ tiền Chỉ có tivi trắng đen Coi nhờ tivi
Ba chạy xe honda ôm xe hay bị
hư phải sửa hoài, tiền làm ngày nào sửa xe ngày đó
Ngồi bán ở lòng lề đường bị công
an bắt
Việc làm bấp bênh, bữa có bữa không
Chồng thất nghiệp ở nhà coi con Nghề nghiệp không ổn định Thất nghiệp thường xuyên Thường xuyên thất nghiệp Buôn bán ế ẩm Làm ăn thất bại, bị cạnh tranh
Sinh kế
ăn việc làm lại còn lo cho con ăn học và công việc gia đình
Con cái thất học
Con thất học đi làm nuôi gia đình Nhiều trẻ phải nghỉ học và lao động sớm Đóng tiền 90.000 đồng nên phải nghỉ học Trẻ bị thiếu học, thất học, bỏ học
Một người lao động nuôi nhiều người
Phải nghỉ học để kiếm sống phụ gia đình
Phải nghỉ học sớm để kiếm tiền nuôi cha mẹ, phụ giúp gia đình (làm mướn thuê, giặt đồ thuê)
Con đi học không có tiền đóng học phí, phải nghỉ học nửa chừng
Không có tiền đóng tiền học,
không tiền mua sách vở nên phải nghỉ học nửa chừng
Không tiền nên không học được
Không có tiền đóng tiền học nên trẻ em phải bỏ học nửa chừng
Bệnh đau suốt ngày nên làm bao nhiêu cũng không đủ
Nuôi người già cả trong nhà
Nguồn vốn con
người
Không có tay nghề chuyên môn, phải
đi làm công Không có trình độ học vấn Ăn học kém, đi làm xí nghiệp đòi trình độ Không có nghề, không đủ tuổi đi làm, không có tay nghề nên
không làm ở xí nghiệp được
Các nguồn vốn xã
hội
Không biết dựa vào đâu, không có người thân giúp đỡ
Không nơi nương tựa, nhờ vả
Mối quan hệ với những người có chức
có quyền để nhờ vả giúp đỡ với người nghèo chỉ là mơ thôi
Phải có quen biết thì mới vào làm trong xí nghiệp được
Trang 31Trong xóm có quyên góp để giúp
đỡ người nghèo bị chết
Ở trường có cho học bổng vì nhà nghèo cho những học sinh học giỏi
Không có số nhà nên không được điện nước
Điện nước phải câu lại giá cao
Nhà không có số
Điện nước câu lại quá cao Phải xài nước giếng Nhà không có hộ khẩu
Không có tiền thì nhà thương thành nhà ghét Đi khám bệnh có tiền thì mới được khám trước và đối xử tử tế,
không có tiền thì bị đối xử cộc cằn
Con học lớp tình thương, phổ cập Con cái đi học không có tiền
đóng học phí, phải đi học lớp tình thương
Không có giấy tờ nên không đi học/ trẻ
đi học tư vì không giấy tờ
Học trò nghèo không có học thêm nên
bị thầy chèn ép, bị phân biệt đối xử
Đi học khó khăn, không được học trường chính quy
Không tiền nên không học được trường nhà nước, phải đi học lớp học tình thương vào buổi tối Không vay vốn nhà nước được vì
không có gì để thế chấp Không tài sản thế chấp để vay ngân hàng
Tiếp cận các dịch
vụ xã hội
Không có nhà, không có bà con nên không vay mượn, không ăn chịu được (nhóm nhập cư)
Thiếu tự tin
Mặc cảm với hộ khá hơn, mặc cảm với người giàu, không dám giao tiếp với người giàu
Không muốn chơi với nhà giàu vì sợ
mang tiếng, nhà giàu chơi có phe với nhau nên không dám chơi
Hộ giàu thì tối ngày đóng cửa, không nói chuyện, không có ai bị những chuyện gì làm cho bản thân thấy thương tâm, tủi thân
Khổ nhất là người nghèo bị thua thiệt
vì người giàu nghĩ người nghèo lợi dụng mình, chơi để mượn tiền
Trẻ bị ảnh hưởng về tinh thần, mặc cảm
Bị người giàu kế bên nhà ghét Giàu thì có tiền ăn chơi còn mình nghèo thì phải kiếm sống Người có chức có quyền, giàu có khinh ghét người nghèo
Đi làm ma cũ ăn hiếp ma mới Ở nhà trọ người ta muốn đuổi thì
Trang 32Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm và những rủi ro
Dính đến rượu chè, tệ nạn Nhậu nhẹt Nghèo dễ dẫn đến tệ nạn
Con em hút chích Con cái vướng vào ma túy, gia đình có người bị bệnh Siđa Chồng chết phải sống vậy nuôi con
Bị ép lương, ngày xưa làm 20.000 đồng, bây giờ làm 15.000 đồng vẫn phải đi làm
Trời mưa bão, hồ không làm được
(công việc mùa vụ)
Người lao động trụ cột trong gia đình mất
Mắc nợ cả năm trời vì phải trả lãi cao Không trả hết nợ nổi (vay từ
nhiều nguồn khác nhau) vì lãi suất cao
phó với rủi ro, và
cơ hội thay đổi
Trang 33Điểm tương đồng nổi bật thứ ba là người nghèo bắt đầu chú ý đến cách biệt giữa chất lượng cuộc sống của họ và của người khá giả. Nghèo không chỉ là vấn đề có hay không có, mà còn là vấn đề chất lượng của những gì người ta sở hữu. Khung 3 minh họa những ý kiến được ghi nhận nhiều nhất của người nghèo về hoàn cảnh của họ ở tất cả các địa bàn nghiên cứu.
Ghi nhận cuối cùng là người nghèo cũng rất hiểu rõ về những rủi ro và tính dễ tổn thương làm cho họ có nhiều nguy cơ rơi vào nghèo đói không thể thoát ra được, dù
họ cũng nhận thấy rằng họ không thể làm gì để xoay chuyển tình thế. Sự bấp bênh của sinh kế và công ăn việc làm khiến cho họ rất dễ rơi vào cảnh nợ nần và nghèo đói triền miên. Nhóm nam trung niên cho rằng họ rất dễ bị thất nghiệp và phải làm công việc mang tính thời vụ vì họ đã lớn tuổi. Thanh niên đặt biệt lo lắng về sự thiếu tin cậy của các dịch vụ giới thiệu việc làm, về tình trạng sức lao động của họ bị bóc lột, bị
ép giá tiền lương, không có bảo hiểm y tế và bảo hiểm tai nạn, ốm đau bệnh tật, tai nạn, ngộ độc thực phẩm tại nơi làm việc, sự phụ thuộc vào lao động làm công ăn lương, chủ đột ngột cắt thoả thuận lao động không hề báo trước. Những điều này làm cho họ bị thất nghiệp và dễ dàng rơi vào cảnh nợ nần. Trẻ em ở nhiều địa bàn, hầu hết
là trẻ lao động sớm, nêu lên những lo lắng về tình trạng thất nghiệp của chính bản thân và của gia đình, về bệnh tật ốm đau trong khi làm việc, việc không được đi học
Khi tìm việc, người nghèo đương đầu với nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thông tin về việc làm. Người nghèo không tiếp cận các dịch vụ giới thiệu việc làm của nhà nước vì họ không biết có các dịch vụ này hoặc không biết có thể tiếp cận dịch vụ này
ở đâu. Các chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ nói rằng họ không bao giờ liên hệ với các dịch vụ giới thiệu việc làm của nhà nước để tuyển dụng vì họ cho rằng chất lượng các dịch vụ này không tốt. Khi cần tuyển dụng, họ thường thông báo cho công nhân của
họ giới thiệu người quen vào làm. Vì vậy, người nghèo, đặc biệt là những người nhập
cư, thường phải đến các dịch vụ giới thiệu việc làm của tư nhân. Các dịch vụ tư nhân thường yêu cầu phí dịch vụ (khá cao, từ 70.000 đến 100.000 đồng cho mỗi lần xin việc) sau khi người nộp đơn đã được tuyển dụng. Tuy nhiên, hầu hết người nghèo kể lại rằng những dịch vụ tư này không đáng tin cậy. Có không ít trường hợp các việc làm
do các dịch vụ tư nhân giới thiệu thường không được bền lâu. Những người được tuyển có thể chỉ làm trong một thời gian ngắn, chỉ được vài ngày hoặc vài tuần, do họ
bị đuổi việc vì không đạt yêu cầu hay vì chính bản thân họ quyết định nghỉ vì lương quá thấp (không đúng như thỏa thuận ban đầu với dịch vụ giới thiệu việc làm) hoặc công việc quá nặng nhọc và bóc lột sức lao động. Người nghèo thẳng thắn nói rằng đây là một loại dịch vụ có tính lừa đảo hay lường gạt.
Trang 34
Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm và những rủi ro
Người nghèo diễn đạt tâm trạng bất an về phương kế sinh nhai hiện tại của họ. Nhiều người trong nhóm nam nghèo lo lắng về sự bấp bênh trong công việc lao động phổ thông ăn lương hàng ngày. Họ không chỉ bị làm thời vụ mà còn phải đương đầu với nhiều rào cản vì các luật lệ và đòi hỏi các giấy phép, các loại giấy tờ do nhà nước ban hành. Nghị định 36 NĐ‐CP về việc cấm buôn bán trên lòng lề đường, giống như những ghi nhận trong hai nghiên cứu tham khảo ý kiến người dân trước đây, vào năm 1999 và 2001 (SCUK 1999; SCUK 2002), nay cũng được người dân đề cập như là nỗi lo lớn. Họ lo lắng về khả năng bị tịch thu phương tiện sản xuất hay bị phạt hành chính với các mức phạt tiền mà theo họ là quá nặng, nhất là đối với những người buôn gánh bán bưng qua ngày. Ngoài ra, các chính sách xã hội hay các quy định mới
để thiết lập lại an ninh trật tự cũng làm người nghèo thêm phần khó khăn. Nhóm nam nghèo có ý kiến rằng quy định buộc người lái xe gắn máy trên 50 phân khối có bằng lái đã làm họ hạn chế lộ trình chở khách hay chở hàng vì họ không đủ trình độ học vấn để đi thi lấy bằng, trong khi đó khách lại không thích đi xe 50 phân khối cũ (không cần có bằng lái).
Riêng người làm công ăn lương nhìn chung cho rằng họ may mắn hơn nhờ có thu nhập ổn định. Tuy nhiên nhiều người thổ lộ rằng họ cũng có nguy cơ mất việc vì họ không ký hợp đồng lao động và không có bảo hiểm xã hội. Nhiều thanh niên làm việc trong các nhà máy xí nghiệp lớn than phiền họ phải làm việc quá sức vì chủ kéo dài giờ làm và giờ giấc không ổn định. Và khi họ bị ốm đau nghỉ ngày nào thì không có tiền lương ngày đó; trong khi tần suất ốm đau ngày một cao theo thời gian làm việc. Nếu chẳng may gặp phải tai nạn lao động, khiến họ bị ốm nặng hoặc khuyết tật, họ
càng dễ bị mất việc hơn mà không có cơ chế đền bù hay hỗ trợ nào. “Tôi bị sắt đè ở
xưởng, đã hơn hai mươi ngày nay tôi không đi làm kiếm tiền được. Tôi phải vay “nóng” để trả tiền thuốc và tiêu xài mỗi ngày. Chẳng biết khi nào tôi mới đi làm lại được để trả hết số nợ này” (một nam nhập cư tuổi 30 ở Thị trấn An Lạc). Hầu hết người nghèo khẳng định
số tiền quá ít, nhiều khi còn không đủ tiền xe, nên họ thấy không đáng.” Hầu hết chủ các
doanh nghiệp nhỏ và vừa cho rằng công nhân của họ không muốn có bảo hiểm xã hội
vì họ không muốn bị trừ lương. Theo ý kiến của người nghèo thì trung bình có