1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tài liệu Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại TPHCM pptx

69 389 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại TPHCM
Tác giả Trịnh Hồ Hạ, Huỳnh Thị Ngọc Tuyết, Bill Tod
Trường học Trường Đại học Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Đánh giá Nghịp có Sự Tham Gia Của Cộng Đồng
Thể loại Báo cáo nghiên cứu thực tế
Năm xuất bản 2003
Thành phố TPHCM
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khuôn khổ nghiên cứu cuối cùng bao quát những lĩnh vực nghiên cứu như sau: • Nhận thức về nghèo đói và xu hướng nghèo, nguyên nhân dẫn tới nghèo và khả năng dễ bị tổn thương; • Tiến bộ t

Trang 1

Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại TPHCM

Trang 2

   

Tháng 7‐8/ 2003 

Trang 4

M ụ c L ụ c

Danh mục các Bảng và Khung  iii 

Lời nói đầu của Nhóm hành động chống đói nghèo v 

Lời cảm ơn vii 

Những chữ viết tắt  ix 

Tóm tắt Báo cáo  1 

Phần 1: Giới thiệu  4 

Phần 2: Địa điểm Nghiên cứu  8 

Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm, những       

      rủi ro và tính dễ tổn thương 12 

Phần 4: Tham gia và Tăng cường Năng lực trong việc Đưa ra các Quyết định tại      

      Địa phương  25 

Phần 5: Cải cách Hành chính công  32 

Phần 6: Di dân và các Vấn đề Đô thị 39 

Tài liệu Tham khảo  48 

PHỤ LỤC 1: Phương pháp nghiên cứu  49 

PHỤ LỤC 2: Số liệu Tóm tắt Tham vấn tại Địa bàn Nghiên cứu  51 

PHỤ LỤC 3: Danh sách thành viên nhóm khảo sát thực địa  54 

PHỤ LỤC 4: Các loại hình thức cư trú đối với quản lý hành chính  55 

PHỤ LỤC 5: Quan hệ đối tác trong Đánh giá nghèo theo vùng  57

Trang 5

Bảng

Bảng 1: Dân số huyện Bình Chánh, Thị Trấn An Lạc và Xã Tân Tạo 9  Bảng 2: Dân số Quận 8, Phường 4 và Phường 5 11 Bảng 3: Tính đa khía cạnh của tình trạng nghèo 18 Bảng 4: Ý kiến của cán bộ và người dân địa phương về các lĩnh vực  

      dân chủ cơ sở 27 Bảng 5: Ý kiến của cán bộ và người dân địa phương về cơ chế tăng cường sự  

       tham gia và đảm bảo việc phổ biến, trao đổi thông tin 29 Bảng 6: Dân chủ cơ sở trực tiếp và đại diện 30

Khung

Khung 1: Tiêu chí xác định hộ nghèo của chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo 15 Khung 2: Ý nghĩa của các nguồn lực chính trị và xã hội đối với người nghèo 16  Khung 3: Người nghèo nhận thức được chất lượng cuộc sống của họ thấp kém 17 Khung 4: Quy trình xét chọn hộ hưởng chương trình Xoá đói giảm nghèo  

      tại khu phố 31 Khung 5: Rơi vào cảnh nghèo vì tác động của quy hoạch đô thị 45 

Trang 6

L ời nói đầu của Nhóm hành động chống đói nghèo

 

Tháng 5 năm 2002, Chính phủ Việt Nam đã hoàn thành Chiến lược toàn diện về tăng trưởng  và  xoá  đói  giảm  nghèo  (CPRGS)  và  bắt  đầu  quá  trình  triển  khai  thực  hiện CPRGS  ở  cấp  địa  phương.  Thông  qua  các  chiến  dịch  thông  tin  và  hàng  loạt  các  hội thảo vùng, cán bộ của các bộ ngành chủ chốt đã giải thích cho đại diện của các chính quyền  địa  phương  về  các  phương  pháp  sao  cho  các  quy  trình  lập  kế  hoạch  của  địa phương có thể được thực hiện theo định hướng vì người nghèo hơn, dựa trên số liệu thực tế hơn, chú trọng vào kết quả hơn, cân đối tốt hơn trong các quyết định phân bổ nguồn lực và được giám sát tốt hơn.  

 

Năm 2003 Nhóm hành động chống đói nghèo (PTF) đã hỗ trợ thực hiện cho các đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng (PPAs) ở 12 tỉnh của Việt Nam. Những đánh giá nghèo này đã sử dụng khung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu chung để tìm hiểu những vấn đề nghèo đói mà các số liệu định lượng đã không mô tả được hết. Mục đích của việc làm này là đưa ra một nghiên cứu có thể sử dụng cùng với số liệu của Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam để cung cấp thông tin cho Ban thư ký CPRGS về tiến độ thực hiện CPRGS cho tới nay. Đánh giá nghèo cũng được thiết kế 

để cung cấp thông tin cho các nghiên cứu mới về nghèo đói ở các vùng và trên toàn quốc  và  các  nghiên  cứu  này  cũng  đã  được  công  bố  riêng.  Các  đánh  giá  nghèo  theo vùng sẽ được sử dụng như những công cụ xây dựng năng lực cho các quy trình lập kế hoạch với định hướng vì người nghèo ở các cấp chính quyền địa phương.  

 

Tám nhà tài trợ đã đóng góp nguồn lực tài chính và nhân lực để hỗ trợ cho các đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng, là cơ sở cho việc xây dựng báo cáo này và các đánh giá nghèo theo vùng bổ sung. Các nhà tài trợ bao gồm ADB, AusAID, DFID, GTZ, JICA, SCUK, UNDP và Ngân hàng Thế giới. Mỗi nhà tài trợ đóng vai trò chính ở một vùng của Việt Nam. Việc phân bố các vùng giữa các nhà tài trợ được tóm tắt ở Bảng A, và dựa trên định hướng hoạt động của các nhà tài trợ trong từng lĩnh vực. Bằng  cách  lựa  chọn  vùng  nào  mình  thấy  quen  thuộc  nhất,  thông  qua  các  dự  án  và hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, các nhà tài trợ có thể tận dụng hoàn toàn được những hiểu biết tích luỹ được khi đã làm việc tại vùng đó.  

 

Các nhóm nghiên cứu đã tiến hành đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng ở 43 

xã  rải  rác  trên  toàn  quốc.  Trong  số  đó  có  hai  tổ chức  phi  chính  phủ  quốc tế  (Action Aid và SCUK), các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan nghiên cứu của Việt Nam, bao gồm Trung tâm phát triển nông thôn, Viện xã hội học (IOS), Trung tâm Chăm sóc sức  khoẻ  ban  đầu  Long  An,  Trung  tâm  dịch  vụ  phát  triển  nông  thôn  (RDSC)  và Vietnam Solutions.  Ngoài ra, có hai nhà tài trợ đã tiến hành nghiên cứu bằng cách lập các nhóm nghiên cứu gồm các chuyên gia trong nước dưới sự quản lý trực tiếp của nhà  tài  trợ.  Kiến  thức  và  kinh  nghiệm  của  các  tổ  chức  phi  chính  phủ  và  cơ  quan nghiên  cứu  đóng  vai  trò  then  chốt  đối  với  chất  lượng  của  công  tác  này.  Một  cơ  chế phối hợp đã được hình thành cho công tác đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng 

Trang 7

nghiên cứu cũng được chỉnh sửa cho phù hợp với những bài học kinh nghiệm được rút  ra.  Khuôn  khổ  nghiên  cứu  cuối  cùng  bao  quát  những  lĩnh  vực  nghiên  cứu  như sau: 

• Nhận thức về nghèo đói và xu hướng nghèo, nguyên nhân dẫn tới nghèo và khả năng dễ bị tổn thương; 

• Tiến bộ trong công tác tăng cường dân chủ ở cấp cơ sở, đặc biệt là mức độ các 

hộ nghèo có thể tham gia một cách có ý nghĩa vào các quy trình xây dựng kế hoạch và lập ngân sách; 

• Những thách thức trong việc cung cấp các dịch vụ cơ bản, tập trung vào sự tương tác của các hộ gia đình nghèo với các nhà cung cấp dịch vụ và các hộ nghèo có thể được tăng cường quyền lực như thế nào để có thể yêu cầu quyền lợi được cung cấp các dịch vụ cơ bản một cách hiệu quả hơn; 

Những Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng hiện nay đang được công bố thành bộ. Một báo cáo tổng hợp các kết quả của cả 43 xã và phân tích một cách tổng hợp hơn các chủ đề này cũng sẽ được công bố. Cũng sẽ có một báo cáo khác tóm tắt phương  pháp  tiếp  cận,  phương  pháp  nghiên  cứu  được  sử  dụng  và  những  câu  hỏi nghiên cứu chi tiết.  

Trang 8

L ờ i c ả m ơ n

Chúng tôi xin chân thành cám ơn sự chỉ đạo và hỗ trợ quý báu và kịp thời của Ủy Ban Nhân  Dân  Thành  Phố  Hồ  Chí  Minh,  Ban  Chỉ  Đạo  Chương  Trình  Xóa  Đói  Giảm Nghèo  và  Việc  Làm  (Sở  Lao  Động  Thương  Binh  Xã  Hội),  chính  quyền  Huyện  Bình Chánh, Thị trấn An Lạc, Xã Tân Tạo, và chính quyền Quận 8, Phường 4, và Phường 5, trong suốt quá trình nghiên cứu. Đặc biệt, xin cảm ơn sự cộng tác nhiệt tình và đầy tính trách nhiệm của các cán bộ chuyên trách chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo cấp thành phố, quận/huyện và phường/ xã/ thị trấn đã góp phần quyết định vào sự thành công của đợt khảo sát, đồng thời minh chứng cho tính tham gia là phương pháp chủ đạo của tất cả các cuộc đánh giá nghèo được thực hiện từ năm 1999 đến nay.  

 

Chúng tôi cũng xin cám ơn các tổ chức đoàn thể, các tổ trưởng tổ dân phố, ban vận động khu phố/ ấp được chọn khảo sát đã vận động người dân tham gia tích cực và tổ chức  chu  đáo  các  buổi  họp  dân,  tạo  ra  bầu  khí  cho  sự  tham  gia  tích  cực,  cởi  mở  để nhóm nghiên cứu có được các thông tin xác thực từ chính người dân địa phương.  

Xin  cám  ơn  T.S.  Martin  Rama,  Th.S.  Carrie  Turk  (Ngân  Hàng  Thế  Giới),  và  Th.S. Nguyễn Văn Thuần (Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc), đã hỗ trợ công việc nghiên cứu, đặc biệt về phương pháp, trong suốt các giai đoạn chuẩn bị, thực địa, cũng như viết báo cáo. 

 

Cuối cùng, xin chân thành cám ơn những người dân đã trực tiếp tham gia nghiên cứu thông  qua  các  hoạt  động  thảo  luận  nhóm,  phân  hạng  kinh  tế  hộ,  phỏng  vấn  sâu trường hợp điển cứu và các ý kiến thực tế, chân tình, xây dựng để nghiên cứu này có thể hoàn thành tốt đẹp.  

Trang 10

TPHCM       Thành Phố Hồ Chí Minh 

UBND       Ủy Ban Nhân Dân 

XĐGN       Xóa Đói Giảm Nghèo 

Trang 12

từ 2 đến 7 hộ trong mỗi tổ dân phố, tức khoảng 4% đến 15% tổng số hộ là nghèo.  

Trong  khi  có  một  số  người  dân  được  tham  khảo  ý  kiến  cho  rằng  cuộc  sống  khá  lên trong vài năm qua (nhất là nhờ bán đất hay tài sản khác – dù điều này không đảm bảo sinh kế bền vững), số đông còn lại cho rằng cuộc sống trở nên khó khăn hơn và than phiền không đủ ăn, cho con cái nghỉ học sớm và sống lây lất qua ngày.  

 

Có  nhiều  nguyên  nhân  lý  giải  cho  cuộc  sống  ngày  càng  khó  khăn,  chứng  tỏ  rằng nghèo không chỉ là thu nhập ít ỏi, mà còn là chi phí sống cao, công việc bấp bênh, sức khỏe  kém,  không  được  học  hành,  nhà  cửa  không  an  toàn  và  kém  vệ  sinh,  các  mối quan hệ xã hội bị hạn chế, và cách biệt giàu nghèo ngày càng tăng.  

 

Công việc làm vẫn còn là thách đố lớn đặt ra cho người nghèo. Người nghèo gần như không thể tìm việc làm nhờ các trung tâm giới thiệu việc làm của nhà nước. Còn tìm việc nhờ các dịch vụ việc làm tư nhân thì có rủi ro cao, và có nhiều dịch vụ mang tính ʺlừa đảoʺ. Những công nhân không có tay nghề, lớn tuổi, hay sức khoẻ kém gặp nhiều trắc trở trên con đường tìm việc. Một khi tìm được, tình trạng thiếu luật lệ hoặc luật lệ không  được  thực  thi  làm  cho  quyền  lợi  của  công  nhân  thường  không  được  bảo  vệ. Công nhân nữ trẻ (chiếm 90% lực lượng lao động trong nhiều xí nghiệp) tỏ ra lo ngại 

về sự cô lập xã hội của họ. 

Tham gia và tăng cường năng lực trong việc đưa ra các quyết định tại địa phương

Lúc đợt nghiên cứu đánh giá nghèo có sự tham gia này đang tiến hành, các phường/ xã/ thị trấn đang tổng kết 5 năm thực hiện Nghị định 29 (Dân chủ cơ sở – DCCS) chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sau: 14 việc dân biết đến, 6 việc dân bàn bạc và quyết định trực tiếp, 8 việc dân tham gia ý kiến, HĐND và UBND quyết định, 10 việc dân giám sát, kiểm tra. Các cán bộ và người dân địa phương đều đồng ý rằng đã có nhiều tiến bộ trong việc thực hiện các nội dung tuyên truyền, phổ biến DCCS và các chính sách  khác  của  nhà  nước,  thái  độ  tiếp  dân  tích  cực  hơn  trong  các  cơ  quan  nhà  nước, bầu  cử  đại  biểu  Hội  đồng  Nhân  dân,  đóng  góp  vào  các  khoản  quỹ  địa  phương  và phát triển cơ sở hạ tầng địa phương. Các cán bộ chính quyền quận/ huyện và phường/ xã/ thị trấn cho rằng khâu có nhiều hạn chế duy nhất là vấn đề công khai ngân sách địa phương. 

 

Trang 13

dân thường trú; các tổ trưởng tổ dân phố (những người đóng vai trò thiết yếu trong 

việc  đưa  ra  các  ý  kiến  hướng  dẫn)  có  năng  lực  làm  việc  rất  khác  nhau;  đại  biểu  Hội đồng  Nhân  dân  thường  là  các  cán  bộ  địa  phương;  việc  thực  hiện  DCCS  chỉ  giới  hạn trong khuôn khổ UBND, không ít trường hợp bị hạn chế vì thiếu sự phối kết hợp với các cơ quan ngành dọc như giáo dục và quản lý đô thị. 

  

Ý kiến đề xuất chủ yếu là cần thay đổi bản chất tham gia từ khá bị động và một chiều (chẳng  hạn  như  được  thông  báo)  như  hiện  nay  trở  nên  chủ  động  hơn  và  có  sự  bàn bạc, trao đổi, tham khảo ý kiến hai chiều (ví dụ như về việc đóng các khoản phí ngoài học phí), và chuyển sang giám sát chủ động hơn sau này (chẳng hạn như xác định đối tượng hỗ trợ xã hội và giám sát việc thực hiện chương trình XĐGN). Cần phải thu hẹp khoảng cách nhận thức của các cán bộ địa phương và của người dân địa phương về các vấn đề vừa nêu trên. 

Cải cách hành chính

Các cán bộ địa phương và người nghèo ghi nhận có một số cải tiến đáng kể trong lĩnh vực dịch vụ quản lý hành chính, điển hình là dịch vụ “một cửa một dấu” cho chứng nhận các loại giấy tờ tuỳ thân. Tuy nhiên, theo ý kiến người nghèo, còn nhiều vấn đề tồn tại trong lĩnh vực nhà đất – địa chính và đăng ký nhân hộ khẩu, chẳng hạn như vẫn  còn  nhiều  các  thủ  tục  phức  tạp  và  làm  mất  nhiều  thời  gian,  tình  trạng  tham nhũng và năng lực, phẩm chất cán bộ địa phương làm việc trong các ngành này, đã và đang ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của họ. 

 

Về phân cấp quản lý, cán bộ cấp quận/ huyện và phường/ xã cho rằng còn có sự mơ 

hồ,  chồng  chéo,  không  phân  biệt  rõ  ràng  chức  năng,  nhiệm  vụ  của  các  cấp,  các  ban ngành.  Cán bộ  cả  hai  cấp  đều  tán  thành  phân  cấp  quản  lý  nhiều  hơn  cho  cấp  cơ  sở phường/ xã theo hướng vì người nghèo, tuy nhiên, sự phân cấp này phải đi cùng với các giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả và hiệu lực, ví dụ như hợp lý hoá sự phân công phân cấp, cải thiện các luồng thông tin và các mối liên kết, phối hợp công tác, tăng cường tính công khai, minh bạch và đơn giản hóa các thủ tục và quy định, tạo ra nhiều hơn sự kiểm tra, giám sát và xem xét việc phân bổ kinh phí và nhân sự cho phù hợp với thực tế tình hình các địa phương (có tính đến tốc độ phát triển và sự gia tăng dân số ở một số khu vực phường/ xã). 

 

Bản thân người nghèo có những nhận thức khác nhau, nhưng thường rất hạn chế, về cải  cách  hành  chính  và  các  ảnh  hưởng,  liên  quan  giữa  cải  cách  hành  chính  công (CCHC) với họ, đồng thời họ thấy mình khó tác động đến tiến trình thực hiện CCHC. 

Di dân và các vấn đề đô thị

Một số thông tin quan trọng nhất ghi nhận được về các quan tâm của cộng đồng về các vấn đề di dân và đô thị hóa tại hai quận huyện khảo sát có thể được tóm tắt như sau:  

‐    Có khoảng 34% ‐ 40% dân số không có hộ khẩu thường trú (đặc biệt ở một xã của huyện Bình Chánh, tỉ lệ này lên đến 65%) 

‐    Từ năm 1999 đến nay, số cư dân của các khu vực khảo sát tăng khoảng 28% đến 39% (có một xã của huyện Bình Chánh tỉ lệ tăng dân số lên đến 64%)  

Trang 14

Tóm tắt Báo cáo

Các hệ quả của tình trạng thiếu hộ khẩu thường trú một lần nữa lại được người dân nêu ra (tương tự như lần đánh giá nghèo năm 1999 và tham khảo ý kiến cộng đồng về Chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo năm 2002), như: không bình đẳng quyền lợi trong  tiếp  cận  giáo  dục,  chăm  sóc  sức  khoẻ,  thụ  hưởng  chương  trình  Xoá  đói  giảm nghèo, các chương trình tín dụng và các hỗ trợ xã hội khác cũng như phải trả các chi phí cao cho điện, nước và các phí tổn cho gia hạn đăng ký tạm trú.  

 

Ngoài ra, trong khi người nhập cư là người phải  gánh chịu sự thiếu an toàn do tình trạng cư trú tạm thời của họ thì người dân nghèo tại chỗ là những người bị ảnh hưởng bởi các dự án quy hoạch đô thị lại phàn nàn nhiều về tình trạng bấp bênh, không ổn định, thiếu sự công khai rõ ràng, thiếu tư vấn cộng đồng và sự chậm trễ, kéo dài (trong một số trường hợp đến hơn 5 năm) của các dự án thuộc quy hoạch “treo”. 

 

Các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội không căn cứ trên số cư dân hiện đang sinh sống tại địa phương (vì chỉ có lực lượng công an nắm số liệu về số dân nhập cư để quản lý trật tự trị an) mà chỉ căn cứ trên số dân có đăng ký thường trú. Các kế hoạch này vì thế không theo hướng giảm nghèo, chí ít là xét trên khía cạnh không tính đến các nhóm dân nghèo mới di chuyển từ nông thôn vào thành phố. Cũng vì thế, người nhập cư là người nghèo không được nhận diện. 

 

Tuy  nhiên,  nếu  so  sánh  với  các  cuộc đánh  giá  nghèo  có  sự  tham  gia  của  cộng  đồng trước đây, có sự thay đổi đáng ghi nhận nhất về thái độ của các lãnh đạo và viên chức  các cấp là hiện nay nhiều người cởi mở chấp nhận có những thiếu sót trong cách tiếp cận hiện hành, công nhận nhiều hơn các quyền lợi bình đẳng của người nhập cư với 

tư cách là những công dân Việt Nam như là những người Việt Nam khác, nhìn nhận vai trò quan trọng của họ trong sự phát triển kinh tế của Thành phố và vì thế cần có 

sự vận dụng mềm dẻo, linh hoạt hơn các quy định về đăng ký cư trú. 

Trang 15

Phần 1: Giới thiệu

Cơ sở và mục đích nghiên cứu

Theo số liệu chính thức năm 2003, thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đạt thành tựu  về  tổng  sản  phẩm  quốc  nội  đầu  người  (GDP  per  capita)  cao  thứ  nhì1  và  chỉ  số phát triển con người (HDI) cao thứ ba2 trong 61 tỉnh thành trên toàn quốc. Theo Ban Chỉ Đạo Xóa Đói Giảm Nghèo và Việc Làm Thành phố, số người sống dưới ngưỡng nghèo  hiện  nay  đang  giảm  dần,  còn  1.74%  đến  tháng  10/20033,  và  Thành  phố  phấn đấu  cuối  năm  nay  sẽ  xóa  nghèo  theo  chuẩn  nghèo  hiện  tại.  Cũng  xin  lưu  ý  rằng ngưỡng nghèo Thành phố được quy định ở mức tương đối cao hơn nhiều so với các tỉnh thành khác. 

 

Tuy nhiên, các thông số trên chưa phản ánh tình trạng có một số lượng lớn người dân chưa  hoặc  không  đăng  ký  cư  trú,  hầu  hết  là  những  người  nhập  cư  từ  các  tỉnh  khác đến Thành phố mưu sinh, hoặc sinh sống tạm thời hoặc có thể định cư lâu dài tại đây. Mục  tiêu  nghiên  cứu  Đánh  giá  tình  trạng  nghèo  có  sự  tham  gia  lần  này4  nhằm  tìm hiểu  thực  chất  những  vấn  đề  nghèo  phát  sinh  trong  quá  trình  đô  thị  hóa  mạnh  mẽ đang diễn ra tại Thành phố mà các con số thống kê không đo lường được.  

 

Với mục tiêu như vậy, nghiên cứu này vừa là một nghiên cứu về vấn đề nghèo đô thị của  thành  phố  Hồ  Chí  Minh,  vừa  là  một  phần  của  nghiên  cứu  đánh  giá  tình  trạng nghèo trên cả nước, với khung nghiên cứu được Bộ Kế hoạch Đầu tư, Ngân hàng Thế giới, và Nhóm Hành động chống đói nghèo, các viện nghiên cứu và tổ chức phi chính phủ  Việt  Nam  cùng  thực  hiện;  với  công  tác  thực  địa  và  báo  cáo  được  Nhóm  Hành động chống đói nghèo, chính quyền địa phương các cấp, và người dân tại cộng đồng của 12 tỉnh thành thuộc 7 vùng trên toàn quốc cùng đồng loạt tiến hành. Vì vậy, kết quả của nghiên cứu này, cùng với các nghiên cứu Đánh giá Tình trạng nghèo (PPA) khác và Điều tra Mức sống Hộ gia đình 2002, sẽ đóng góp vào báo cáo tiến độ thực hiện Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Giảm nghèo, sẽ được trình bày tại cuộc họp Nhóm Tư vấn các nhà tài trợ tháng 12 năm 2003, cũng như đóng góp vào bản Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004 của các tổ chức tài trợ. Nói một cách khác, một mặt, kết quả của nghiên cứu này sẽ góp phần nâng cao năng lực cán bộ chính quyền ở cấp tỉnh thành và các cấp thấp hơn nhằm làm cho các quá trình lập kế hoạch địa phương nhận được  thông  tin  dữ  liệu  tốt  hơn  nhờ  các  công  trình  nghiên  cứu  phân  tích  được  xây dựng trên nền tảng tham gia mang tính chất đối thoại của người nghèo về chính sách. Mặt khác, kết quả nghiên cứu sẽ được hướng đến việc lấp đầy những khoảng trống phân tích trong Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Giảm nghèo và hỗ trợ tăng cường khung giám sát  Chiến lược, đặc biệt về những vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ. 

1   5.209  đô‐la  Mỹ  (sau  Bà  Rịa  Vũng  Tàu:  14.470)  (Đổi  mới  và  Phát  triển  Con  người  ở  Việt  Nam.  Nhà  xuất  bản  Chính trị Quốc gia. 2001.) 

2  0,796 (sau Bà Rịa – Vũng Tàu 0,835 và Hà Nội 0,798 (Đổi mới và Phát triển Con người ở Việt Nam. Nhà xuất  bản Chính trị Quốc gia. 2001.) 

3  Báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 16/10/2003, trang 1. 

4  Nghiên cứu Đánh giá tình trạng nghèo có sự tham gia vào năm 1999 (SCUK 1999) và Tham khảo ý kiến cộng  đồng về  Chiến Lược Toàn Diện về Tăng Trưởng  và Xóa Đói Giảm Nghèo (CPRGS) vào cuối năm 2001 (SCUK  2002) đã có một số phát hiện về các khía cạnh nghèo và mối tương quan giữa vấn đề nghèo và di dân. 

Trang 16

Phần 1: Giới thiệu

Mục tiêu cụ thể

Nghiên cứu Đánh giá Tình trạng nghèo này nhằm tìm hiểu quan điểm cấp cơ sở về nguyên nhân và xu hướng nghèo, và phản hồi của người dân nghèo về những nỗ lực thực hiện chính sách hướng về người nghèo như chính sách giảm nghèo, quy chế dân chủ cơ sở, cải cách hành chính, vấn đề di dân và các vấn đề đô thị khác. Cụ thể, đợt nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các vấn đề sau: 

• nhận  thức  về  nguyên  nhân  và  xu  hướng  nghèo,  động  thái  nghèo,  việc  làm, những rủi ro, tính tổn thương  

• tiến  độ  tăng  cường  thực  hiện  dân  chủ  cấp  cơ  sở,  đặc  biệt  là  mức  độ  các  hộ nghèo  có  thể  tham  gia  một  cách  có  ý  nghĩa  vào  quá  trình  lập  kế  hoạch  và ngân sách ở địa phương  

• việc cải cách hành chính diễn ra ở cấp chính quyền địa phương như thế nào  

• vấn đề về di dân trong bối cảnh đô thị và những vấn đề liên quan.  

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên  cứu  này  là  một  nghiên  cứu  Đánh  giá  Tình  trạng  nghèo  có  sự  tham  gia  của người dân (PPA), là một phương pháp không ngừng được công nhận trong thập kỷ vừa  qua  như  là  “một  công  cụ  để  ghi  nhận  quan  điểm  người  nghèo  trong  phân  tích vấn đề nghèo và hình thành các chiến lược để giảm nghèo bằng chính sách công”5. Là một PPA, trước hết nghiên cứu này nhằm nâng cao khái niệm và sự hiểu biết về vấn 

đề nghèo bằng cách tham vấn ý kiến người nghèo về nguyên nhân nghèo, dựa trên đó các chính sách giảm nghèo có thể được thực hiện hiệu quả hơn nhờ xác định những hành động ưu tiên giải quyết các vấn đề mà người nghèo nhận thấy quan trọng. Thứ hai,  nghiên  cứu  nhằm  tăng  cường  sự  tham  gia  của  người  nghèo,  nhờ  vậy  khuyến khích cơ chế hiệu quả hơn cho việc học hỏi và phản hồi về các kết quả của các chính sách và chương trình. Thứ ba, nghiên cứu cũng nhằm làm sáng tỏ mức độ các chính sách chủ yếu của nhà nước (như Nghị định Dân chủ cơ sở và Cải cách Hành chính) được  biết  đến  và  hiểu  như  thế  nào,  tác  động  được  người  dân  cảm  nhận  của  những chính sách này, và mức độ các cơ quan nhà nước khác nhau được người dân tin cậy 

để phân phối lợi ích6. 

 

Dùng các phương pháp và công cụ PPA, nghiên cứu này được thiết kế để bổ sung cho đánh giá nghèo rút ra từ cuộc Điều tra Mức sống Hộ gia Đình của Tổng Cục Thống Kê bằng  việc  cung  cấp  những  thông  tin  một  nghiên  cứu  định  lượng  như  cuộc  Điều  tra không thể thu thập nắm bắt được, như sự đa khía cạnh của tình trạng nghèo, đơn vị phân tích (phân tích các yếu tố nghèo ngoài đơn vị hộ gia đình như tác động của nghèo lên những cá nhân khác nhau về tuổi tác và giới tính trong nội bộ hộ gia đình, hoặc các yếu tố cộng đồng như tiếp cận cơ sở hạ tầng), tính dễ tổn thương và các quá trình động thái.  

 

Để  đạt  được  điều  trên,  nghiên  cứu  Đánh  giá  Tình  trạng  nghèo  này  dùng  một  loạt  các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội như thu thập thông tin thứ cấp để có được bối cảnh, cơ sở, và đối chiếu các ghi nhận chính; thảo luận nhóm tập trung, quan sát trực tiếp, phân hạng kinh tế hộ gia đình7, phỏng vấn cá nhân không cấu trúc và bán cấu trúc.  

5  Norton, Andy. Đánh giá Tình trạng nghèo có sự tham gia của người dân – Lý thuyết và Thực hành. Overseas  Development Institute. 2001. 

6  ibid.

7  Xem Phụ lục 1. 

Trang 17

Dựa  trên  mục  tiêu  và  phương  pháp  nghiên  cứu  trên,  cuộc  nghiên  cứu  tình  trạng nghèo có sự tham gia của người dân lần này được thực hiện ở Thị trấn An Lạc và Xã Tân Tạo thuộc Huyện Bình Chánh, Phường 4 và Phường 5 Quận 8, là các quận huyện đang đô thị hóa có những đặc điểm và tốc độ phát triển khác nhau. Nghiên cứu thực địa kéo dài hai tuần, từ ngày 3 đến ngày 16 tháng 8 năm 2003. Ngoài ra còn có các giai đoạn chuẩn bị nghiên cứu, tập huấn, viết và thông qua báo cáo kết quả nghiên cứu.   

Trong  mỗi  phường,  xã,  hoặc  thị  trấn,  để  tham  khảo  ý  kiến  người  nghèo,  có  4  cuộc phân hạng kinh tế hộ, mỗi cuộc có 4 tham dự viên; và có 9 cuộc thảo luận nhóm, mỗi cuộc  có  khoảng  12  tham  dự  viên,  gồm  phụ  nữ  nghèo  địa  phương,  nam  nghèo  địa phương, phụ nữ nghèo nhập cư, nam nghèo nhập cư (ở độ tuổi từ 35‐55), thanh niên nam  nữ  nghèo  địa  phương  và  thanh  niên  nam  nữ  nghèo  nhập  cư  (ở  độ  tuổi  18‐25), thiếu  nhi  nghèo  địa  phương  và  thiếu  nhi  nghèo  nhập  cư  (ở  độ  tuổi  12‐16  tuổi),  và chính quyền, ban ngành, đoàn thể địa phương.  

 

Tương tự ở cấp quận huyện, thông tin và ý kiến được thu thập qua các buổi thảo luận nhóm với chính quyền quận huyện và chủ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, mỗi nhóm khoảng 12 người tham dự.  

 

Tổng cộng toàn đợt nghiên cứu có 16 cuộc phân hạng kinh tế hộ, 41 cuộc thảo luận nhóm,  và  20  cuộc  phỏng  vấn  sâu  các  trường  hợp  điển  cứu  với  457  người  tham  dự, được phân chia theo lứa tuổi, giới tính, và vị trí xã hội như sau (xem phụ lục 2):   

• Theo tuổi: 271 người lớn (35‐55 tuổi), 92 thanh niên (18‐25 tuổi), và 94 trẻ em (12‐16 tuổi)  

• Theo giới: 223 nữ và 234 nam 

• Theo vị trí xã hội: 70 cán bộ chính quyền, 17 đại diện doanh nghiệp nhỏ và vừa,  và  370  người  dân  địa  phương  (trong  đó  193  người  thuộc  diện  KT1  và KT2, 177 người thuộc diện KT3 và KT4)  

• Theo dân tộc: Đại đa số tham dự viên là người Kinh. Chỉ có một số rất ít (11 người) là người Hoa, và một (01) người là dân tộc thiểu số (Tày). 

 

Tổng số thành viên tham gia nghiên cứu gồm 47 người từ các tổ chức chính quyền, đoàn thể, các cơ quan nghiên cứu và giáo dục, được điều phối bởi tổ chức phi chính phủ là Tổ chức Cứu Trợ Trẻ Em Anh (SCUK). Trong số này có 5 người là nghiên cứu viên của phía SCUK, 9 người từ các viện nghiên cứu và trường đại học, cao đẳng; 15 người  là  cán  bộ  chính  quyền,  ban  ngành,  đoàn  thể  địa  phương  3  cấp  (thành  phố, quận/ huyện, phường/ xã/ thị trấn) đã tích cực tham gia như là các nghiên cứu viên chính thức (xem Phụ lục 3). Trung bình mỗi quận/ huyện có 3 cán bộ quận/ huyện và một số cán bộ phường/ xã/ thị trấn tham gia hỗ trợ thảo luận nhóm bằng cách cùng hướng dẫn thảo luận hoặc ghi biên bản. Ngoài ra, các tổ trưởng và trưởng ban nhân dân  khu  phố/  ấp  đã  tích  cực  hỗ  trợ  xác  định  người  dân  nghèo  tham  gia  phân  hạng kinh tế hộ, thảo luận nhóm, phỏng vấn trường hợp điển cứu để nhóm nghiên cứu thu thập ý kiến và ghi nhận thông tin.  

 

Trang 18

Phần 1: Giới thiệu

Phạm vi và hạn chế của nghiên cứu

Là một PPA, nghiên cứu này không nhằm đưa ra một bức tranh tổng thể về sự phát triển kinh tế xã hội của TPHCM, cũng không nhằm đánh giá việc thực hiện chương trình xóa đói  giảm  nghèo,  một  chương  trình  đã  đạt  được  nhiều  thành  tựu  đầy  sức  thuyết  phục trong thập kỷ qua. Mục tiêu nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các khía cạnh của thực trạng nghèo tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2003 cũng như nêu bật những thách thức còn tồn tại trong bối cảnh Chính phủ đang nỗ lực cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân bằng  nhiều  biện  pháp  và  phương  thức  phát  triển  kinh  tế  xã  hội  và  giảm  nghèo  được khẳng định trong Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Giảm nghèo.  

 

Tham gia nghiên cứu này có 370 người dân địa phương nghèo (người lớn, thanh niên, 

và trẻ em), trong số 1.248 hộ nghèo (được chương trình Xóa đói Giảm nghèo xác định) tại các phường, xã, thị trấn nơi nghiên cứu được tiến hành. Vì vậy, để đảm bảo các kết luận được xác thực, đáng tin cậy và không thiên kiến, các phương pháp so sánh đối chiếu  thông  tin  dữ  liệu  được  áp  dụng  để  đưa  ra  thực  tiễn,  kinh  nghiệm,  ưu  tiên  và cảm nhận đại diện của người nghèo. 

Bố cục của báo cáo

Báo  cáo  này  được  chia  làm  6  phần.  Phần  1  giới  thiệu  chung  về  mục  tiêu,  địa  điểm, phương pháp và thành phần tham gia nghiên cứu. Các phần sau viết về bối cảnh của các địa bàn nghiên cứu thuộc TPHCM (Phần 2) và các thông tin liên quan đến nhận thức  về  nghèo  (Phần  3),  sự  tham  gia  và  trao  quyền  (Phần  4),  cải  cách  hành  chính (Phần 5), di dân và các vấn đề đô thị khác (Phần 6). Để tiện cho độc giả tham khảo, có một phần tóm tắt báo cáo (trang 1‐3), và ở đầu mỗi phần (từ Phần 3 đến 6) có phần tóm lược các thông tin ghi nhận chính.  

Trang 19

Phần 2: Địa điểm Nghiên cứu

Huyện Bình Chánh

Huyện Bình Chánh nằm phía tây nam Thành phố Hồ Chí Minh, nối liền Thành phố với Đồng bằng Sông Cửu Long bằng Quốc lộ 1. Huyện Bình Chánh có tổng diện tích 30.458  héc‐ta,  trong  đó  có  khoảng  20.000  héc‐ta  đất  nông  nghiệp  và  3.000  héc‐ta  đất thổ cư. Huyện Bình Chánh có 1 thị trấn và 19 xã.  

 

Huyện có một (01) Trung tâm y tế, 3 phòng khám khu vực, 25 trường mẫu giáo, 53 trường tiểu học và phổ thông cơ sở, 4 trường phổ thông và trung học cơ sở, một (01) trường đặc biệt bán tập trung cho trẻ khuyết tật, một (01) Trung tâm Dạy nghề (một 

cơ  sở  chính  và  4  cơ  sở  phụ)  trực  thuộc  Phòng  Lao  Động  Thương  Binh  Xã  hội),  một (01) Trung tâm Giáo dục Thường xuyên. 

 

Quá trình phát triển kinh tế và xã hội mạnh mẽ bắt đầu diễn ra tại Huyện Bình Chánh 

từ giữa những năm 1990. Quá trình này đã thu hút một làn sóng người nhập cư từ các quận huyện cũng như tỉnh thành khác đến. Hiện tại có 4 khu công nghiệp và khoảng 

900 xí nghiệp và doanh nghiệp (ngoài ra còn có hơn 11.000 hộ kinh doanh cá thể) hoạt động trên địa bàn Huyện, đa số tập trung vào một số xã như Tân Tạo, Lê Minh Xuân, Vĩnh Lộc A, và Thị trấn An Lạc. Vì vậy, dân số tăng trưởng với tốc độ hết sức nhanh, đến mức chính quyền địa phương cho rằng họ khó có thể đưa ra một con số thống kê  chính xác về số lượng những người chưa/ không có hộ khẩu thường trú.  

 

Theo  thống  kê  vào  tháng  8  năm  2003,  có  43.733  hộ  gồm  461.647  người  cư  trú  tại Huyện Bình Chánh. Trong số này 182.449 người không có hộ khẩu thường trú (78.844 diện  KT3  và  103.605  diện  KT4)  (xem  Phụ  lục  4  về  các  loại  hình  thức  cư  trú  đối  với quản  lý  hành  chính:  KT1,  KT2,  KT3,  và  KT4).  Sự  tăng  trưởng  dân  số,  đặc  biệt  là  số không có hộ khẩu thường trú đã tăng lên rất nhanh. So với thống kê điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 1999, dân số đã tăng thêm khoảng 130.000 người (Bảng 1)

Thị trấn An Lạc

Thị trấn An Lạc có diện tích 600 héc‐ta, trong đó khoảng 170 héc‐ta đất thổ cư gồm 7 khu  phố  và  185  tổ  dân  phố.  Nằm  dọc  theo  Quốc  lộ  1  và  là  cửa  ngõ  vào  đồng  bằng sông Cửu Long, thị trấn này đã chứng kiến quá trình đô thị hóa từ những năm 1980, sớm  hơn  khá  nhiều  so  với  những  xã  còn  lại  của  Huyện,  khi  các  xí  nghiệp  và  cơ  sở kinh doanh bắt đầu phát triển. Từ đó, quá trình đô thị hóa ở đây tiếp tục diễn ra cùng với  quá  trình  đô  thị  hóa  của  Huyện Bình  Chánh,  làm  cho dân  số  thị  trấn  cũng  tăng nhanh  tương  ứng.  Hiện  nay  thị  trấn  có  7.962  hộ  với  dân  số  47.920  người,  trong  đó khoảng 16.000 (tức một phần ba) người không trong diện đăng ký thường trú. Trong 

số này, đáng chú ý là gần 10.000 nhân khẩu thuộc diện KT4 chỉ được ghi nhận như là nhân khẩu chứ không được phân loại là hộ như các diện cư trú khác (KT1, KT2, KT3).  

Xã Tân Tạo

Xã Tân Tạo là một trong những xã có diện tích lớn nhất của Huyện Bình Chánh (1.738 héc ta), với khoảng 70 héc ta đất thổ cư với 4 ấp và 158 tổ dân phố Tân Tạo cũng là một trong 4 xã có tiến trình đô thị hoá nhanh và mạnh nhất trong huyện. So với Thị trấn An Lạc, sự gia tăng dân số của Tân Tạo đột biến hơn nhiều. Đến nay, Tân Tạo có 61.023 cư 

Trang 20

Phần 2: Địa điểm Nghiên cứu

dân với khoảng hai phần ba (2/3) (khoảng 40.000) thuộc diện đăng ký KT3 và KT4. Cũng như ở Thị trấn An Lạc, trong số này, khoảng 35.000 nhân khẩu diện KT4 chỉ được ghi nhận như là nhân khẩu. Có sự gia tăng dân số cao đột biến như vậy là do trên địa bàn 

xã các khu công nghiệp và các xí nghiệp, doanh nghiệp lớn, nhỏ, và vừa liên tục thành lập  và  đi  vào  hoạt  động  trong  vòng  5  năm  qua.  Theo  số  liệu  thống  kê  mới  nhất  của UBND huyện, hiện tại xã có 3 khu công nghiệp và 116 xí nghiệp lớn mới thành lập. 

Bảng 1 Dân số Huyện Bình Chánh, Thị trấn An Lạc và Xã Tân Tạo

Huyện Bình Chánh Thị trấn An Lạc Xã Tân Tạo

47,920 9

31,944 15,976 (33%)

61,023 10

21,501 39,522 (65%) Mức độ tăng trưởng dân số (so với

(28%)

9,911 (21%)

38,940 (64%)

Trang 21

do dòng người từ nơi khác đến) thêm 208.129 trong vòng 4 năm qua (xem Bảng 2). Số người không có hộ khẩu thường trú cũng khá cao: 182.449 người (34%). 

 

Một đặc thù của Quận 8 là có một số lượng đáng kể người dân sống dọc trong những khu  nhà  lụp  xụp  dọc  hai  bờ  các  kênh  rạch,  vốn  chiếm  một  diện  tích  đáng  kể  trong quận. Không có con số thống kê số người này trên toàn quận.  

 

Nghề  nghiệp  và  sinh  kế  của  người  dân  Quận  8  trong  những  năm  qua  đã  có  nhiều thay đổi, bị tác động bởi sự di dời ra ngoại thành của nhiều cơ sở gây ô nhiễm môi trường (theo Quyết định 81 ngày 8/7/2002), đồng thời do sự chuyển đổi mục đích sử dụng  đất  trong  quá  trình  đô  thị  hoá. Trong  quá  trình  này,  có những  người  khá  lên, cũng  có  những  người  nghèo  đi.  Có  người  bán  đất  và  kinh  doanh  thành  công.  Có người đi làm cho các xí nghiệp và doanh nghiệp ở Phường 6, nơi có khu công nghiệp đang  phát  triển.  Nhiều  người  mất  việc  sau  khi  xí  nghiệp  di  dời  và  không  tìm  được việc. Một số phải cố gắng xoay sở sống qua ngày bằng cách tham gia vào thành phần kinh tế phi chính thức, như bán dạo, chạy xe ôm, bán vé số, buôn bán ʺhàng bôngʺ14 

để tránh gây ô nhiễm trong các khu dân cư. Tuy nhiên, hầu hết các xí nghiệp vừa và nhỏ thường sản xuất kinh doanh các mặt hàng truyền thống của địa phương hiện vẫn còn hoạt động tại đây. 

Trang 22

Phần 2: Địa điểm Nghiên cứu

Bảng 2 Dân số Quận 8, Phường 4 và Phường 5

33,589 27,454 6,135 (18%)

32,695 27,498 5,191 (16%) Mức độ tăng trưởng dân số (so với Tổng

(39%)

3,366 (10%)

5,771 (18%)

Trang 23

Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm, những

rủi ro và tính dễ tổn thương

Tóm tắt ý chính

Cuối năm nay (2003), Thành phố Hồ Chí Minh phấn đấu xoá nghèo theo tiêu chí của Thành phố.  Tuy nhiên, kết quả cuộc nghiên cứu Đánh giá tình trạng nghèo có sự tham gia này cho thấy có sự  chênh lệch đáng kể giữa số hộ nghèo được chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo xác định và con số 

hộ được người dân địa phương cho là nghèo. Khi phân hạng kinh tế hộ, trong mỗi tổ dân phố,  người dân xác định có khoảng 30% đến 50% hộ gia đình là “nghèo” hay “rất nghèo” (so với hộ 

“khá giàu” và “trung bình”). Trong khi đó, chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo thường xác định 

có từ 2 đến 7 hộ trong mỗi tổ dân phố, tức khoảng 4% đến 15% tổng số hộ là nghèo. 

 

Trong khi có một số người dân được tham khảo ý kiến cho rằng cuộc sống khá lên trong vài năm  qua (nhất là nhờ bán đất hay tài sản khác – dù điều này không đảm bảo sinh kế bền vững), số  đông còn lại cho rằng cuộc sống trở nên khó khăn hơn và than phiền không đủ ăn, cho con cái  nghỉ học sớm và sống lây lất qua ngày.  

 

Có nhiều nguyên nhân lý giải cho cuộc sống ngày càng khó khăn, chứng tỏ rằng nghèo không  chỉ là thu nhập ít ỏi, mà còn là chi phí sống cao, công việc bấp bênh, sức khỏe kém, không được  học hành, nhà cửa không an toàn và kém vệ sinh, các mối quan hệ xã hội bị hạn chế, và cách biệt  giàu nghèo ngày càng tăng.  

 

Việc làm vẫn còn là thách đố lớn đặt ra cho người nghèo. Người nghèo gần như không thể tìm  việc làm nhờ các trung tâm giới thiệu việc làm của nhà nước. Còn tìm việc nhờ các dịch vụ việc  làm tư nhân thì có rủi ro cao, và có nhiều dịch vụ mang tính ʺlừa đảoʺ. Những công nhân không 

có tay nghề, lớn tuổi, hay sức khoẻ kém gặp nhiều trắc trở trên con đường tìm việc. Một khi tìm  được, tình trạng thiếu luật lệ hoặc luật lệ không được thực thi làm cho quyền lợi của công nhân  thường  không  được  bảo  vệ.  Công  nhân  nữ  trẻ  (chiếm  90%  lực  lượng  lao  động  trong  nhiều  xí  nghiệp) tỏ ra lo ngại về sự cô lập xã hội của họ. 

Chương này trước tiên đề cập đến nhận thức của các nhóm người nghèo khác nhau về tình  trạng và xu hướng nghèo được trong vài năm qua, được thể hiện đan xen nhau thông qua các  dáng  vẻ  và  các  nguyên  nhân  đa  dạng  của  nó.  Tiếp  theo  là  nêu  lên  các  cảm  nhận  của  họ  về  nghèo như là một vấn đề đa khía cạnh, trong đó nổi lên những rủi ro và tính dễ bị tổn thương 

mà người nghèo thường dễ gặp phải. Sau cùng, báo cáo mô tả quá trình nỗ lực để có được sinh 

kế và việc làm của đa số người nghèo. 

Nhận thức về nghèo và xu hướng nghèo

Người nghèo được tham vấn trong nghiên cứu này có nhiều ý kiến khác nhau về tình trạng nghèo trong vài năm qua. 

 

Một  số  người  cho  rằng  cuộc  sống  trong  xóm  họ  được  cải  thiện,  thể  hiện  qua  việc nhiều người khá lên, sửa chữa và cất nhà mới và điều kiện sống của họ cũng khá hơn. 

Lý do khá hơn mà người nghèo được tham vấn thường đưa ra đầu tiên và có tần suất cao nhất là do có được một số tiền lớn nhờ bán đất hay được nhà nước đền bù cho nhà và đất bị giải toả. Ngoài ra, một số người nghĩ rằng dấu hiệu một cuộc sống khá 

Trang 24

Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm và những rủi ro

hơn còn thể hiện qua sự xuất hiện của nhiều hàng quán trong khu phố. Sở dĩ có được những  thay  đổi  tốt  hơn  này  là  nhờ  cơ  sở  hạ  tầng  (nhỏ  như  hẻm,  đường  nội  bộ,  và/ hoặc là xa lộ) được nâng cấp; cũng như nhờ có nhiều người nhập cư đến, trở thành 

một nguồn tiêu thụ thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển: “Một số người xây dựng 

nhà  trọ  cho  công  nhân  ở  và  kiếm  được  nhiều  tiền”  (tất  cả  các  nhóm  người  lớn  và  chính 

quyền địa phương). Nhìn chung, khi người nghèo đề cập những trường hợp khá lên này, họ thường nói về người khác chứ không phải về chính bản thân họ.  

 

Tuy nhiên, người nghèo cũng nhận thấy rằng một mặt có những nguyên nhân tạo ra công ăn việc làm tốt hơn và bền vững. Song mặt khác lại có những nguyên nhân chỉ mang  đến  một  sự  sung  túc  nhất  thời  mà  không  tạo  ra  một  sinh  kế  bền  vững;  trong trường hợp như thế, họ bị sa sút, rơi vào nghèo đói và không còn khả năng đối phó một khi phải đối mặt với rủi ro. Nổi bật lên trong số những nguyên nhân trên là việc 

có được một số tiền nhờ chuyển nhượng đất đai, là hệ quả của quá trình đô thị hoá ở nhiều vùng ven của thành phố. Theo những người nghèo được tham vấn trong nghiên cứu này, khả năng được phất lên nhờ chuyển nhượng đất đai dường như cũng ngang ngửa với khả năng bị nghèo đi (vì dùng hết số tiền mà không đầu tư sinh lợi được), rồi trắng  tay,  và  thậm  chí  rơi  vào  tình  trạng  nợ  nần  chồng  chất,  ngày  càng  lún  sâu  và không  thể  thoát  ra  được. Người  nghèo  nêu  lên  nhiều  ví  dụ  sinh  động  về  các  trường hợp láng giềng chuyển nhượng đất, dùng số tiền có được để xây nhà, mua sắm những vật dụng tiêu dùng đôi khi quá xa hoa, mà không biết đầu tư sinh lợi để có sinh kế bền vững, phần lớn vì họ chưa từng làm ăn, mà trước giờ chỉ làm nông. Rốt cuộc họ ăn xài hết số tiền đó và phải bán hết đồ đạc, kể cả bán nhà và rơi vào cảnh nợ nần.  

 

Cũng có một số người cho rằng cuộc sống của họ khá lên đôi khi chút là nhờ có được việc làm ổn định nhờ con cái lớn đi làm và phụ giúp kinh tế gia đình, hay nhờ được thừa hưởng gia tài, của cải. Những phát hiện của nghiên cứu này cũng nhất quán với nghiên cứu tham khảo ý kiến người dân vào năm 1999 và 2001.    

 

Cũng có một số người khác khá hơn chút ít nhờ vào việc bán hàng bông và thức ăn cho các công nhân, nhập cư làm việc tại các khu công nghiệp  và chế xuất. Theo các nhóm nữ và nam nghèo thường trú và nhập cư, đặc biệt là tại xã Tân Tạo, Huyện Bình Chánh, việc hình thành 4 khu công nghiệp và hàng trăm các doanh nghiệp lớn đã tạo 

công ăn việc làm cho hàng ngàn dân nghèo: ʺNhờ có cái (xí nghiệp) Pou Chen thành lập, 

đi làm ở đó được có tiền” (nhóm nữ nghèo thường trú Tân Tạo).  

 

Cũng có một vài trường hợp cho rằng cuộc sống của họ khá hơn lên là do vay mượn quỹ tín dụng Xoá Đói Giảm Nghèo, Hội Phụ Nữ, CIDSE, CEP và làm ăn buôn bán có lời. Nhóm trẻ em ở Bình Chánh cũng như Quận 8 còn cho biết thêm rằng một số phụ 

Trang 25

(nhóm phụ nữ nghèo thường trú).  

 

Ở một góc tối của bức tranh nghèo, có thể thấy là vẫn còn đa số người nghèo được tham khảo ý kiến cho rằng cuộc sống của họ trở nên khó khăn hơn trong mấy năm 

qua. Nhiều người “không có đủ cái ăn”, phải cho con cái nghỉ học sớm. Họ chỉ biết sống  tạm bợ, ʺlây lất cho qua ngàyʺ, ʺsống hôm nay không biết đến ngày maiʺ, hay ʺtới đâu hay 

tới đóʺ (tất cả các nhóm người lớn và thanh niên). 

Tất cả các nhóm thảo luận, kể cả nhóm trẻ em, cho rằng cuộc sống của họ vất vả hơn 

là do nhiều nguyên nhân khác nhau như:  

- Không có công ăn việc làm do trình độ học vấn thấp, thiếu tay nghề, thiếu mạng lưới  hỗ  trợ  xã  hội,  không  biết  thông  tin  tuyển  dụng  lao  động,  mất  việc  làm  cũ hoặc trở nên thất nghiệp do doanh nghiệp đóng cửa/ di dời đi nơi khác và do bị dẹp chợ (chợ tự phát). 

- Công việc, làm ăn, buôn bán không ổn định, như buôn gánh bán bưng, chạy xe 

ôm, làm hồ, làm thuê mướn. 

- Không biết làm ăn, thua lỗ, và mất hết vốn (có được nhờ bán đất hay được đền bù giải tỏa). 

- Bị tịch thu các phương tiện kiếm sống (do buôn bán trên vỉa hè, lề chợ). 

- Mù chữ, trình độ học vấn thấp, không có tay nghề, kỹ năng chuyên môn để có việc làm ổn định. 

- Bệnh tật và rơi vào cảnh nợ nần do chi phí khám chữa bệnh tốn kém. 

- Gia đình đông con (đặc biệt là những gia đình có con còn nhỏ, chưa đến tuổi đi làm). 

- Đóng các khoản phí cao để cho con đi học. 

- Sa vào tệ nạn như cờ bạc, ăn chơi phung phí, nghiện ngập xì ke ma túy, vì vậy rơi vào cảnh nợ nần. 

Hơn nữa, việc chi tiêu cần thiết để duy trì các mối quan hệ xã hội như thường xuyên tham dự các đám cưới, hỏi, ma chay, giỗ, tiệc tùng của xóm giềng cũng làm cho họ khó có thể có được số tiền để dành từ nguồn thu nhập khiêm tốn. 

Ngoài những nhận thức nghèo tương tự giữa tất cả các nhóm dân, có một số nhóm có thêm vài nguyên nhân đặc biệt khác cũng làm cho cuộc sống của họ nghèo đi. Dưới đây là một số nguyên nhân đáng chú ý. 

Người dân sống dọc kênh rạch ở Quận 8 còn phải chịu thiệt thòi vì tình trạng nhà cửa thường  xuyên  xuống  cấp.  Cứ  mỗi  khi  dành  dụm  được  một  số  tiền  họ  lại  phải  chi 

dùng vào việc sửa chữa nhà cửa, vì thế họ khó có thể thoát được cảnh nghèo. “Tụi tui 

ở  nhà  sàn  có  đóng  cừ  trên  kênh  nên  thường  cứ  2‐3  năm  phải  thay  cừ  để  nhà  khỏi  bị  sụp” 

(nhóm  nam  nghèo  và  nữ  nghèo  Quận  8).  Ngoài  ra  họ  còn  phải  chịu  các  rủi  ro  như ngập nước, cháy nhà vì thường sống trong các khu dân cư môi trường thấp kém nằm trong các hẻm nhỏ, sâu, ngoằn ngoèo chật chội hoặc ven kênh rạch.  

Riêng đối với nhóm nhập cư, còn có các yếu tố khác nữa khiến cho cuộc sống của họ không khá lên dù họ đã cố gắng làm việc và tiêu xài tằn tiện, có thể được kể tóm tắt như sau: 

Trang 26

Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm và những rủi ro

Tính đa khía cạnh của tình trạng nghèo

Ngoài việc thấy rõ các nguyên nhân nghèo, người nghèo cũng nhận thức được rằng nghèo  là  một  tình  trạng  có  rất  nhiều  khía  cạnh  khác  nhau.  Trong  các  bài  tập  phân hạng kinh tế hộ tiến hành tại các tổ dân phố, người dân địa phương đã đưa ra hành loạt  các  tiêu  chí  nghèo  đa  dạng  để  dựa  theo  đó  mà  phân  hạng  một  hộ  gia  đình  là 

“khá”,  “trung  bình”, “nghèo”,  hay “rất  nghèo”.  Các  tiêu  chí  này,  sau  khi được  tổng hợp lại, cho thấy nhiều điểm tương đồng nổi bật và nhìn chung có thể quy vào một số nhóm như giàu hay nghèo về vật chất (thu nhập, tài sản, điều kiện sống, chất lượng cuộc sống), khả năng và vốn con người (trình độ học vấn và sức khoẻ), các nguồn lực 

xã hội và chính trị (mạng lưới hỗ trợ xã hội, tiếng nói và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tiếp cận thông tin), và sự bấp bênh cũng như những tổn thương (xem Bảng 3).  Theo kết quả của nghiên cứu đánh giá nghèo lần này, trung bình có khoảng 40% KT1 

và  KT2,  50%  hộ  KT3  và  30%  KT4  của  tổng  số  hộ  trong  tổ  dân  phố  được  cộng  đồng phân hạng là thuộc dạng “nghèo” và “rất nghèo”. Những con số này cho thấy một sự khác biệt rõ rệt giữa nhận thức về nghèo của người dân địa phương và tiêu chí xếp loại nghèo của chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo (xem Khung 1), chủ yếu là dựa trên thu nhập. Theo chương trình này, thường có khoảng từ 2 đến 7 tức 4% đến 15% hộ trong tổ dân phố (tổng trung bình mỗi tổ có khoảng 48 hộ) là thuộc diện nghèo. Ngoài ra, có ghi nhận rằng bài tập phân hạng kinh tế hộ này đã bỏ sót một số lượng đáng kể các hộ 

và  nhân  khẩu  KT3  và  KT4,  những  người  tương  đối  không  được  các  phân  hạng  viên biết đến nhiều. Các con số khác nhau về số lượng người nghèo này cho thấy người dân nghèo ngày càng nhận thức về vấn đề nghèo là một vấn đề có nhiều khía cạnh đa dạng (không chỉ là thu nhập) và các khía cạnh của tình trạng nghèo có liên hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại và tạo nên cái gọi là “vòng luẩn quẩn của đói nghèo”

Khung 1: Tiêu chí xác định hộ nghèo của chương trình Xóa Đói Giảm Nghèo

Tiêu chí đầu tiên và quan trọng nhất để xếp loại hộ nghèo của chương trình Xoá Đói Giảm Nghèo là dựa  trên  thu  nhập  (chủ  yếu  là  bình  quân  thu  nhập  đầu  người/  năm).  Ở  các  huyện  ngoại  thành  như  Huyện  Bình Chánh, tiêu chí này là 2.500.000 đồng/người/năm (được áp dụng từ năm 1997 đến nay). Ở các quận  nội thành như Quận 8 là 3.000.000 đồng/người/năm (được áp dụng từ năm 1997 đến nay). Tiêu chí thứ  hai là hộ khẩu thường trú. Tuy nhiên, các tiêu chí này chỉ được xem là những điều kiện cần. Các điều kiện 

đủ bao gồm các: nhân khẩu có khả năng lao động và chịu khó làm ăn, không rượu chè, cờ bạc, đánh đề, hay  nghiện ngập ma túy. Người nhập cư được xét chọn vào chương trình XĐGN nếu họ có nhà, có hộ khẩu  KT3  và  công  việc  làm  ổn  định  (theo  kết  quả  phỏng  vấn  cán  bộ  XĐGN  cấp  quận  huyện  và  thành 

phố)

 

So với nghiên cứu Đánh giá tình trạng nghèo 1999 (SCUK 1999) cũng như Tham khảo 

ý kiến cộng đồng về chiến lược CPRGS năm 2001 (SCUK 2002), nghiên cứu Đánh giá tình trạng nghèo lần này không có những điểm khác biệt nổi bật về sự đa dạng khía cạnh của tình trạng nghèo. Nhìn chung tất cả các nhóm người nghèo không chỉ quan 

Trang 27

tâm đến các khía cạnh vật chất và hữu hình của tình trạng nghèo như thu nhập, của cải,  điều  kiện  nhà  cửa,  mà  còn  quan  tâm  những  khía  cạnh  khác  như  giáo  dục,  sức khoẻ,  các  mạng  lưới  hỗ  trợ,  sự  bấp  bênh,  công  việc  mùa  vụ,  và  tính  rủi  ro  dễ  tổn thương (xem bảng 3). Tuy nhiên, cũng có một số điểm đáng chú ý giữa nghiên cứu lần này và hai lần trước.  

Khung 2 Ý nghĩa của các nguồn lực chính trị và xã hội đối với người nghèo

Trước  tiên  người  nghèo  tham  khảo  ý  kiến  lần  này  rất  quan  tâm  đến  các  cơ  hội  phát triển cũng như các nguy cơ bị mai một nguồn vốn con người. Họ đặc biệt quan tâm đến  việc  học  hành  con  cái  và  xem  đó  như  là  một  tài  sản  thiết  yếu  để  vượt  qua  đói nghèo và có cơ hội vươn lên trong xã hội. Tuy vậy chi phí cho con cái đến trường hoặc các trung tâm dạy nghề quá cao đã buộc họ phải cho con cái nghỉ học và không ít các trường hợp con cái của họ phải trở thành trẻ lao động sớm. Đến lượt những trẻ em này lớn lên lại trở thành những người thất nghiệp. Vì vậy, tình trạng nghèo từ thế hệ này 

sang thế hệ khác cứ tiếp diễn, kiểu “nghèo từ đời ông bà cha mẹ đến đời con cái” như một 

nam nghèo ở Phường 4 Quận 8 nói. Ngoài trình độ học vấn, sức khoẻ ngày càng được tất cả các nhóm nghèo, kể cả thanh niên và trẻ em nhận thức như là một phương tiện sản xuất tạo ra của cải. Sự hao mòn sức khỏe vì bệnh tật, tai nạn và bóc lột lao động làm cho họ cạn kiệt những khoản tiết kiệm và vô hiệu hoá mọi nỗ lực vươn lên của họ.  

Một điểm tương đồng nổi bật thứ hai giữa các nhóm là mối quan tâm càng nhiều về việc tiếp cận các dịch vụ và chương trình hỗ trợ của nhà nước, các nguồn lực chính trị 

và xã hội. Người nghèo ngày càng nhận ra rằng tình trạng thiếu tiếng nói của chính 

họ  và  sự  thiếu  cơ  chế  hữu  hiệu  đảm  bảo  tính  chịu  trách  nhiệm  với  dân  của  các  cơ quan nhà nước là một trong những yếu tố liên quan mật thiết đến tình trạng nghèo. Người nghèo được tham vấn tỏ ra hiểu rõ rằng việc thiếu hộ khẩu thường trú và chi phí  cao  đã  tạo  ra  những  rào cản  làm  cho họ  không  tiếp  cận được  dịch  vụ  xã  hội  cơ bản. Việc không tiếp cận được những dịch vụ cơ bản như nước, tín dụng, giáo dục, đào tạo tay nghề, và y tế không chỉ làm cho tài sản, nguồn lực tài chính và vốn con người bị cạn dần mà còn làm cho họ không thể tạo ra của cải vật chất. Những người 

có nguồn lực và phương cách xoay sở hạn hẹp rơi vào cảnh nợ nần và càng túng bấn hơn.  Nhìn  chung,  đa  số  người  nghèo  được  tham  vấn  chưa  cảm  thấy  các  biện  pháp giảm nghèo của nhà nước đã tạo những tác động tích cực cho cuộc sống của họ. Hơn nữa việc thiếu mạng lưới hỗ trợ xã hội, mà đặc biệt người nhập cư thường gặp phải, 

là một trở lực lớn đối với việc dành dụm tích lũy. Người nhập cư không được hưởng một số lợi thế mà người địa phương hưởng được nhờ là thành viên lâu năm của cộng đồng, như là mua chịu, hay mượn tiền với lãi suất thấp hay không có lãi suất từ hàng xóm của họ. 

Trang 28

Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm và những rủi ro

Khung 3 Người nghèo nhận thức được chất lượng cuộc sống của họ thấp

“Có tivi nội địa/ trắng đen/ người ta cho ” (nhóm nam nghèo và nữ địa phương) 

“Sống trong môi trường hôi thối bệnh nhiều” (tất cả các nhóm địa phương và nhập cư kể cả thanh 

niên và trẻ em) 

“Công việc bấp bênh không vững/ nghề nghiệp không ổn định/ kêu làm gì thì làm đó, buôn gánh bán bưng/  buôn bán bậy bạ lây lất, công việc mùa vụ” (tất cả các nhóm, kể cả thanh niên và trẻ em) 

Trang 29

Bảng 3 Tính đa khía cạnh của tình trạng nghèo

Thu nhập không đủ ăn

Thu nhập không đủ để đóng tiền học cho con

Thu nhập thấp

Thu nhập không đủ mua thức ăn

và quần áo, thu nhập quá thấp không đáp ứng được nhu cầu của người trong nhà

Không có đất, thiếu thu nhập

Không đủ tiền xài

Không dư ăn, gạo không có để nấu

Thu nhập thấp hơn mức chi tiêu

Tiện nghi gia đình rất hạn chế,

không có giường tủ, bàn ghế

Tiện nghi vật chất (đồ dùng,

chén bát) không có Không có phương tiện xe cộ để

đi học

Không có khả năng lấp sàn nhà, không có tiền sửa, cừ mục

Không có tiền sửa chữa nhà

Không có tiền sửa chữa nhà Không có tiền sửa nhà Thiếu nợ phải bán nhà

Nghèo đi vì phải bán nhà trả nợ Không có tiền sửa chữa nhà

Nhà mưa ngập lầy lội, khổ, dơ

Có bữa có tiền mua gạo, có bữa không, mua gạo từng ngày

Thiếu ăn thiếu gạo phải chạy ăn từng

bữa Bữa cơm bữa cháo Gạo không đủ ăn, áo không đủ

mặc

Cuộc sống không ổn định Nước nôi không đủ, nước phèn, giếng

không lọc nên bị ghẻ ngứa, cả khu nước giếng vàng, hôi, thuốc tẩy nặng mùi

Chất lượng cuộc

sống

Trẻ bị bệnh do phải sống trong môi trường ô nhiễm (cứ 10 trẻ thì có tới 8 trẻ bị bệnh)

Bệnh hoạn, không đủ khả năng chữa chạy

Trẻ bị bệnh không tiền chữa trị

Không có tiền mua thuốc

Bệnh không có tiền chữa bệnh

Trang 30

Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm và những rủi ro

Tivi nội địa/ người ta cho/ rẻ tiền Chỉ có tivi trắng đen Coi nhờ tivi

Ba chạy xe honda ôm xe hay bị

hư phải sửa hoài, tiền làm ngày nào sửa xe ngày đó

Ngồi bán ở lòng lề đường bị công

an bắt

Việc làm bấp bênh, bữa có bữa không

Chồng thất nghiệp ở nhà coi con Nghề nghiệp không ổn định Thất nghiệp thường xuyên Thường xuyên thất nghiệp Buôn bán ế ẩm Làm ăn thất bại, bị cạnh tranh

Sinh kế

ăn việc làm lại còn lo cho con ăn học và công việc gia đình

Con cái thất học

Con thất học đi làm nuôi gia đình Nhiều trẻ phải nghỉ học và lao động sớm Đóng tiền 90.000 đồng nên phải nghỉ học Trẻ bị thiếu học, thất học, bỏ học

Một người lao động nuôi nhiều người

Phải nghỉ học để kiếm sống phụ gia đình

Phải nghỉ học sớm để kiếm tiền nuôi cha mẹ, phụ giúp gia đình (làm mướn thuê, giặt đồ thuê)

Con đi học không có tiền đóng học phí, phải nghỉ học nửa chừng

Không có tiền đóng tiền học,

không tiền mua sách vở nên phải nghỉ học nửa chừng

Không tiền nên không học được

Không có tiền đóng tiền học nên trẻ em phải bỏ học nửa chừng

Bệnh đau suốt ngày nên làm bao nhiêu cũng không đủ

Nuôi người già cả trong nhà

Nguồn vốn con

người

Không có tay nghề chuyên môn, phải

đi làm công Không có trình độ học vấn Ăn học kém, đi làm xí nghiệp đòi trình độ Không có nghề, không đủ tuổi đi làm, không có tay nghề nên

không làm ở xí nghiệp được

Các nguồn vốn xã

hội

Không biết dựa vào đâu, không có người thân giúp đỡ

Không nơi nương tựa, nhờ vả

Mối quan hệ với những người có chức

có quyền để nhờ vả giúp đỡ với người nghèo chỉ là mơ thôi

Phải có quen biết thì mới vào làm trong xí nghiệp được

Trang 31

Trong xóm có quyên góp để giúp

đỡ người nghèo bị chết

Ở trường có cho học bổng vì nhà nghèo cho những học sinh học giỏi

Không có số nhà nên không được điện nước

Điện nước phải câu lại giá cao

Nhà không có số

Điện nước câu lại quá cao Phải xài nước giếng Nhà không có hộ khẩu

Không có tiền thì nhà thương thành nhà ghét Đi khám bệnh có tiền thì mới được khám trước và đối xử tử tế,

không có tiền thì bị đối xử cộc cằn

Con học lớp tình thương, phổ cập Con cái đi học không có tiền

đóng học phí, phải đi học lớp tình thương

Không có giấy tờ nên không đi học/ trẻ

đi học tư vì không giấy tờ

Học trò nghèo không có học thêm nên

bị thầy chèn ép, bị phân biệt đối xử

Đi học khó khăn, không được học trường chính quy

Không tiền nên không học được trường nhà nước, phải đi học lớp học tình thương vào buổi tối Không vay vốn nhà nước được vì

không có gì để thế chấp Không tài sản thế chấp để vay ngân hàng

Tiếp cận các dịch

vụ xã hội

Không có nhà, không có bà con nên không vay mượn, không ăn chịu được (nhóm nhập cư)

Thiếu tự tin

Mặc cảm với hộ khá hơn, mặc cảm với người giàu, không dám giao tiếp với người giàu

Không muốn chơi với nhà giàu vì sợ

mang tiếng, nhà giàu chơi có phe với nhau nên không dám chơi

Hộ giàu thì tối ngày đóng cửa, không nói chuyện, không có ai bị những chuyện gì làm cho bản thân thấy thương tâm, tủi thân

Khổ nhất là người nghèo bị thua thiệt

vì người giàu nghĩ người nghèo lợi dụng mình, chơi để mượn tiền

Trẻ bị ảnh hưởng về tinh thần, mặc cảm

Bị người giàu kế bên nhà ghét Giàu thì có tiền ăn chơi còn mình nghèo thì phải kiếm sống Người có chức có quyền, giàu có khinh ghét người nghèo

Đi làm ma cũ ăn hiếp ma mới Ở nhà trọ người ta muốn đuổi thì

Trang 32

Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm và những rủi ro

Dính đến rượu chè, tệ nạn Nhậu nhẹt Nghèo dễ dẫn đến tệ nạn

Con em hút chích Con cái vướng vào ma túy, gia đình có người bị bệnh Siđa Chồng chết phải sống vậy nuôi con

Bị ép lương, ngày xưa làm 20.000 đồng, bây giờ làm 15.000 đồng vẫn phải đi làm

Trời mưa bão, hồ không làm được

(công việc mùa vụ)

Người lao động trụ cột trong gia đình mất

Mắc nợ cả năm trời vì phải trả lãi cao Không trả hết nợ nổi (vay từ

nhiều nguồn khác nhau) vì lãi suất cao

phó với rủi ro, và

cơ hội thay đổi

Trang 33

Điểm tương đồng nổi bật thứ ba là người nghèo bắt đầu chú ý đến cách biệt giữa chất lượng  cuộc  sống  của  họ  và  của  người  khá  giả.  Nghèo  không  chỉ  là  vấn  đề  có  hay không có, mà còn là vấn đề chất lượng của những gì người ta sở hữu. Khung 3 minh họa những ý kiến được ghi nhận nhiều nhất của người nghèo về hoàn cảnh của họ ở tất cả các địa bàn nghiên cứu.  

 

Ghi nhận cuối cùng là người nghèo cũng rất hiểu rõ về những rủi ro và tính dễ tổn thương làm cho họ có nhiều nguy cơ rơi vào nghèo đói không thể thoát ra được, dù 

họ cũng nhận thấy rằng họ không thể làm gì để xoay chuyển tình thế. Sự bấp bênh của sinh kế và công ăn việc làm khiến cho họ rất dễ rơi vào cảnh nợ nần và nghèo đói triền miên. Nhóm nam trung niên cho rằng họ rất dễ bị thất nghiệp và phải làm công việc mang tính thời vụ vì họ đã lớn tuổi. Thanh niên đặt biệt lo lắng về sự thiếu tin cậy của các dịch vụ giới thiệu việc làm, về tình trạng sức lao động của họ bị bóc lột, bị 

ép giá tiền lương, không có bảo hiểm y tế và bảo hiểm tai nạn, ốm đau bệnh tật, tai nạn,  ngộ  độc  thực  phẩm  tại  nơi  làm  việc,  sự  phụ  thuộc  vào  lao  động  làm  công  ăn lương, chủ đột ngột cắt thoả thuận lao động không hề báo trước. Những điều này làm cho họ bị thất nghiệp và dễ dàng rơi vào cảnh nợ nần. Trẻ em ở nhiều địa bàn, hầu hết 

là  trẻ  lao  động  sớm,  nêu  lên  những  lo  lắng  về  tình  trạng  thất  nghiệp  của  chính  bản thân và của gia đình, về bệnh tật ốm đau trong khi làm việc, việc không được đi học 

 

Khi tìm việc, người nghèo đương đầu với nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thông tin về việc làm. Người nghèo không tiếp cận các dịch vụ giới thiệu việc làm của nhà nước vì họ không biết có các dịch vụ này hoặc không biết có thể tiếp cận dịch vụ này 

ở đâu. Các chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ nói rằng họ không bao giờ liên hệ với các dịch vụ giới thiệu việc làm của nhà nước để tuyển dụng vì họ cho rằng chất lượng các dịch vụ này không tốt. Khi cần tuyển dụng, họ thường thông báo cho công nhân của 

họ giới thiệu người quen vào làm. Vì vậy, người nghèo, đặc biệt là những người nhập 

cư, thường phải đến các dịch vụ giới thiệu việc làm của tư nhân. Các dịch vụ tư nhân thường yêu cầu phí dịch vụ (khá cao, từ 70.000 đến 100.000 đồng cho mỗi lần xin việc) sau khi người nộp đơn đã được tuyển dụng. Tuy nhiên, hầu hết người nghèo kể lại rằng những dịch vụ tư này không đáng tin cậy. Có không ít trường hợp các việc làm 

do  các  dịch  vụ  tư  nhân  giới  thiệu  thường  không  được  bền  lâu.  Những  người  được tuyển có thể chỉ làm trong một thời gian ngắn, chỉ được vài ngày hoặc vài tuần, do họ 

bị đuổi việc vì không đạt yêu cầu hay vì chính bản thân họ quyết định nghỉ vì lương quá thấp (không đúng như thỏa thuận ban đầu với dịch vụ giới thiệu việc làm) hoặc công việc quá nặng nhọc và bóc lột sức lao động. Người nghèo thẳng thắn nói rằng đây là một loại dịch vụ có tính lừa đảo hay lường gạt.    

 

Trang 34

Phần 3: Nhận thức về nghèo, xu hướng nghèo, động thái nghèo, việc làm và những rủi ro

Người nghèo diễn đạt tâm trạng bất an về phương kế sinh nhai hiện tại của họ. Nhiều người trong nhóm nam nghèo lo lắng về sự bấp bênh trong công việc lao động phổ thông ăn lương hàng ngày. Họ không chỉ bị làm thời vụ mà còn phải đương đầu với nhiều rào cản vì các luật lệ và đòi hỏi các giấy phép, các loại giấy tờ do nhà nước ban hành.  Nghị  định  36  NĐ‐CP  về  việc  cấm  buôn  bán  trên  lòng  lề  đường,  giống  như những  ghi  nhận  trong  hai  nghiên  cứu  tham  khảo  ý  kiến  người  dân  trước  đây,  vào năm 1999 và 2001 (SCUK 1999; SCUK 2002), nay cũng được người dân đề cập như là nỗi lo lớn. Họ lo lắng về khả năng bị tịch thu phương tiện sản xuất hay bị phạt hành chính  với  các  mức  phạt  tiền  mà  theo  họ  là  quá  nặng,  nhất  là  đối  với  những  người buôn gánh bán bưng qua ngày. Ngoài ra, các chính sách xã hội hay các quy định mới 

để  thiết  lập  lại  an  ninh  trật  tự  cũng  làm  người  nghèo  thêm  phần  khó  khăn.  Nhóm nam nghèo có ý kiến rằng quy định buộc người lái xe gắn máy trên 50 phân khối có bằng lái đã làm họ hạn chế lộ trình chở khách hay chở hàng vì họ không đủ trình độ học vấn để đi thi lấy bằng, trong khi đó khách lại không thích đi xe 50 phân khối cũ (không cần có bằng lái).  

 

Riêng  người  làm  công  ăn  lương  nhìn  chung  cho  rằng  họ  may  mắn  hơn  nhờ  có  thu nhập ổn định. Tuy nhiên nhiều người thổ lộ rằng họ cũng có nguy cơ mất việc vì họ không ký hợp đồng lao động và không có bảo hiểm xã hội. Nhiều thanh niên làm việc trong các nhà máy xí nghiệp lớn than phiền họ phải làm việc quá sức vì chủ kéo dài giờ làm và giờ giấc không ổn định. Và khi họ bị ốm đau nghỉ ngày nào thì không có tiền lương ngày đó; trong khi tần suất ốm đau ngày một cao theo thời gian làm việc. Nếu chẳng may gặp phải tai nạn lao động, khiến họ bị ốm nặng hoặc khuyết tật, họ 

càng dễ bị mất việc hơn mà không có cơ chế đền bù hay hỗ trợ nào. “Tôi bị sắt đè ở 

xưởng, đã hơn hai mươi ngày nay tôi không đi làm kiếm tiền được. Tôi phải vay “nóng” để trả  tiền thuốc và tiêu xài mỗi ngày. Chẳng biết khi nào tôi mới đi làm lại được để trả hết số nợ  này” (một nam nhập cư tuổi 30 ở Thị trấn An Lạc). Hầu hết người nghèo khẳng định 

số tiền quá ít, nhiều khi còn không đủ tiền xe, nên họ thấy không đáng.” Hầu hết chủ các 

doanh nghiệp nhỏ và vừa cho rằng công nhân của họ không muốn có bảo hiểm xã hội 

vì  họ  không  muốn  bị  trừ  lương.  Theo  ý  kiến  của  người  nghèo  thì  trung  bình  có 

Ngày đăng: 24/01/2014, 03:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Dân số Quận 8, Phường 4 và Phường 5. - Tài liệu Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại TPHCM pptx
Bảng 2. Dân số Quận 8, Phường 4 và Phường 5 (Trang 22)
Bảng 3. Tính đa khía cạnh của tình trạng nghèo. - Tài liệu Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại TPHCM pptx
Bảng 3. Tính đa khía cạnh của tình trạng nghèo (Trang 29)
Bảng 4. Ý kiến của cán bộ và người dân địa phương về các lĩnh vực dân chủ cơ sở - Tài liệu Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại TPHCM pptx
Bảng 4. Ý kiến của cán bộ và người dân địa phương về các lĩnh vực dân chủ cơ sở (Trang 38)
Bảng 5. Ý kiến của cán bộ và người dân địa phương về cơ chế tăng cường sự tham gia và - Tài liệu Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại TPHCM pptx
Bảng 5. Ý kiến của cán bộ và người dân địa phương về cơ chế tăng cường sự tham gia và (Trang 40)
Bảng 6. Dân chủ cơ sở trực tiếp và đại diện. - Tài liệu Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại TPHCM pptx
Bảng 6. Dân chủ cơ sở trực tiếp và đại diện (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm