Câu 2 a Đặt tên đề tài Đánh giá của giảng viên và sinh viên Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn Thông về chất lượng phần mềm và hiệu quả dạy - học trực tuyến trong mùa dịch Covid-19 b Mụ
Trang 1HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
VIỆN KINH TẾ BƯU ĐIỆN
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Giảng viên: Đinh Thị Hương
Sinh viên: Hoàng Thị Nam Phương
Mã sinh viên: D18DCMR152
Lớp: D18PMR
Nhóm môn học: 03
Mã đề: 2
Hà Nội, tháng 12 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
ĐỀ BÀI 3
Câu 1 (3 điểm) Anh (chị) hiểu thế nào về tính kế thừa trong nghiên cứu khoa học? 3
Câu 2 (7 điểm) Từ chủ đề về giáo dục trong đại dịch Covid, anh (chị) hãy thực hiện các yêu cầu: 3
a, Đặt tên một đề tài nghiên cứu khoa học thuộc chủ để trên (1 điểm) 3
b, Chỉ ra mục tiêu và phương pháp nghiên cứu (2 điểm) 3
c, Trình bày khái quát tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về đề tài đã chọn (2 điểm) 3
d, Sử dụng thẻ References trong Word để lập danh mục tài liệu tham khảo theo chuẩn MLA (2 điểm) 3
BÀI LÀM 4
Câu 1 4
Câu 2 5
a) Đặt tên đề tài 5
b) Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu 5
c) Khái quát tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về đề tài đã chọn 6
d) Danh mục tài liệu tham khảo 8
Trang 3ĐỀ BÀI
Câu 1 (3 điểm) Anh (chị) hiểu thế nào về tính kế thừa trong nghiên cứu khoa học?
Câu 2 (7 điểm) Từ chủ đề về giáo dục trong đại dịch Covid, anh (chị) hãy thực hiện các yêu cầu:
a, Đặt tên một đề tài nghiên cứu khoa học thuộc chủ để trên (1 điểm)
b, Chỉ ra mục tiêu và phương pháp nghiên cứu (2 điểm)
c, Trình bày khái quát tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về đề tài đã chọn (2 điểm)
d, Sử dụng thẻ References trong Word để lập danh mục tài liệu tham khảo theo chuẩn MLA (2 điểm)
Trang 4BÀI LÀM
Câu 1
Nghiên cứu khoa học là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học Đây là một quá trình được trau dồi thông qua những lý thuyết khoa học, các khái niệm và mối quan hệ giữa các khái niệm đó Đó còn là sự tìm kiếm những điều
mà khoa học chưa biết, hoặc là sự phát hiện ra bản chất của sự vật, tạo ra tri thức mới giúp con người nhận thức thế giới; và sáng tạo ra những phương pháp, phương tiện kỹ thuật mới nhằm làm biến đổi sự vật, phục vụ mục tiêu hoạt động của con người Mục đích của nghiên cứu khoa học là nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức thế giới và cải biến thế giới
Đặc trưng của nghiên cứu khoa học là tìm hiểu, phát hiện, khám phá những thuộc tính mới của sự vật, hiện tượng Điều này đòi hỏi nghiên cứu khoa học cần luôn sáng tạo trong cách tiếp cận và cách thực hiện nghiên cứu khoa học Nhưng trong cái mới của nghiên cứu khoa học luôn đi kèm với tính kế thừa những tri thức
đã được tích lũy trước đó, đồng thời bắt nguồn từ những đòi hỏi cơ bản, cấp thiết của thực tiễn Kết quả là cùng thời gian, tri thức nhóm thứ nhất luôn được củng cố, ngày càng hoàn thiện hơn, tri thức nhóm hai và nhóm ba sẽ được đổi mới, hoàn thiện và có thể thay đổi bằng tri thức hoàn toàn mới Vậy có thể thấy rằng, nghiên cứu khoa học có đặc điểm rõ rang nhất là những thông tin được kế thừa từ các nghiên cứu đi trước
Trong quá trình phát triển, kế thừa là mối quan hệ tất yếu giữa cũ và mới Đây là quy luật cơ bản của quá trình phát triển của tự nhiên Nó tiếp thu và duy trì những truyền thống của thế hệ trước Vì vậy, việc nhận thức đúng đắn quá trình thừa kế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp chúng ta có thể phân tích những quy luật phát triển, phát huy những thành tựu trong quá khứ
Có thể thấy rằng hoạt động nghiên cứu không phải của một cá nhân, mà phải
có sự tiếp nối liên tục từ thành quả của nhiều thế hệ Hiện nay, không có một nghiên cứu khoa học nào được bắt đầu hoàn toàn từ cái mới, không có kiến thức cũng như
lý thuyết Mỗi nghiên cứu đều phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau và có sự tham gia của những lý luận và phương pháp luận từ các lĩnh vực khoa học đó
Trang 5Tính kế thừa có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu khoa học vì hầu hết các phương hướng nghiên cứu đều xuất phát và kế thừa từ các kết quả đã đạt từ trước
đó Mỗi nghiên cứu cần phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác nhau
Câu 2
a) Đặt tên đề tài
Đánh giá của giảng viên và sinh viên Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn Thông về chất lượng phần mềm và hiệu quả dạy - học trực tuyến trong mùa dịch Covid-19
b) Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu
• Mục tiêu nghiên cứu:
Kể từ khi dịch bệnh Covid-19 bùng phát, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông đã nhanh chóng thay đổi phương pháp dạy và học trực tuyến để phù hợp với quy định giãn cách xã hội, hạn chế tụ tập đông người của Chính phủ Nghiên cứu này nhằm thu thập những ý kiến phản hồi của giảng viên và sinh viên về chất lượng phần mềm và hiệu quả của hoạt động giảng dạy - học tập trực tuyến tại Học viện
Đánh giá được mức độ hiệu quả của phần mềm dạy học trực tuyến
Phân tích được tỷ lệ giảng viên đạt trên 60% của mức độ truyền tải nội dung bài giảng và tỷ lệ sinh viên đạt trên 60% của mức độ tiếp thu kiến thức
Kết quả nghiên cứu là nguồn thông tin quan trọng giúp Học viện lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp trong những năm học tiếp theo
• Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện tại hai cơ sở của Học viện: Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh Trong bối cảnh thời gian phòng chống đại dịch COVID-19, toàn bộ giảng viên và sinh viên của Học viện được bố trí giảng dạy và học tập trực tuyến trên phần mềm TranS của Nhà trường
Đối tượng tham gia khảo sát sẽ là những giảng viên và sinh viên Học viện đã
có tham dự giảng dạy và học tập trên phần mềm học tập trực tuyến (TranS) Bảng hỏi được chia thành 2 phần: Phần một gồm các thông tin cá nhân của người dạy và người học như email, Khoa đào tạo, địa điểm giảng dạy và học tập chủ yếu, thiết bị
Trang 6kết nối chính; Phần hai gồm các câu hỏi đề cập đến các nội dung nhằm đo lường cảm nhận của người dạy và người học về ba thành phần: Chất lượng phần mềm Trans, Mức độ truyền tải nội dung bài giảng của giảng viên (với người đánh giá là sinh viên), Mức độ tiếp thu kiến thức của sinh viên (với người đánh giá là giảng viên) Thang đo Likert 5 cấp độ (với 1-Hoàn toàn không hài lòng và 5-Hoàn toàn hài lòng) được sử dụng trong phần hai và ba của bảng hỏi Giảng viên và sinh viên nhận bảng hỏi qua email cá nhân
c) Khái quát tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về đề tài đã chọn
• Tình hình trong nước
Nghiên cứu mới của các chuyên gia Đại học RMIT và Đại học Kinh tế TP
Hồ Chí Minh đã chỉ ra những nhu cầu cấp thiết của người học trực tuyến và gợi ý cách các trường đại học có thể xây dựng môi trường học tập trực tuyến hấp dẫn
Nghiên cứu của nhóm chuyên gia vừa được công bố trong cuốn sách
“COVID-19 and Education: Learning and Teaching in a Pandemic-Constrained Environment” của nhà xuất bản Informing Science Press Nghiên cứu dựa trên phân tích định tính một nhóm sinh viên tại một trường đại học Việt Nam đã chuyển sang học trực tuyến hoàn toàn trong nửa đầu năm 2020 do COVID-19
Nhóm đã áp dụng khung nghiên cứu phổ biến mang tên Community of Inquiry (tạm dịch: Cộng đồng khảo cứu), tập trung vào ba yếu tố của hiện diện trực tuyến: hiện diện người dạy, hiện diện nhận thức và hiện diện yếu tố xã hội
- Hiện diện người dạy: liên quan tới cách thiết kế bài dạy và điều phối các hoạt động học tập trực tuyến nhằm kết nối người học với người dạy và các tài liệu giảng dạy
- Hiện diện nhận thức: chú trọng vào kết nối bài giảng trực tuyến với những kiến thức sẵn có của người học, giúp người học kiến tạo thông tin và tri thức mới
- Hiện diện yếu tố xã hội: xoay quanh việc giúp người học trực tuyến kết nối với cả nhóm bằng cách tạo bối cảnh học tập tương tự như lớp học ngoài đời thật
Nghiên cứu của nhóm chỉ ra rằng trong ba yếu tố hiện diện trực tuyến, sinh viên đánh giá cao tính đầy đủ của hiện diện người dạy, bao gồm cơ sở hạ tầng trực tuyến, hệ thống quản lý học tập và các phương thức giảng dạy trực tuyến khác nhau Sinh viên cảm thấy hài lòng khi có thể tương tác liên tục và hai chiều với người dạy Họ cũng nhận định rằng việc sử dụng hiệu quả và thường xuyên các công cụ truyền thông xã hội giữa giảng viên và sinh viên, và giữa sinh viên với nhau, là rất
Trang 7cần thiết cho quá trình học tập trực tuyến
Liên quan tới hiện diện nhận thức, các bản thu hình bài giảng và lịch sử tin nhắn được lưu lại trong các phiên hỏi-đáp cho phép sinh viên xem lại nội dung sau lớp học Đồng thời, sinh viên ở các trình độ tiếp thu kiến thức khác nhau cũng có thể nắm bắt nội dung môn học tốt hơn
Tuy nhiên, để đảm bảo chất lượng học tập, sinh viên nhận thấy bản thân cần
tự nỗ lực hơn nữa, bao gồm nâng cao ý thức tự thân tìm ra câu trả lời, làm bài tập về nhà và tổng hợp kiến thức
Một quan sát đáng chú ý khác là mặc dù việc giảng dạy đã chuyển sang hình thức trực tuyến nhưng hầu hết các phương thức đánh giá vẫn giữ nguyên như khi học trực tiếp Theo nhóm nghiên cứu, cần phải xem xét lại toàn diện xem các trường đại học nên điều chỉnh cách thức đánh giá sinh viên ra sao cho phù hợp với nền tảng dạy và học đã thay đổi, cũng như các kỹ năng mới của cả sinh viên và giảng viên
Song song với điều đó, nghiên cứu ghi nhận những phản ứng trái chiều về hiện diện xã hội trong học tập trực tuyến Quy mô lớp học lớn và việc thiếu các mối quan hệ cá nhân được xác lập từ trước được coi là lý do chính cho sự khó khăn của sinh viên khi làm việc nhóm
• Tình hình ngoài nước
Hầu hết các chính phủ trên thế giới đã tạm thời đóng cửa các cơ sở giáo dục
và đào tạo trong nỗ lực ngăn chặn sự lây lan của đại dịch Tính đến ngày 14 tháng
04 năm 2020, gần 1,6 tỷ hoặc 91,3% học sinh đã bị ảnh hưởng bởi việc đóng cửa hệ thống tại 188 quốc gia Các quốc gia khác cũng đã thực hiện việc đóng cửa cục bộ ảnh hưởng đến hàng triệu người học thêm (UNESCO 2020) Trong khi những số liệu này có thể lấy từ số lượng sinh viên của giáo dục nghề nghiệp đăng ký trong các hệ thống giáo dục trung học, thì lại không có sẵn các dữ liệu quốc tế toàn diện
về việc học sinh đăng ký vào giáo dục nghề nghiệp và các chương trình kỹ năng rộng hơn đã bị ảnh hưởng như thế nào Tuy nhiên, kết quả từ các điều tra ban đầu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho thấy 30% các cơ sở giáo dục nghề nghiệp dừng hoạt động hoàn toàn, tại khu vực Mỹ La-tinh và vùng Ca-ri-bê, 85% các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã dừng tất cả các lớp học trực tiếp (ILO 2020a, ILO CINTERFOR 2020)
Trang 8Mặc dù những tiến bộ gần đây trong công nghệ, việc học từ xa không phải là
sự thay thế lâu dài cho việc giảng dạy trực tiếp và đào tạo kỹ năng thực tế Do đó, việc chuyển sang học trực tuyến hoặc học từ xa trong đại dịch nên được xem trước hết là giải pháp khẩn cấp và không phải là sự dịch chuyển vĩnh viễn của các chương trình (EI 2020) Ngoài ra còn tồn tại sự bất bình đẳng trong khu vực về cơ sở hạ tầng kỹ thuật số và năng lực, có thể nhiều hơn trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp
và kỹ năng khi đầu tư thấp đã hạn chế chất lượng của việc học tập trực tuyến trong dài hạn ở nhiều quốc gia Khảo sát gần đây của Ngân hàng Thế giới ở Trung Á cho thấy 70% các quốc gia có khả năng học tập từ xa tối thiểu, không có quốc gia nào
có các nguồn lực liên kết chương trình giảng dạy trực tuyến phổ biến cho việc dạy
và học (Ngân hàng Thế giới 2020) Ngay cả các hệ thống giáo dục châu Âu cũng chưa được chuẩn bị tốt kỹ thuật số hóa, với 40% công dân EU thiếu các kỹ năng kỹ thuật số cơ bản và dưới 40% giáo viên và giảng viên được đào tạo về công nghệ giáo dục trong chương trình Giáo dục Sư phạm Ban đầu (ITE) (Solidar, 2020)
Sự phân chia kỹ thuật số này có nguy cơ làm gia tăng khoảng cách về thành tích học tập, vì các hộ gia đình có thu nhập thấp ít có khả năng có các công cụ và môi trường cần có cho việc học trực tuyến hiệu quả Thành thích học tập cũng có thể bị ảnh hưởng đối với những người học những người không tham gia tốt với các bạn học trong việc học trực tuyến, thậm chí có kỹ năng số
Bên cạnh nhu cầu về kỹ năng số, thái độ và hành vi liên quan đến học tập kỹ thuật số cũng đang chứng tỏ tầm quan trọng lớn Người học có thể khó khăn để duy trì sự tham gia vào các khóa học kỹ thuật số, do thiếu bối cảnh hỗ trợ, kinh nghiệm trước đây và phương pháp giảng dạy đầy đủ Kinh nghiệm của Trung Quốc về việc chuyển sang thực hiện đào tạo trực tuyến để đáp ứng với COVID-19 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng, nền tảng và sự chuẩn bị của giáo viên cũng như của học sinh và phụ huynh (ADB 2020)
d) Danh mục tài liệu tham khảo
ADB Lessons learned from the massive shift to online learning due to COVID-19 2020
<https://blogs.adb.org/lessons-learned-from-the-massive-shift-to-online-learning-due-to-COVID-19>
Cheong, C., Coldwell-Neilson, J., MacCallum, K., Luo, T., & Scime, A Covid-19 and
Education: Learning and Teaching in a Pandemic-Constrained Environment Santa
Rosa, California: Informing Science Press, 2021
Trang 9EI Thinking About Pedagogy in an Unfolding Pandemic 2020
<https://issuu.com/educationinternational/docs/2020_research_covid-19_eng>
ILO, CINTERFOR The role of vocational training skills development against the effects
of COVID-19 in Latin 2020
<https://www.oitcinterfor.org/en/publications/ilocinterfornotes/vt_covid>
Phan T N Thanh và cộng sự “Cảm nhận của sinh viên chính quy khi trải nghiệm học trực
tuyến hoàn toàn trong thời gian phòng chống dịch Covid-19.” Tạp chí Khoa học
Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh (2020): 18-28
Solidar, Foundation Universal Access to Education at a time of online Learning 2020
<https://www.solidar.org/en/publications/briefing-note-e-learning-universal-access-to-education-at-a-time-of-online-learning>
UNESCO COVID-19 Educational Disruption and Response 2020
<https://en.unesco.org/covid19/educationresponse>