Những hoạt động trong nghiên cứu khoa học khi đó sẽ kế thừa những điều đúng cùng với đó có thể nhìn nhận được những khó khăn cũng như những điều hạn chế mà những nghiên cứu cùng lĩn
Trang 1HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN
Môn học: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Giảng viên hướng dẫn: Đinh Thị Hương
Sinh viên thực hiện: Lâm Đức Thắng
Mã sinh viên: B18DCMR178 Nhóm MH: 03
Mã đề thi: 02 Hệ: Chính quy
Trang 21
Trang 4BÀI LÀM - ĐỀ 02
Câu 1 (3 điểm) Anh (chị) hiểu thế nào về tính kế thừa trong nghiên cứu khoa học?
Trả lời:
Nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa
học về thế giới, hoặc sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người
Về mặt thao tác, có thể định nghĩa: Nghiên cứu khoa học là quá trình hình thành
và chứng minh luận điểm khoa học
Tính kế thừa có ý nghĩa quan trọng về mặt công thức tìm hiểu khoa học Hầu
hết các phương hướng tìm hiểu đều xuất phát và kế thừa từ các hiệu quả đã đạt được trước đó
Mỗi nghiên cứu phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học rất khác xa nhau Tính kế thừa có ý nghĩa quan trọng trong mặt phương pháp luận nghiên cứu
Ngày nay, hầu như mọi công trình Nghiên cứu khoa học thì đều bắt đầu từ một khối lượng kiến thức giúp nền tảng nhất định cho những bài nghiên cứu khoa học sau này Các kiến thức này được kế thừa từ các kết quả nghiên cứu ngay trong lĩnh vực
mà nó đang nghiên cứu và cũng có thể kế thừa từ các lĩnh vực khoa học khác nhau rất
xa
Hoạt động nghiên cứu khoa học không phải là của một cá nhân, mà phải có sự tiếp nối liên tục từ thành quả của nhiều thế hệ
Những hoạt động trong nghiên cứu khoa học khi đó sẽ kế thừa những điều đúng cùng với đó có thể nhìn nhận được những khó khăn cũng như những điều hạn chế mà những nghiên cứu cùng lĩnh vực trước có để có thể đưa được quyết định đúng đắn Những quyết định này giúp cho hoạt động nghiên cứu khoa học có thể phát triển tốt, cũng như có thể giúp cho những người làm nghiên cứu khoa học có một cái nhìn đúng chính xác hơn về các vấn đề mà mình đã và đang làm Những khó khăn giúp cho việc có thể đưa ra được những cách thức dự báo cũng như phòng ngừa trong quá trình nghiên cứu khoa học
Ngoài ra, tính kế thừa giúp có thể giúp cho người làm nghiên cứu khoa học có thể rút ngắn thời gian trong quá trình nghiên cứu Bởi vì, khi ta đã có những vấn đề
3
Trang 5phù hợp được nghiên cứu trước đó ta có thể kế thừa và phát triển chúng dựa trên những yêu cầu và mục tiêu của bài nghiên cứu
Câu 2 (7 điểm) Từ chủ đề về giáo dục trong đại dịch Covid, anh (chị) hãy thực hiện các yêu cầu:
a, Đặt tên một đề tài nghiên cứu khoa học thuộc chủ để trên (1 điểm).
b, Chỉ ra mục tiêu và phương pháp nghiên cứu (2 điểm).
c, Trình bày khái quát tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về đề tài đã chọn (2 điểm).
d, Sử dụng thẻ References trong Word để lập danh mục tài liệu tham khảo theo chuẩn MLA (2 điểm).
Trả lời:
a, Tên đề tài
Những khó khăn ảnh hưởng đến việc học online của sinh viên Hà Nội trong thời kỳ đại dịch Covid năm 2021
b, Chỉ ra mục tiêu và phương pháp nghiên cứu.
● Mục tiêu:
Chỉ ra được những yếu tố khó khăn gây ảnh hưởng đến việc học tập của sinh viên
● Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phi thực nghiệm
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp phân tích tài liệu từ các bài báo, công trình nghiên cứu khoa học trên các tạp chí uy tín và thu thập dữ liệu thứ cấp về sinh viên từ Phòng Đào tạo Đại học và Công tác sinh viên
- Phương pháp thu thập thông tin:
+ Phương pháp chính: Điều tra thông qua Bảng hỏi
+ Phương pháp phụ: Quan sát
Để thực hiện đề tài, ta tiến hành lựa chọn mẫu khảo sát là các sinh viên, giảng viên tại các trường đại học thuộc địa bàn thành phố Hà Nội Phương pháp khảo sát giúp ta có được các thông tin cần thiết để đánh giá thực trạng
Trang 6Với đề tài lần này, cần sử dụng cả phương pháp thu thập thông tin thông qua phương pháp quan sát, phỏng vấn để lấy được thông tin để có thể hỗ trợ tốt nhất cho việc xây dựng bảng câu hỏi
- Phương pháp xử lý thông tin: Định tính và Định lượng
Sau khi thực hiện phỏng vấn nhóm và quan sát các chủ thể để thu được dữ liệu được xử lý bằng phương pháp định tính Sau đó sử dụng các dữ liệu đó để có thể xây dựng lên các câu hỏi và các bảng hỏi, các dữ liệu sau cùng được xử lý định lượng để tạo thành những thông tin có giá trị
c, Tình hình nghiên cứu:
Kể từ khi COVID-19 bùng phát vào cuối tháng 12 năm 2019 đến nay, đại dịch
đã gây nên nhiều hệ lụy lớn cho con người tình hình kinh tế xã hội phải chịu ảnh hưởng lớn Trong đó, giáo dục được xem là một trong những lĩnh vực chịu tác động nặng nề nhất Theo tổ chức UNESCO, kể từ khi đại dịch bùng phát đến ngày 8/4/2020, trên thế giới có gần 1,6 tỉ học sinh và sinh viên bị ảnh hưởng; 188 quốc gia buộc phải đóng cửa các trường học trên toàn quốc, gây tác động đến 91.3% tổng số
học sinh, sinh viên trên toàn thế giới
Sau khi Việt Nam đã trải qua 4 đợt bùng phát dịch bệnh COVID-19 ở hầu hết các tỉnh, thành trên cả nước Đại dịch COVID-19 không chỉ tác động mạnh mẽ đến các hoạt động kinh tế-xã hội, mà còn ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động giáo dục ở Việt Nam Trong đợt dịch bùng phát từ tháng 3 đến 4 năm 2020 thì tất cả các trường học buộc phải đóng cửa và toàn bộ học sinh, sinh viên phải nghỉ học để phòng dịch theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Chính phủ Theo thống kê đến tháng 4/2020, tất cả 63 tỉnh, thành đã cho học sinh, sinh viên nghỉ ở nhà Với các diễn biến vô cùng phức tạp thì đa
số các trường đại học đã cho các sinh viên được học tập trực tiếp tại nhà qua các nền tảng hỗ trợ học tập trực tuyến
Trên thực tế, hình thức học trực tuyến ban đầu gây nhiều trở ngại cho sinh viên lần đầu sử dụng Nghiên cứu của nhóm tác giả Đặng Thị Thúy Hiền, Trần Hữu Tuấn… về các yếu tố rào cản trong việc học Online của sinh viên Khoa Du lịch – Đại học Huế đã cho thấy một số yếu tố về tâm lý và không gian là chính Cụ thể, có đến 64% sinh viên cho rằng không có không gian riêng tư để học tập trực tuyến và thường
bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn 79,1%; 71% sinh viên nhấn mạnh thường bị người nhà làm phiền và cảm thấy gò bó, không được đi lại chiếm tỉ lệ 73,7% Cùng với đó, những yếu tố tâm lý như “Khó tập trung”, “Thiếu động lực”cũng là một trong những rào cản
mà sinh viên gặp phải khi học tập trực tuyến Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của tác
giả Lữ Thị Mai Oanh, Nguyễn Thị Như Thúy đồng thời cho thấy quá trình tương tác giữa người dạy và người học cũng phần nào cho thấy sự ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên Cụ thể, có tới 88,5% sinh viên cho rằng đúng một phần và hoàn toàn
5
Trang 7đúng với việc sinh viên và giảng viên khó tương tác, trao đổi và 73,3% sinh viên cho rằng thầy cô giáo dạy không thu hút, sinh động như dạy trực tiếp trên lớp truyền
thống
Mặc dù đó là một hình thức quen thuộc và tân tiến trên toàn thế giới Chính vì điều này, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện để xác định các yếu tố bất lợi nhằm khắc phục những rào cản, hướng tới việc cải thiện chất lượng học tập đối với hình thức đào tạo này Theo Mungania, rào cản học trực tuyến là những trở ngại gặp phải trong quá trình học online (khi bắt đầu, trong quá trình và khi đã hoàn thành khóa đào tạo) có thể tác động tiêu cực đến trải nghiệm học tập của người học Như vậy, việc xác định những khó khăn và rào cản của sinh viên trong quá trình học trực tuyến
là vô cùng cần thiết Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc học trực tuyến của người học Chẳng hạn như nghiên cứu của Renu Balakrishnan và cộng sự đã chỉ ra 4 rào cản liên quan đến tâm lý, kinh
tế, xã hội, kỹ thuật Trong khi đó, nghiên cứu của Wong đã đưa ra một số hạn chế của
chương trình học đó là: “Hạn chế về công nghệ, các hạn chế liên quan đến cá nhân người học và các hạn chế khác Đối với cá nhân người học, việc sử dụng các công
nghệ mới có thể là một bất lợi hoặc rào cản trong chương trình học online Việc thiếu
thông tin, kỹ năng giao tiếp và công nghệ có thể là rào cản đối với chương trình học online vì người học có thể cảm thấy thất vọng từ môi trường học tập độc đáo này”
d, Lập danh mục tài liệu tham khảo theo chuẩn MLA:
Tài liệu tham khảo
Đặng Thị Thúy Hiền and và cộng sự "Các yếu tố rào cản trong việc học Online của
sinh viên Khoa Du lịch – Đại học Huế." Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Kinh
tế và phát triển (2020).
Dương Kim Anh Retrieved 15 04 2020
<https://vietnam.fes.de/post/viet-nam-covid-19-vathach-thuc-doi-voi-nganh-giao-duc >
Lữ Thị Mai Oanh and Nguyễn Thị Như Thúy "Đánh giá hiệu quả học tập trực tuyến
của sinh viên trong bối cảnh dịch bệnh covid 19." Tạp chí khoa học 92-101
(2020)
Mungania, P "Employees' perceptions of barriers in e-Learning: the relationship ."
(2020)
Renu Balakrishnan, et al "An Analysis of Constraints in E-Learning and Strategies
for Promoting E-Learning among Farmers." Economic Affairs 727–734 (2014).
Trang 87