Các bài giải đề thi online nhập môn tài chính tiền tệ của Đại học Thương Mại gồm những mục: tóm tắt một số lý thuyết và giải các mã đề 28 đề 40 đề 8,... có số điểm từ 8 trở lên, mang tính chất tham khảo cho sinh viên
Trang 1Giải đề thi nhập môn tài chính tiền tệ (tham khảo)
Mã đề: 40
Câu 1
• Ngân hàng thương mại: Là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng chonền kinh tế quốc dân
• Phân tích nội dung chức năng trung gian tín dụng của ngân hàng thương mại:
Chức năng trung gian tín dụng là chức năng quan trọng của ngân hàng thương mại Chức năng trung gian tín dụng được thực hiện khi ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa những người có vốn dư thừa và những người có nhu cầu về vốn Từ việc huy động, khai thác các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng hình thành nên quỹ cho vay để cấp tín dụng cho nền kinh tế Ngân hàng thương mại vừa là người cho vay lại vừa là người đi vay Thông qua sơ đồ sau cho thấy rõ chức năng này:Huy động vốn Cho vay Chủ thể cung vốn Ngân hàng thương mại Chủ thể cầu vốn
Đầu tiên với vai trò người đi vay ngân hàng thương mại huy động nguồn các nguồn vốn
từ các chủ thể tiết kiệm, có vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế:
+ Nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức, cá nhân.+ Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng để huy động vốn trong xã hội
+ Vay vốn của ngân hàng Trung ương (NHTW) và các tổ chức tài chính khác
Thứ hai với tư cách là người cho vay ngân hàng thương mại cấp tín dụng đáp ứng nhucầu vốn cho các chủ thể trong nền kinh tế-xã hội thông qua các nghiệp vụ:
+ Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn
+ Chiết khấu chứng từ có giá
+Các hình thức cấp tín dụng khác
Qua đó, ta thấy với chức năng trung gian tín dụng có những ý nghĩa sau:
+ Người cho vay: thu lợi từ lãi tiền gửi, được đảm bảo an toàn về khoản tiền, được cung
Trang 2cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi
+ Người đi vay thỏa mãn nhu cầu vốn nhanh chóng và dễ dàng hơn
+ Ngân hàng thương mại có lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất chovay
+ Nền kinh tế có thêm một kênh điều chuyển các nguồn vốn phục vụ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao tạo việc làm cho người lao động
• Biểu hiện của việc thực hiện chức năng trung gian tín dụng của ngân hàng Agribank Thông qua những tìm hiểu về tình hình hình thực tế của ngân hàng Agribank ta thấy biểu hiện cụ thể của chức năng trung gian tín dụng thể hiện qua hai khía cạnh lớn:
➢ Huy động các nguồn vốn từ các chủ thể tiết kiệm Với phương châm “Ở đâu có
nguồn vốn nhàn rỗi ở đó có sự hiện diện của Agribank với các sản phẩm có chất lượng, với phong cách phục vụ nhiệt tình đáng tin cậy” giúp cho họ hấp dẫn người gửi mà vẫn tuân thủ quy định
Bảng: Một số chỉ tiêu về huy động vốn của Agribank giai đoạn 2011-2016
Đơn vị: Nghìn tỷ VND
Chỉ tiêu Năm
2011
Năm2012
Năm2013
Năm2014Tổng NV 464.763 495.992 601.559 663.381
Trang 3lớn và tăng liên tục qua các năm.Cụ thể năm 2011 là 434331 nghỉn tỷ VND sang đến năm
2016 con số lên tới 852791 nghìn tỷ đồng tăng gấp 1,963 lần
- Agribank cũng phát hành các loại kỳ phiếu ngắn và dài hạn Và có những cách thức riêng để thu hút vốn từ khách hàng Như kỳ phiếu ngắn hạn khách hàng sẽ được chuyển nhượng, xác nhận số dư hoặc bảo lãnh cho người thứ ba vay vốn tại Agribank Ngoài ra cũng phát hành các loại trái phiếu: Trái phiếu trả lãi trước và trả lãi sau
- Nghiệp vụ vay vốn của NHTW và các tổ chức tài chính khác: Do là NHTM với 100% vốn từ Nhà nước, nên hàng năm Agribank luôn được vay vốn từ NHTW với quy mô lớn Qua bảng số liệu trên cho thấy hoạt động vay vốn từ NHTW của Agribank diễn ra sôi nổinăm trong giai đoạn từ 2011- 2013 tăng từ 8000 nghìn tỷ VND lên 33467 nghìn tỷ tăng gấp 4,183 lần song còn nhiều biến động Hoạt động vay vốn liên ngân hàng cũng chiếm thị phần trong công cuộc huy động vốn của Agribank Cụ thể, vào năm 2011 nguồn vốn huy động đạt tới 22432 nghìn tỷ VND
➢ Cho vay đáp ứng nhu cầu về vốn của các chủ thể kinh tế:
- Đối với các cá nhân tổ chức Agribank tiến hành cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn theosố
liệu tìm hiểu vào năm 2016 ngân hàng cho cá nhân vay tới 429369 nghìn tỷ VND chiếm
tỉ trọng cao trong hoạt động cho vay vốn Đối với các tổ chức kinh tế Agribank cho vay
315237 nghìn tỷ VND Trong năm 2020 dù chịu nhiều ảnh hưởng dịch bệnh song
Agribank vẫn nỗ lực đạt mức cho vay ở mức cao Tính đến 31/10/2020, doanh số cho vaycủaAgribank đã đạt gần 30.000 tỷ đồng, dư nợ đạt trên 5.000 tỷ đồng với gần 4.000 khách hàng
- Ngoài ra ngân hàng cũng có những hoạt động như chiết khấu chứng từ có giá đối với các khách hàng có nhu cầu vay vốn
- Đáp ứng hoạt động cho vay tiêu dùng, cho vay trả góp, cầm thế chấp sổ đỏ nhà đất, Câu 2:
• Hiểu biết về công cụ thực thi chính sách tiền tệ “Tỷ lệ dự trữ bắt buộc” của NHTW:
Trang 4Đây là một công cụ gián tiếp trong các công cụ thực thi chính sách tiền tệ Về khái niệm,
dự trữ bắt buộc hay còn gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc là số tiền mà các tổ chức tín dụng phảiduy trì theo quy định của NHTW Nó được xác định bằng tỷ lệ % nhất định trên tổng số
dư tiền gửi của các NHTM và các tổ chức tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định.Tiền gửi DTBB = Tổng số tiền gửi phải tính DTBB × tỷ lệ DTBB
Tùy theo điều kiện của từng nước trong từng thời kỳ mà NHTW có những quy định về việc xác định tỷ lệ dự trữ bắt buộc khác nhau
- Cơ chế tác động của dự trữ bắt buộc
Việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho các tổ chức tín dụng Và để NHTW kiểm soát quá trình tạo tiền của hệ thống NHTM và các tổ chức tín dụng khác Sự thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến sự thay đổi số nhân tiền và qua đó tác động tới mức cung tiền:
- Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng
+ Các yếu tố khác không thay đổi dự trữ vượt mức của hệ thống ngân hàng giảm, làm giảm khả năng cho vay và đầu tư của các tổ chức tín dụng=> làm giảm cung tiền trong lưu thông
+ Làm giảm hệ số nhân tiền, làm giảm khả năng tạo tiền và cung ứng tiền của hệ thống NH
+ Làm tăng cầu dự trữ của các NHTM trên thị trường liên ngân hàng Trong điều kiện cung dự trữ không đổi, sự tăng cường dự trữ làm tăng lãi suất liên ngân hàng, từ đó dẫn đến tăng các mức lãi suất trên thị trường giảm khối lượng cung tiền
+ Làm tăng chi phí đầu vào cho các NHTM Khi đó, để cho vay có lãi, buộc các NHTM phải nâng lãi suất cho vay
- Ngược lại nếu ngân hàng thương mại giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ tạo điều kiện cho các
tổ chức tín dụng mở rộng khả năng cho vay và đầu tư dẫn đến khả năng tăng mức cung tiền trong nền kinh tế
Trang 5*Ưu điểm của công cụ dự trữ bắt buộc: Tác động nhanh và mạnh đến cung tiền Tác động như nhau đến các ngân hàng thương mại các tổ chức tài chính khác
*Nhược điểm :Thay đổi thường xuyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc gây bất ổn cho các NHTM các tổ chức tín dụng khác Có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán đối với tổ chức tín dụng có dự trữ vượt quả ở mức thấp
*Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã sử dụng công cụ “Tỷ lệ dự trữ bắt buộc” để điều tiết hiệu quả khối lượng tiền trong lưu thông trong giai đoạn 2019-2020 cụ thể:
- Vào năm 2019: NHNN giúp các ngân hàng hỗ trợ các TCTD yếu kém giảm dự trữ bắt buộc xuống 50%, có nghĩa là giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 3% xuống 1,5% Đồng thời vẫn ổn định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng khác
=> Giúp các NHTM có cơ hội huy động vốn từ khách hàng một cách thuận lợi từ đó mà lượng tiền được thu hút vào lưu thông tăng lên tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi
=> Bằng việc giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc NHNN đã tác động mạnh mẽ đến cung tiền cụ thể lượng tiền trong lưu thông tăng đáng kể, giúp các hoạt động đầu tư diễn ra sôi nổi.Sang đến năm 2020 NHNN vẫn giữ nguyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 3% Do ảnh hưởng đại dịch Covid 19 để ổn định lượng tiền trong lưu thông NHNN bằng việc ổn định mức tỷ
lệ dự trữ bắt buộc đối với NHTM giúp lượng tiền được cung ứng đầy đủ tránh tình trạng lạm phát diễn ra
Việc giữ vững tỷ lệ bắt buộc đó giúp thu hút khả năng tạo tiền của các NHTM
• Phân tích đánh giá hiệu quả của công cụ này
Trong giai đoạn 2019-2020 NHNN bằng việc thực thi công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc hợp lí
đã giúp lượng tiền trong lưu thông tương đối ổn định
Năm 2019 bằng việc điều chỉnh giảm tỷ lệ dự trữ đã thu hút lượng lớn tiền từ các cá nhânvào lưu thông Giúp nền kinh tế tăng trưởng mạnh với các hoạt động đầu tư diễn ra sôi nổi, các hoạt động gửi tiền tiền tiết kiệm từ phía cá nhân tổ chức tăng lên đáng kể
Năm 2020 dù dịch bệnh thiên tai diễn ra phức tạp nhưng NHNN vẫn kiểm soát tốt cung
Trang 6tiền, lãi suất, lạm phát thấp nhất trong vòng 3 năm qua Tỷ giá cơ bản ổn định, doanh thu ngân hàng liên tục tăng, góp phần củng cố tiềm lực, uy tín của Việt Nam trên thế giới.Thông qua công cụ dự trữ bắt buộc tạo điều kiện thực hiện tốt lượng cung ứng tiền giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn Lượng tiền sẽ được chuyển dịch hài hòa từ cácchủ thể dư thừa tiền đến với các nhà đầu tư.
Qua đó ta thấy được hiệu quả của công cụ dự trữ bắt buộc có tác động rất nhanh và mạnh đối với lượng cung ứng tiền trong nền kinh tế Việt Nam ta giúp nền kinh tế ổn định và tăng trưởng mạnh mẽ
Tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt bởi:
Hàng hóa:
Giá trị = giá tri nội tại của hàng hóa đó
Giá trị dử dụng: bắt đầu từ lúc hàng hóa rút ra khỏi lưu thông có hạn sử dụng, chỉ đáp ứng được một số nhu cầu nhất định
Tiền tệ:
Giá trị = sức mua của đồng tiền đó
Giá trị sử dụng: chính là sự lưu thông của nó không có hạn sử dụng, thỏa mãn đa dạng các mục đích và nhu cầu
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, Tiền tệ là bất cứ thứ gì được chấpnhận chung trong thanh toán để đổi lấy hàng hóa, dịch vụ và thực vụ các nghĩa vụ
tài chính
- Vai trò
Trang 7 Tiền tệ là phương tiện để mở rộng, phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa
Giá trị của các hàng hóa được biểu hiện bằng tiền (đơn giản và thống nhất) dễ dàng
so sánh hàng hóa với nhau Đồng thời người lao động có thể so sánh được với nhau về mức độ và trình độ lao động của mình bỏ ra cho xã hội trong một đơn vị thời gian
Làm cho sự vận động của hàng hóa trong lưu thông diễn ra một cách trôi chảy
Trong sản xuất kinh doanh, tiền tệ giúp việc hoạch toán và tính toán hiệu quả kinh doanh trở lên thuận tiện và đầy đủ đồng thời quá trình tích lũy tiền tệ được thực hiện để
mở rộng quy mô sản xuất và kinh doanh
Tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế
Trong nền kinh tế thị trường, nhờ có tiền tệ mà nhiều mối quan hệ giữa các quốc gia trênthế giới được hình thành và phát triển song song với xu thế hòa nhập trong các lĩnh vựckinh tế xã hội, tài chính, tiền tệ ngân hàng, hợp tác khoa học kĩ thuật giữa các nước
Tiền tệ là phương tiện phục vụ mục đích của người sở hữu chúng Tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích và quyền lợi của con người trong phạm vi số tiềnmà người đó sở hữu
Đa phần các hành vi kinh tế hiện nay đều hướng đến mục đích tìm kiếm lợi nhuận (kiếm tiền) Không chỉ riêng cá nhân, tổ chức, mà cả Chính phủ cũng phải sử dụng đến tiền để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình, đồng thời là củng cố quyền lực và tạo uy tín Trong điều kiện tiền tệ trở thành công cụ có quyền lực vạn năng xử lý và giải tỏa mối ràng buộc phát sinh trong nền kinh tế xã hội không những trong phạm vi quốc gia mà cònphạm vi quốc tế
- Ví dụ về viêc tiền tệ thực hiện vai trò mở rộng, phát triển sản xuất, trao đổi hàng hóa tại
Việt Nam
Tiền Việt Nam được phát hành lần đầu tiên vào khoảng năm 970 thời Đinh Bộ Lĩnh Tuy nhiên, nền kinh tế tiền tệ thời nhà Đinh còn mới manh nha, tiền không được sử dụng nhiều, trao đổi hàng hóa H-H’ là chính nên quy mô sản xuất, trao đổi buôn bán còn nhỏ
lẻ Đồng tiền Việt Nam phát triển qua các triều đại đến tận ngày nay Đồng tiền quốc gia được thống nhất và sử dụng rộng rãi, quan hệ buôn bán HT-H’, mở rộng, phát triển sản
Trang 8xuất và trao đông hàng hóa không những trong nước mà còn cả quốc tế từ buôn bán sản xuất nhỏ lẽ đến xuất nhập khẩu.
Gia đình em trích 10% phần lợi nhuận hàng tháng từ việc sản xuất, buôn bán hànghóa để tích lũy Sau 3 năm, vốn tích lũy đã đủ, gia đình em mở rộng xưởng sản xuất
và mở thêm cơ sở kinh doanh
Câu 2
- Khái quát
Bội chi ngân sách (thâm hụt) là tình trạng mất cân đối của NSNN khi thu NSNN không
dủ đề bù đắp các khoản chi NSNN trong một thời kì nhất định, thường là 1 năm
Nguyên nhân dẫn đến bội chi NSNN và phân loại
Khách quan ( dẫn đến bội chi chu kì)
Tác động của chu kì kinh tế: Nền kinh tế suy thoái, khủng hoảng thu giảm, chi tiêu gia tăng gây ra bội chi; nền kinh tế phục hồi hoăc hưng thịnh thu tăng, không phải chi các khoản chi bất thường giảm mức bội chi
Thiên tai, dịch bệnh,…
Chủ quan ( dẫn đến bội chi cơ cấu)
Tác động của chính sách thu chi của Nhà nước: Tổng thu < tổng chi và thu
thường xuyên > chi thường xuyên
Nguyên nhân khác: sai lầm trong chính sách quản lí kinh tế, chính trị
Luật ngân sách nhà nước năm 2002 của Việt Nam quy định Quốc hội là cơ quan quyếtđịnh mức bội chi và về nguồn bù đắp Bội chi ngân sách không hoàn toàn tiêu cực Nếubội chi chủ động và kiểm soát được ở một mức độ hợp lí (thông thường là dưới 5% GDP)
sẽ có tác dụng kích thích nền kinh tế phát triển và đưa nền kinh tế thoái khỏi giai đoạn suy thoái Vì thế Nhà nước chỉ cố gắng thu hẹp bội chi chứ không loại trừ nó hoàn toàn Tuy nhiên, nền kinh tế phải chịu đựng bội chi trong bao lâu là vô cùng quan trọng Bội chỉ ngân sách kéo dài sẽ rối loạn lưu thông tiền tệ và giá cả, dẫn đến lạm phát, ảnh hưởng xấu đến quá trình tái sản xuất toàn bộ nền kinh tế và đời sống của các tầng lớp nhân dân
Trang 9Theo quan điểm của phó chủ nhiệm Ủy ban tài chính và ngân sách quốc hội thì bội chi dài hạn sẽ ảnh hưởng rất xấu đối với an ninh tài chính quốc gia và nền kinh tế nước ta chỉchịu được bội chi ngắn hạn và không nên duy trì quá lâu tình trạng bội chi cao như hiện nay.
- Tình hình bội chi ngân sách năm 2018-2019:
Năm 2018: Bội chi NSNN 153.110.403 triệu đồng, bằng 2,8% GDP (không bao gồm kết dư NSĐP 157.886.227 triệu đồng), giảm so với dự toán là 3,7%
Thu NSNN năm 2018 là 1.431.662.057 triệu đồng, tăng 8,5% (112.462.057 triệu đồng),
là năm thứ 3 liên tiếp vựt mức thu dự toán Chủ yếu do tăng thu từ tiền sử dụng đất, thuế xuất nhập khẩu và thu từ dầu thô Tổng thu cân đối ngân sách năm 2018 là hơn 1,88 triệu
tỷ đồng, gồm số thu chuyển nguồn từ năm 2017 sang 2018, thu kết dư ngân sách địa phương năm 2017 và thu từ quỹ dự trữ tài chính
Chi NSNN, quyết toán 1.435.435.263 triệu đồng, bằng 94,2% (giảm 87.764.737 triệu đồng) so với dự toán, chủ yếu do một số khoản chi triển khai chậm nên bị hủy dự toán, hoặc chuyển nguồn sang năm sau theo quy định của Luật NSNN Tổng chi ngân sách gần1,87 triệu tỷ đồng, gồm số chi chuyển nguồn năm 2018 sang 2019
Về tổng mức vay của NSNN, quyết toán 284.806.197 triệu đồng, bằng 78,4% (giảm 78.477.803 triệu đồng) so với dự toán, chủ yếu do giảm bội chi NSNN 50.889.597 triệu đồng
Năm 2019: Mức dự toán bội chi NSNN năm 2019 là 3,6%, giảm so với mức dự toán
2018 Bội chi ngân sách năm 2019 gần 203.000 tỷ đồng (khoảng 8,7 tỷ USD), bằng 3,36% GDP thực hiện (hơn 6 triệu tỷ đồng), giảm đáng kể so với dự toán
Tổng chi ngân sách gần 1,75 triệu tỷ đồng, vượt xấp xỉ 115.000 tỷ (khoảng 7%) so với
dự toán
Tổng thu ngân sách đạt hơn 1,55 triệu tỷ đồng, vượt gần 140.000 tỷ (khoảng9,9%) so với dự toán Tỷ lệ huy động ngân sách đạt 25,7% GDP, riêng từ thuế, phí đạt 21,1% GDP
Trang 10 Nợ công chiếm khoảng 54,7% GDP, nợ Chính phủ 47,7% GDP và nợ nước ngoài quốc gia 47% GDP Các chỉ số này thấp hơn mục tiêu giai đoạn 2016- 2020, lần lượt 65%, 54% và 50% GDP.
Như vậy, nếu so với dự toán, tổng thu và chi quyết toán 2018 và 2019 đều tăng, nhưngbội chi ngân sách lại giảm
- Nhận định, đánh giá về các biện pháp tăng thu, giảm chi của Chính phủ
Tăng thu:
Thu nội địa: tăng cường thanh tra giám sát trong quản lí thu thuế, chống thất thu thuế,
xử lí các khoản nợ đọng thuế, hạn chế phát sinh số nợ thuế mới,… tăng thuế đối với hàngtiêu dùng không khuyến khích nhập khẩu như ô tô nguyên chiếc, hàng điện tử,
Thu từ dầu thô: Đầu tư khai thác dầu thô và chế biến, đẩy mạnh xuất khẩu dầu
Từ năm 2017-2019, thu ngân sách từ dầu thô đều vượt dự toán do hưởng lợi từ giá dầutăng cao
Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu: đẩy mạnh nhập khẩu để cân bằng cán cân thương mại do Việt Nam là nước xuất siêu, chuyển đổi cơ cấu ngành hàng và nâng cao chất lượng sản phẩm
Thu viện trợ: kêu gọi viện trợ đặc biệt là viện trợ không hoàn lại, phải hoạch toán
Cắt giảm những khoản chi không cần thiết
Trang 11 Có thể nói các biện pháp tăng thu, giảm chi của Chính phủ Việt Nam thực hiện để cânđối NSNN Việt Nam trong giai đoạn 2018-2019 là khá hợp lí Trong đó có nhiều biệnpháp đã được thực thi từ những năm trước và đạt thành tựu nhất định Điều đó đượcchứng minh qua tình hình bội chi ngân sách năm 2018-2019 đều giảm rõ rệt Tuy vậy,nhiều biện pháp mà Nhà nước đưa ra còn chưa phù hợp, chưa hiệu quả như chính sách vềthu từ dầu thô Nguồn thu từ dầu thô từng chiếm tới 30% tổng thu ngân sách, nhưng con
số này nhanh chóng sụt giảm mạnh do vậy không nên đẩy mạnh đầu tư vào ngành này.Bên cạnh đó là thu NSNN còn nhiều gian lận và chi còn nhiều sai sót chưa được khắcphục, đặc biệt nhiều khoản chi về phòng chống dịch Covid còn nhiều bất cập
Dưới đây là quá trình vận động của tín dụng theo sơ đồ:
Định nghĩa tín dụng thể hiện ở ba nội dung cơ bản:
- Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác,Người cho vay
(Người sở hữu vốn)
(1) Cho vay Người đi vay
(Người sử dụng vốn)
(2) Trả nợ
Trang 12- Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời Đó là thời gian sử dụng vốn Nó là kết quảcua sự thoả thuận giữa các đối tác tham gia quá trình chuyển nhượng để đảm bảo phù hợpgiữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng vốn đó.
- Người đi vay phải hoàn trả đúng hạn cho người cho vay cả vốn, gốc lẫn lãi
* Vai trò “Tín dụng góp phần cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân”:
Chính sách xã hội thường được thực hiện từ 2 nguồn tài trợ là: Ngân sách nhà nước và tíndụng Phương thức tài trợ không hoàn lại thường bị hạn chế về quy mô và thiếu hiệu quả
Để khắc phục hạn chế này, Nhà nước đã sử dung phương thức tài trợ có hoàn lại của tín dụng Phương thức tài trợ của tín dụng có vai trò:
Thông qua việc này cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo, tổ chức kinh tế - xã hội, làm cho họđược đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất và tiêu dùng
Các hộ nông dân, cá nhân sử dụng tín dụng như là một trong các phương tiện để cải thiện
và nâng cao mức sống của mình Thông qua việc vay vốn để đầu tư sản xuất phát triển sản xuất, nâng cao lợi nhuận và phân chia tỷ lệ giữa tích luỹ và tiêu dùng hợp lý nhất hoặc thông qua việc gửi tiền vào ngân hàng để lấy lãi
* Biểu hiện của việc thực hiện vai trò này tại Việt Nam:
Đơn cử như bản thân em là sinh viên, cũng có ít nhiều biết về việc tín dụng ưu đãi cho các học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay tiền đi học Chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên được áp dụng để hỗ trợ cho những học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khan góp phần cho họ có thể trang trải chi phí cho việc học tập, sinh hoạt…Đặc biệt như gần đây có đợt lũ lụt lớn gây thiệt hại nặng nề về người lẫn tài sản của người dân miền Trung nước ta, nơi đón đầu những trận thiên tai, họ phần lớn đều thuộc
hộ nghèo hay các hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khan, sau khi được Nhà nước hỗ trợ một phần sau khi lũ hết, họ cũng muốn cải thiện đời sống và bắt đầu làm ăn trở lại nên đã vay và được tích cực hỗ trợ Chính sách tín dụng thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, thương nhân kinh doanh thương mại nhỏ và vừa tại vùng khó khăn Thực hiện chính sách tín dụng đối với phát triển kinh tế tư nhân, trong những năm qua, hệ thống
Trang 13ngân hàng không ngừng mở rộng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa bên cạnh đáp ứng các nhu cầu sản phẩm và dịch vụ tiêu thụ trong nước đang vươn mạnh mẽ ra thị trường khu vực cũng như quốc tế, trở thànhHọ tên
doanh nghiệp phụ trợ cho các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, doanh nghiệp “A An” và các doanh nghiệp khác đã thành công phát triển và đưa gạo ST25 của người dân Sóc Trăng ra thị trường nước ngoài và được nhiều người trên thế giới yêu thích, mang về danh hiệu gạo ngon nhất thế giới cho Việt Nam
Câu 2:
* Triển khai hoạt động tạo lập vốn của ngân hàng thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2019– 2020:
Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên có tác động lớn đến nền kinh tế - xã hội Việt Nam
ta, bao gồm cả các doanh nghiệp, hệ thống ngân hàng thương mại Việc huy động vốn thấp với việc dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng chỉ tăng 1,96% (cuối năm 2019), mức thấp nhất trong 15 năm qua Và nguyên nhân chính là do nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và người dân quá thấp dù cho các ngân hàng thương mại đã đồng loạt hạ lãisuất xuống thấp tung ra các gói ưu đãi nhưng vốn huy động không tăng như dự định Một phần là do Covid-19 ảnh hưởng,người dân cũng gặp khó khan trong việc kinh doanh
Dù vậy nhưng các ngân hàng thương mại cũng không thể quá hạ thấp so với tiểu chuẩn chung do Nhà nước đưa ra, bên cạnh đó nếu hạ quá thấp tiêu chuẩn tín dụng thì sẽ gây ra rủi ro cho hệ thống ngân hàng, việc nợ xấu sẽ tăng cao
Để giải quyết tình trạng trên, Ngân hàng Nhà nước đã cho ra 2 lần quyết định giảm các mức lãi suất điều hành Đồng thời cũng tăng cường mở các hội nhị cũng như tổ chức diễnđàn kết nối ngân hàng với doanh nghiệp nhằm khơi thông dòng vốn tín dụng bị tắc
nghẽn Yếu tố tiên quyết để có thể giải quyết tốt nhất tình trạng này chính là triển khai hiệu quả các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp và người dân vượt qua đợt dịch bệnh này Đồng thời các ngân hàng thương mại được xử lý nhanh các khâu để cấp bổ sung vốn kịp thời Đặc biệt, các ngân hàng thương mại kiên quyết cùng nhâu không hạ chuẩn tín dụng,