1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Lý thuyết trò chơi trong xác lập cân bằng Nash và ứng dụng. Liên hệ để giải thích sự phát triển của thị trường viễn thông trên cơ sở sử dụng lý thuyết cân bằng nash

30 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý Thuyết Trò Chơi Trong Xác Lập Cân Bằng Nash Và Ứng Dụng. Liên Hệ Để Giải Thích Sự Phát Triển Của Thị Trường Viễn Thông Trên Cơ Sở Sử Dụng Lý Thuyết Cân Bằng Nash
Thể loại tiểu luận chuyên đề
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 630,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý thuyết trò chơi trong xác lập cân bằng Nash và ứng dụng. Liên hệ để giải thích sự phát triển của thị trường viễn thông trên cơ sở sử dụng lý thuyết cân bằng nash. Đề tài tập trung tìm hiểu những nét khái quát về Lý thuyết trò chơi, về quá trình hình thành và phát triển, những nội dung cơ bản của lý thuyết, và ứng dụng của nó vào thực tiễn kinh doanh trên cơ sở xem xét những yếu tố cạnh tranh và hợp tác

Trang 1

MỞ ĐẦU

Quan điểm “Thương trường là chiến trường” từ lâu đã hình thành trong suynghĩ của những người kinh doanh Và ngay đến bây giờ còn có không ít nhà kinhdoanh vẫn mang trong đầu quan điểm đó Họ cho rằng trong cạnh tranh bạn cầnphải tỏ ra khôn ngoan hơn đối thủ, giành giật quyết liệt thị phần, khuyếch trươngthương hiệu hàng hoá, khống chế nhà cung cấp, và khoá chặt khách hàng Theoquan điểm đó, sẽ luôn luôn có người thắng và kẻ bại trong kinh doanh

Tuy nhiên, ngày nay có một hệ tư tưởng mới cho rằng “kinh doanh là sự kếthọp giữa cạnh tranh và hợp tác” Theo đó, “kinh doanh là sự hợp tác khi cần tạo rachiếc bánh nhưng sẽ là cạnh tranh khi đến lúc phải chia phần chiếc bánh đó” Nếunhư với cách suy nghĩ cũ, có thể dẫn tới một cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các đốithủ trên thị trường Và nếu như việc cạnh tranh đó làm hỏng chiếc bánh thị trườngthì bạn cũng sẽ chẳng còn gì để chiếm lấy nữa Đó là tình huống “cùng thua”(lose -lose) Hoặc bạn cố gắng để tạo ra chiếc bánh mà kết cục lại không chiếm đượcphần nào trong đó thì đó lại là tình huống “lose - win” Nhưng với “Lý thuyết tròchơi”, bạn sẽ có cách tiếp cận hoàn toàn mới Thông qua lý thuyết này, chúng ta cóthể xem xét các yếu tố cạnh tranh và hợp tác để đưa đến quyết định là lựa chọnchiến lược “thắng - thua” (win - lose) hay “thắng - thắng”(win - win)

Có thể nói “Lý thuyết trò chơi” có khả năng làm biến chuyển hoàn toàn cáchsuy nghĩ của mọi người về kinh doanh từ trước tới nay Càng ngày người ta càngcông nhận rằng lý thuyết trò chơi là một công cụ rất cần thiết để có thể hiểu đượcthế giới kinh doanh hiện đại Lý thuyết trò chơi tập trung vào vấn đề gây nhiều khókhăn nhất: đó là xây dựng các chiến lược đúng đắn và ra các quyết định đúng đắn

Nó đặc biệt hiệu quả trong trường hợp có nhiều yếu tố liên hệ tương tác qua lại lẫnnhau và không một quyết định nào có thể được đưa ra một cách hoàn toàn độc lậpvới các quyết định khác

Ngày nay, tại nhiều trường đại học về kinh tế ở nhiều nước thế giới, môn học

“Lý thuyết trò chơi” đã được đưa vào giảng dạy như một môn học quan trọng trongchương trình đào tạo Ngoài ra, cũng có rất nhiều nhà kinh tế đã sử dụng “Lý thuyếttrò chơi” Trong những nghiên cứu của mình về những cuộc cạnh tranh, những sựkiện lớn trên thương trường Liên hệ với thực tế, trong thời gian vừa qua cuộc

Trang 2

cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường viễn thông, diễn ra hết sức khốcliệt giữa các doanh nghiệp Vậy, những chiến lược, những quyết định trong cuộccanh hanh này đã được đưa ra như thế nào ? thắng thua đã thuộc về ai ? Các doanhnghiệp này nên làm gì để có thể cạnh tranh hiệu quả hơn ? Để trả lời cho những câu

hỏi đó, em đã lựa chọn đề tài: “Lý thuyết trò chơi trong xác lập cân bằng Nash

và ứng dụng Liên hệ để giải thích sự phát triển của thị trường viễn thông trên

cơ sở sử dụng lý thuyết cân bằng nash" làm tiểu luận chuyên đề.

Đề tài tập trung tìm hiểu những nét khái quát về Lý thuyết trò chơi, về quátrình hình thành và phát triển, những nội dung cơ bản của lý thuyết, và ứng dụngcủa nó vào thực tiễn kinh doanh trên cơ sở xem xét những yếu tố cạnh tranh và hợptác Qua đó, sử dụng “Lý thuyết trò chơi” làm cơ sở lý luận để giải thích cuộc cạnhtranh giữa các doanh nghiệp trong ngành viễn thông Trên cơ sở đó, đưa ra nhữngliên hệ để giải thích sự phát triển của thị trườn viễn thông trên cơ sở sử dụng lýthuyết cân bằng nash

Do bước đầu nghiên cứu nên đề tài khó tránh khỏi những hạn chế thiếu sót, rấtmong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô để đề tài được hoàn thiện hơn

Kết cấu đề tài, ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 2 chương: CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI; CHƯƠNG II ỨNG DỤNG LÝTHUYẾT TRÒ CHƠI TRONG PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANHCỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VỤ VIỄN THÔNG DI ĐỘNGTẠI VIỆT NAM

Trang 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI

I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI

1 Quá trình hình thành của lý thuyết trò chơi

Lý thuyết trò chơi giai đoạn hình thành chỉ đơn thuần là một nhánh của Toánhọc ứng dụng Nội dung chủ yếu của lý thuyết trò chơi là nghiên cứu các tìnhhuống chiến thuật, trong đó mỗi người chơi lựa chọn các chiến lược khác nhau dựatrên các chiến thuật của những người chơi khác để cố gắng làm tối đa kết quả nhậnđược

Những thảo luận đầu tiên được biết đến về lý thuyết trò chơi xuất hiện trongmột lá thư viết bởi James Waldegrave vào năm 1713.Trong lá thư này, Waldegraveđưa ra lời giải chiến thuật hỗn họp Minimax cho một trò đánh bài 2 người chơi LeHer Chỉ đến khi xuất bản “Nghiên cứu về những định luật toán học của lý thuyếttài sản” của Antoine Augustin Coumot vào năm 1838 thì những cơ sở phương phápluận chung về lý thuyết trò chơi mới được xây dựng một cách biện chứng.Trongcông trình nghiên cứu này, Cournot xem xét (tập quyền) và đưa ra phiên bản đầutiên về giới hạn cân bằng Nash

Mặc dù những phân tích của Cournot là tổng quát hơn so với Waldegrave, lýthuyết trò chơi vẫn chưa thực sự tồn tại như một ngành độc lập cho đến khi Johnvon Neumann xuất bản một loạt các bài báo vào năm 1928 với các kết quả hết sứcthuyết phục và những kết quả này sau này được mở rộng thêm trong cuốn sách xuấtbản năm 1944 “Lý thuyết trò chơi và các hành vi kinh tế” bởi John von Neumann

và Oskar Morgenstem, khi đó những ứng dụng của lý thuyết trò chơi được thừanhận hết sức rộng rãi và bản thân trở thành công cụ hết sức hữu hiệu để giải thíchcác hành vi kinh tế Trong suốt thời gian này, những công trình nghiên cứu về lýthuyết trò chơi tập chung chủ yếu vào chiến lược hợp tác, chiến thuật tối ưu chonhóm các cá nhân, giả sử rằng họ có thể đảm bảo những thỏa thuận giữa họ và cácchiến thuật thích hợp

Trang 4

2 Các bước phát triển

Ban đầu lý thuyết trò chơi được phát triển như là một công cụ để nghiên cứuhành vi kinh tế học, ngày nay Lý thuyết trò chơi được sử dụng trong nhiều ngànhkhoa học, từ Sinh học tới Triết học

Lý thuyết trò chơi đã có sự phát triển lớn từ khi John von Neumann là ngườiđầu tiên hình thức hóa trong thời kỳ trước và trong Chiến tranh Lạnh, chủ yếu ápdụng trong chiến lược quân sự, nổi tiếng nhất là khái niệm đảm bảo phá hủy lẫnnhau (Mutual assured destruction) Bắt đầu từ những năm 1970, Lý thuyết trò chơibắt đầu được áp dụng cho nghiên cứu về hành vi động vật, trong đó có sự phát triểncủa các loài qua chọn lọc tự nhiên Do các trò chơi hay như Song đề tù nhân(prisoner's dilemma), trong đó lợi ích cá nhân làm hại cho tất cả mọi người, Lýthuyết trò chơi đã bắt đầu được dùng trong Chính trị học, Đạo đức học và Triết học.Cuối cùng, Lý thuyết trò chơi gần đây đã thu hút được sự chú ý của các nhà Khoahọc máy tính do ứng dụng của nó trong Trí tuệ nhân tạo và Điều khiển học

Bên cạnh các mối quan tâm có tính chất hàn lâm, lý thuyết trò chơi đã nhậnđược sự chú ý trong văn hóa đại chúng John Nash, một nhà nghiên cứu lý thuyếttrò chơi, người đã nhận được giải thưởng Nobel, đã là chủ đề trong cuốn hồi kýnăm 1998 của tác giả Sylvia Nasar và trong bộ phim Một tâm hồn đẹp (A BeautifulMind) đoạt giải Oscar năm 2001 Một số trò chơi truyền hình (game show) đã sửdụng các tính huống của lý thuyết trò chơi, trong đó có Friend or Foe? và Survivor

Và gần đây nhất, ngày 10/10/2005, một lần nữa những nghiên cứu về lý thuyếttrò chơi được trao tặng giải Nobel cao quý Đồng chủ nhân của giải thưởng là hainhà kinh tế học Thomas Schelling (Mỹ) và Robert Aumann (Isarel) Công trìnhnghiên cứu của hai nhà khoa học trên đi sâu vào lý giải các vấn đề liên quan đếncạnh tranh và hợp tác, đặc biệt là những xung đột kinh tế như tranh chấp về giá cảhay chiến tranh thương mại Những đóng góp của Thomas Schelling và RobertAumann càng có ý nghĩa hơn khi hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa đã trở thành xuthế tất yếu

II MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI

Lý thuyết trò chơi nghiên cứu các quyết định được đưa ra trong một môitrường các đối thủ tương tác với nhau Nói cách khác, Lý thuyết trò chơi nghiên

Trang 5

Khách hàng

Công ty

Nhà cung cấp

cứu cách lựa chọn hành vi tối ưu khi chi phí và lợi ích của mỗi lựa chọn là không

cố định mà phụ thuộc vào lựa chọn của các cá nhân khác

1 Các khái niệm và nội dung về lý thuyết trò chơi trong kinh doanh:

1.1.Mạng giá trị

Mạng giá trị của một công ty

Mạng giá trị bao gồm 2 trục đối xứng Trên trục đứng, khách hàng và nhàcung cấp đóng vai trò đối xứng Họ là những đối tác như nhau trong việc tạo ra giátrị Quan hệ của nhà cung cấp cũng quan trọng như quan hệ với khách hàng Trêntrục ngang của giản đồ lại có đối xứng khác, người bổ trợ lại là hình ảnh phản chiếuqua gương của đối thủ cạnh tranh

1.2 Các yếu tố chiến lược của lý thuyết trò chơi trong kinh doanh

1.2.1 Người chơi

Lý thuyết trò chơi được phát triển nhằm giải thích hành vi của người chơitham gia cuộc chơi mà ở đó lợi ích của người chơi thường là trái ngược nhau Nhìnvào sơ đồ mạng giá trị ở trên, có thể thấy người chơi ở đây là các công ty, kháchhàng, nhà cung cấp, người bổ trợ, đối thủ cạnh tranh Để dễ hiểu hơn, chúng ta xemxét một ví dụ: một công ty du lịch Việt Nam bước vào cuộc chơi, khách hàng là dukhách, nhà cung cấp dịch vụ là nhân viên công ty, công ty cung cấp dịch vụ kháchsạn , đối thủ cạnh tranh là các công ty du lịch khác, người bổ trợ là khách sạn, nhà

Trang 6

hàng, quầy bán hàng lưu niệm Tuy nhiên, trừ công ty, các người chơi khác có thểhoán đổi vai trò của mình Chiếc bánh thị trường sẽ phải chia cho tất cả các ngườichơi, ai cũng muốn phần của mình to nhưng lại bị lệ thuộc vào động thái của ngườichơi khác Nhìn từ phía khách hàng, người chơi sẽ là người bổ trợ của bạn nếukhách hàng đánh giá sản phẩm của bạn cao hơn khi họ có cả sản phẩm của người

đó so với khi chỉ có sản phẩm của bạn Nhìn từ phía nhà cung cấp, người chơi sẽ làngười bổ trợ của bạn nếu nhà cung cấp thấy hấp dẫn hơn khi họ cung cấp cácnguồn lực cho công ty của bạn đồng thời cũng cung cấp cho công ty của ngườikhác so với chỉ khi cung cấp cho một mình công ty của bạn Đối thủ cạnh tranh sẽ

là trường họp ngược lại

Một mối quan hệ khác trên giản đồ của mạng giá trị là mối quan hệ giữakhách hàng và nhà cung cấp theo chiều thẳng đứng Các nguồn lực như lao động vànguồn nguyên liệu thô từ nhà cung cấp về phía công ty, còn sản phẩm dịch vụ từcông ty đưa đến khách hàng Dòng tiền chuyển động theo chiều ngược lại, từ kháchhàng đến công ty và từ công ty đến nhà cung cấp

1.2.2 Giá trị gia tăng

“Giá trị gia tăng” chính là chìa khóa để hiểu ai là người thực sự nắm giữquyền lực trong bất cứ trò chơi nào Giá trị gia tăng là những gì mà người chơimong muốn đạt được khi tham gia cuộc chơi

Thói quen kinh doanh tốt sẽ hướng tới việc tăng giá trị gia tăng Các công tyđều cố gắng lôi kéo khách hàng về phía mình bằng những sản phẩm tốt nhất với hivọng tạo ra một lượng giá trị gia tăng cho sản phẩm của mình Bạn có thể sản xuấtđáp ứng nhu cầu của khách hàng, xây dưng một thương hiệu, sử dụng các nguồnlực một cách hiệu quả, làm việc với các nhà cung cấp để có được đầu vào thấp Tất

cả các chiến lược như vậy đều làm tăng giá trị gia tăng của doanh nghiệp

1.2.3 Quy tắc

Luật chơi đặt ra cấu trúc của trò chơi Trong kinh doanh luôn tồn tại các quyđịnh bất thành văn Một luật chơi có thể phát sinh từ luật pháp, từ quy định của hảiquan, từ hợp đồng hay thậm chí từ thực tế Người chơi có thể xem xét và đặt thêmluật mới bổ sung vào các luật đang có nhằm tạo thêm lợi thế cho mình

Trang 7

Trong thực tế, số luật này có thể tăng thêm từ các quy định của hải quan, luậtpháp hay hợp đồng Phổ biến nhất là các luật dựa trên các điều khoản cạnh tranh.Những luật này đưa ra cách thức đàm phán giữa kẻ mua và người bán Ví dụ nhưkhi siêu thị đính giá trên hàng hóa của mình, điều đó có nghĩa là họ để khách hàng

tự quyết định lấy hay bỏ đi mà không cần mặc cả Hoặc người mua sẽ là ngườicông bố giá bán thay vì người bán sẽ làm như vậy Đó là trong trường họp người sửdụng lao động định mua dịch vụ từ ai đó, họ thường xác định rõ các điều kiện, mứclương cho công việc và hầu như không thể đàm phán lại để thay đổi các điều kiệnđó

1.2.4 Chiến thuật

Chiến thuật trong trò chơi, chính là chiến lược mà người chơi lựa chọn chotừng người chơi cụ thể Chiến lược được hiểu là một kế hoạch theo tình huống đầy

đủ bao gồm cả tầm nhìn, mục tiêu, mục đích và các nguồn lực mà các người chơi

có thể thực hiện trong trò chơi

Theo lý thuyết trò chơi, việc lựa chọn chiến thuật là vô cùng quan trọng Ví

dụ, trong một thị trường độc quyền nhóm gồm 2 hãng, nếu một trong hai hãng tăngchi phí quảng cáo, hãng kia cũng phải nỗ lực tăng quảng cáo của mình Và đó là

“cuộc chiến tranh quảng cáo” Hậu quả của cuộc chiến tranh này là lợi nhuận của 2hãng giảm xuống Do đó, không sớm thì muộn hai hãng này cũng phải thông đồngvới nhau dưới hình thức nào đó để tránh những thiệt hại có thể có

1.2.5 Phạm vi

Phạm vi là yếu tố cuối cùng trong trò chơi, nó chỉ ra những giới hạn của tròchơi, về nguyên tắc, các trò chơi không có một ranh giới nào cả Luôn có một tròchơi lớn xuyên qua toàn bộ không gian, thời gian, qua các thế hệ khác nhau Tuynhiên, đó chỉ là về nguyên tắc Một trò chơi không có giới hạn thì việc phân tíchcực kỳ phức tạp Trên thực tế, người ta tự vẽ ra những giới hạn để giúp họ phântích dễ dàng hơn Người chơi có thể mở rộng nó bằng cách kết nối với các trò chơikhác hoặc thu hẹp nó bằng cách cắt rời các kết nối Bên cạnh đó, việc phân tích cáctrò chơi độc lập riêng lẻ với nhau sẽ không cho ra kết quả tin cậy

2 Biểu diễn trò chơi

Các trò chơi được nghiên cứu trong lý thuyết trò chơi là các đối tượng toán

Trang 8

học được định nghĩa rõ ràng Một trò chơi bao gồm một tập các người chơi/đấu thủ,một tập các nước đi (hoặc chiến lược) mà người chơi có thể chọn, và một đặc tả về

cơ chế thưởng phạt cho mỗi tổ họp của các chiến lược Có hai cách biểu diễn tròchơi thường thấy trong các tài liệu

có hai chiến lược, mỗi chiến lược được biểu diễn bởi một ô được xác định bởi sốhiệu hàng và số hiệu cột của nó.Mức thưởng phạt được ghi trong ô đó Giá trị thứnhất là mức thưởng phạt cho đấu thủ chơi theo hàng (trong ví dụ là Đấu thủ 1); giátrị thứ hai là mức thưởng phạt cho đấu thủ chơi theo cột (trong ví dụ là Đấu thủ 2).Giả sử Đấu thủ 1 chơi hàng trên và Đấu thủ 2 chơi cột trái Khi đó, Đấu thủ 1 nhận

4 điểm và Đấu thủ 2 nhận 3 điểm

Khi một trò chơi được biểu diễn bằng dạng chuẩn tắc, người ta coi rằng mỗiđấu thủ hành động một cách đồng thời, hoặc ít nhất không biết về hành động củangười kia Nếu các đấu thủ có thông tin về lựa chọn của các đấu thủ khác, trò chơithường được biểu diễn bằng dạng mở rộng

2.2 Dạng mở rộng

Một trò chơi dạng mở rộng

Các trò chơi dạng mở rộng cố gắng mô tả các trò chơi có thứ tự quan trọng Ởđây, các trò chơi được biểu diễn bằng cây (như trong hình trên) Mỗi đỉnh (hoặcnút) biểu diễn một điểm mà người chơi có thể lựa chọn Người chơi được chỉ rõ

Trang 9

bằng một số ghi cạnh đỉnh Các đoạn thẳng đi ra từ đỉnh đó biểu diễn các hànhđộng có thể cho người chơi đó Mức thưởng phạt được ghi rõ tại đáy cây.

Trong trò chơi trong hình, có hai người chơi Đấu thủ 1 đi trước và chọn Fhoặc U Đấu thủ 2 nhìn thấy nước đi của Đấu thủ 1 và chọn A hoặc R Giả sử Đấuthủ 1 chọn U và sau đó Đấu thủ 2 chọn A Khi đó, Đấu thủ 1 được 8 điểm và Đấuthủ 2 được 2 điểm

Các trò chơi mở rộng còn có thể mô tả các trò chơi đi đồng thời Hoặc có mộtđường chấm chấm hoặc một đường tròn vẽ quanh hai đỉnh khác nhau để biểu diễnrằng chúng đều thuộc cùng một tập hợp thông tin (nghĩa là, người chơi không biết

họ đang ở điểm nào)

III PHÂN LOẠI TRÒ CHƠI

1 Dựa vào cách sử dụng chiến thuật: Trò chơi đối xứng và bất đối xứng

Một trò chơi đối xứng là một trò chơi mà phần lợi cho việc chơi một chiếnthuật nào đó chỉ phụ thuộc vào các chiến thuật được sử dụng, chứ không phụ thuộcvào người nào đang chơi Nếu như tính danh của những người chơi có thể thay đổi

mà không làm thay đổi phần lợi đối với chiến thuật chơi, thì một trò chơi là đốixứng Nhiều trò chơi 2x2 thường được nghiên cứu là đối xứng Những biểu diễnchuẩn của trò chơi con gà, song đề tù nhân, đi săn nai là những trò chơi đối xứng

Đa số những trò chơi bất đối xứng được nghiên

cứu là những trò chơi mà các tập hợp chiến thuật khác

nhau được sử dụng bởi hai người chơi Chẳng hạn, trò

chơi tối hậu thư và tương tự như vậy trò nhà độc tài có

chiến thuật khác nhau cho mỗi người chơi Tuy vậy, có

thể xảy ra trường hợp một trò chơi có những chiến thuật

giống nhau cho cả hai người chơi, nhưng vẫn bất đối xứng Chẳng hạn, trò chơiđược minh họa bên phải là bất đối xứng mặc dù cho có cùng tập các chiến thuậtcho cả 2 người chơi

2 Dựa vào kết quả trò chơi: Trò chơi tổng bằng không và trò chơi tổng khác

Trang 10

chỉnh thức, đấu thủ này hưởng lợi trên thiệt hại của các đấu thủ khác Một ví dụ làtrò Poker, trong đó người này thắng số điểm bằng đúng số điểm mà người kia thua.Các loại cờ cổ điển như cờ vây, cờ vua và cờ tướng cũng là các trò chơi tổng bằngkhông Nhiều trò chơi mà các nhà lý thuyết trò chơi nghiên cứu, trong đó có song

đề tù nhân nổi tiếng, là các trò chơi tổng khác không, do có một số kết cục có tổngkết quả lớn hơn hoặc nhỏ hơn không Nói một cách không chính thức, trong các tròchơi tổng khác không, một thu hoạch của đấu thủ này không nhất thiết tương ứngvới một thiệt hại của một đấu thủ khác Có thể biến đổi một trò chơi bất lý thànhmột trò chơi tổng bằng không bằng cách bổ sung một đấu thủ "bù nhìn" sao chocác thiệt hại của đấu thủ này bù lại tổng thu hoạch của các đấu thủ khác

3 Dựa vào thông tin của người chơi: Trò chơi thông tin hoàn hảo và Trò

chơi có thông tin không hoàn hảo

Một trò chơi thông tin không hoàn hảo (đường nét đứt biểu thị việc thiếuthông tin của người chơi 2)

Các trò chơi thông tin hoàn hảo (games of perfect information) lập thành mộttập con quan trọng của các trò chơi tuần tự Một trò chơi được gọi là có thông tinhoàn hảo nếu mọi đấu thủ biết tất cả các nước đi mà tất cả các đấu thủ khác đã thựchiện Do vậy, chỉ có các trò chơi tuần tự mới có thể là các trò chơi thông tin hoànhảo Hầu hết các trò chơi được nghiên cứu trong lý thuyết trò chơi là các trò chơithông tin không hoàn hảo, tuy một số trò chơi hay như cờ vây, cờ vua lại là trò chơithông tin hoàn hảo

Tính chất thông tin hoàn hảo thường bị nhầm lẫn với khái niệm thông tin đầy

đủ Tính chất thông tin đầy đủ đòi hỏi rằng mỗi người chơi biết về các chiến lược

và thành quả thu được của các người chơi khác, nhưng không nhất thiết biết về cáchành động của họ

Trang 11

CHƯƠNG II: ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT TRÒ CHƠI TRONG PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH

DỊCH VỤ VIỄN THÔNG DI ĐỘNG TẠI VIỆT NAM

1 Tổng quan về thị trường viễn thông di động Việt Nam

Trong những năm gần đây khi nền kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp,chưa ổn định với nhiều rủi ro tiềm ẩn, nền kinh tế Việt Nam vẫn đối mặt với nhiềuthách thức trong đó tình hình nợ xấu của các ngân hàng và tình trạng kinh doanhcủa các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khiến nguy cơ mất ổn định nền kinh tế vĩ

mô vẫn còn Trong bối cảnh đó, ngành công nghệ thông tin và truyền thông(CNTT-TT) vẫn có những bước phát triển bền vững, tiếp tục khẳng định vị trí, vaitrò trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và góp phầncùng đất nước hội nhập sâu rộng với thế giới Với tổng doanh thu viễn thông đạt7,4 tỷ USD trong năm 2013 Tổng số thuê bao điện thoại đạt 130 triệu thuê bao,trong đó thuê bao di động chiếm 95% và số thuê bao 3G đã gần chạm mốc 20 triệu.Trên thị trường viễn thông di động Việt Nam đã diễn ra sự cạnh tranh quyết liệt chủyếu giữa 5 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động trong nước, quá trìnhganh đua giữa các doanh nghiệp viễn thông di động (DNVTDĐ) Việt Nam đãmang lại những kết quả tích cực

Quy mô mạng lưới và vùng phủ sóng ngày càng rộng và sâu MobiFone và

Vinaphone là hai mạng di động ra đời sớm nhất thị trường viễn thông di động ViệtNam và có tăng trưởng vùng phủ sóng cũng như lắp đặt trạm thu phát sóng BTStăng liên tục qua các năm Viettel là một doanh nghiệp ra đời sau, song đã tiến hànhphát triển mạng lưới trước kinh doanh sau, vì thế trong một thời gian ngắn ra đời từnăm 2004 đã nhanh chóng tăng vùng phủ sóng liên tục và năm 2006 đã bắt đầuvượt xa Vinaphone và MobiFone, đến nay Viettel đã phủ sóng 63/63 tỉnh thànhtrong cả nước Viettel là mạng di động có vùng phủ sóng rộng và sâu nhất cả nướcđặc biệt là tại các vùng sâu, vùng xa, biên cương hải đảo nơi mà các mạng di độngkhác khó vươn tới Mạng di động Vietnamobile, Gmobile chủ yếu chỉ khai thác ởnhững thị trường nhu cầu lớn như thành phố lớn, thị xã nên có vùng phủ sóng thấpnhất

Trang 12

Doanh thu ngày càng tăng, số lượng thuê bao di động tăng rất nóng với nhiều người sử dụng dịch vụ di động Cùng với việc đẩy mạnh lắp đặt thêm trạm thu phát

sóng và thêm vùng phủ sóng, các DNVTDĐ đã không ngừng cạnh tranh, đẩy mạnhchạy đua phát triển thuê bao Tính năm 2013, cả nước đạt:

23.735.557 số thuê bao di động(2G, 3G), trong đó: 92,71% triệu thuê baothuộc về ba nhà khai thác có gồm có Viettel với 43,48%, Mobifone với 31,78% vàVinaphone với 17,45%, còn lại 7,9% là của các mạng di động khác

6.725.329 thuê bao điện thoại cố định, trong đó: 98,01% triệu thuê bao thuộc

về ba nhà khai thác có gồm có Viettel với 21,51%, VNTP(Mobifone và Vinaphone)với 76,50%, còn lại 1,99% là của các mạng di động khác

Chính sách giá cước linh hoạt, với dịch vụ đa dạng và hướng tới khách hàng.

Các doanh nghiệp viễn thông đang đua nhau giảm giá cước để lôi kéo khách hàng

và phát triển khách hàng mới Nếu trước đây, khi Việt Nam bắt đầu có mạng diđộng với sự độc quyền của VNPT, giá cước di động là 3.000đ - 3.500đ/phút, thìnay với sự ra đời của các doanh nghiệp viễn thông mới đã phá vỡ độc quyền của

Trang 13

VPNT, làm cho giá cước di động hiện nay trên thị trường giảm chỉ còn từ880đ/phút - 980đ/phút đối với thuê bao trả sau và 1.590 đ/phút - 1.790đ/phút đốivới thuê bao trả trước.

Cùng với việc giảm cước, các doanh nghiệp viễn thỗng liên tục tung ra thịtrường nhiều gói dịch vụ khác nhau nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng NhưViettel có các gói cước trả sau, trả trước, gói cước Tomato cho người có thu nhậpthấp, ở nông thôn, gói cước Ciao dành cho học sinh sinh viên là chủ yếu, gói cướccha và con, gói cước Happy zone; Mobifone có Mobi gold, Mobicard, Mobi 4U,Mobi Q, Mobi 365

Ngoài ra, các doanh nghiệp viễn thông không ngừng cung cấp các dịch vụ giatăng trên mạng di động nhằm đưa đến cho khách hàng sử dụng các dịch vụ đa dạng

và phong phú Ví dụ, các hãng di động cung cấp dịch vụ kết nối internet GPRS,nhạc chuông chờ, chọn bài hát, tải nhạc chuông

Chăm sóc khách hàng ngày càng được chú trọng Trong thị trường viễn thôngcạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay thì chất lượng dịch vụ là yếu tố sốngcòn để giữ chân khách hàng và phát triển khách hàng mới Các doanh nghiệp viễnthông đặc biệt là các doanh nghiệp lớn như Viettel, Mobifone, Vinaphone rất chútrọng công tác chăm sóc khách hàng, tăng nhân viên callcenter phục vụ khách hàngnhanh nhất và chính xác nhất, công tác chăm sóc khách hàng được thực hiện ở cả 3khâu: trước, trong và sau bán hàng

Thị trường dịch vụ di động tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao với mứctăng trung bình hàng năm ước đạt khoảng 35% Các nhà khai thác di động đangcạnh tranh mạnh mẽ để giành thị phần bằng các chương trình khuyến mãi hấp dẫn

và kéo dài liên tục Việc Bộ Thông tin và Truyền thông cấp thêm các mã mạng mớicho các nhà khai thác giúp mở rộng kho số dịch vụ Tuy nhiên, các chương trìnhkhuyến mãi tập trung vào bán thêm các SIM card mới dẫn đến việc không xác địnhđược số lượng thuê bao thực trên mạng Việc dễ dàng trong cung cấp các SIM cardmang đến thuận tiện lớn cho khách hàng trong lựa chọn sử dụng dịch vụ điện thoại

cố định Tuy nhiên, nó cũng tạo ra vấn đề lớn trong quản lý xã hội như xác địnhtrách nhiệm chủ thuê bao về nguồn thông tin (quấy phá, truyền phát thông tin viphạm thuần phong mỹ tục, các vấn đề về an ninh quốc phòng và quản lý xã hội)

Trang 14

Để giải quyết vấn đề này, tháng 9/2007, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hànhquyết định bắt buộc phải đăng ký thông tin cá nhân đối với chủ thuê bao trả trước.Thủ tục trên có thể tác động phần nào đến tâm lý người sử dụng khi lựa chọn sửdụng dịch vụ, nhưng các tác động này không lớn bằng việc các nhà khai thác phảilập lại hồ sơ quản lý các thuê bao trả trước đã có.

Các mạng di động của Việt Nam hiện thời vẫn theo chuẩn 2G, 2.5G hay 3 Gcung cấp chủ yếu dịch vụ thoại và một số loại dịch vụ giá trị gia tăng như SMS,WAP, GPRS Hiện các nhà khai thác di động đang tập trung chuyển đổi sang mạng3G, nhưng với tốc độ chậm chạp do còn gặp nhiều khó khăn về dịch vụ nội dungthông tin và thiết bị đầu cuối đắt đỏ

Thị trường bùng phát do nhu cầu tiêu dùng tăng cao, cùng với chính sách tạocạnh tranh trên thị trường viễn thông di động của Chính phủ Hiện tại, có 5 nhàcung cấp dịch vụ di động tại Việt Nam Các nhà khai thác này không chỉ cạnh tranhtrong phát triển thuê bao di động, mà còn cạnh tranh trong phát triển các dịch vụ vôtuyến cố định trên nền mạng di động để cung cấp cho các hộ gia đình có thu nhậpthấp Dịch vụ GPhone của VNPT là dịch vụ vô tuyến cố định mới nhất của VNPT

sử dụng nền mạng Vinaphone để cạnh tranh với dịch vụ vô tuyến cố định củaViettel

Các nhà khai thác di động đang sử dụng công cụ giá để tiến hành cạnh tranh.Việc liên tục giảm giá cước tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng trên thị trường diđộng Với việc VNPT với tư cách là nhà khai thác khống chế thị trường bị quản lýchặt chẽ về giá cước đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khái thác mới nhưViettel bứt phá Tuy nhiên, cuộc chiến về giá cước dẫn đến sự suy giảm chất lượngdịch vụ, tắc nghẽn mạng lưới và gia tăng khiếu kiện khách hàng Điều này buộc cơquan quản lý nhà nước vào cuộc qua việc công bố tiêu chuẩn chất lượng dịch vụbắt buộc và các cuộc kiểm tra, giám sát quy trình cung cấp dịch vụ để đảm bảoquyền lợi khách hàng

2 Ứng dụng lý thuyết trò chơi để phân tích chiến lược cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông di động tại Việt Nam

Trang 15

Hiện nay, trên thị trường viễn thông di động ở Việt Nam có khá nhiều cácdoanh nghiệp kinh doanh Trong phạm vi tiểu luận chuyên đề này, tôi lựa chọn hainhà mạng điển hình để ứng dụng là Viettel và Vinaphone - hai trong ba nhà mạng

có thị phần lớn nhất trên thị trường viễn thông di động tại Việt Nam

2.1.Chiến lược cạnh tranh về giá cước

Giá cước viễn thông di động tại Việt Nam trong những năm gần đây tuy đãgiảm rất nhiều Song trên thực tế, nó vẫn cao hơn mặt bằng chung của thế giới Tuynhiên, các nhà mạng cũng lo ngại rằng tiếp tục giảm giá cước sẽ có thể làm phá vỡthị trường viễn thông di động Việt Nam Cho nên các nhà mạng di động ở ViệtNam đang phải cân nhắc về việc có nên tiếp tục giảm mạnh giá cước hay không?Viettel và Vinaphone đang cân nhắc xem có nên giảm giá cước thuê bao haykhông trong chiến lược cạnh tranh của mình Trong trường hợp này mỗi quyết địnhgảm giá cước hay không của Viettel hay Vinaphone đều có ảnh hưởng đên hãngkia

Ma trận lợi ích của hãng được thể hiện như sau:

Bảng 1

Vinaphone

Giảm giá Tăng giá

Nếu cả 2 hãng cùng giảm giá thì lợi nhuận được chia đều cho mỗi hãng: mỗihãng nhận được 50 đơn vị lợi ích

Nếu cả 2 hãng cùng tăng giá, mỗi hãng chỉ nhận được 30 đơn vị lợi ích

Nếu một hãng tăng giá, một hãng giảm giá thì hãng tăng giá sẽ bị mất kháchhàng so với hãng giảm giá nên chỉ nhận được 10 đơn vị lợi ích Còn hãng giảm giá

sẽ thu hút được một lượng khách hàng lớn và thu được 60 đơn vị lợi ích

Trong trường hợp này, hai hãng sẽ suy nghĩ lựa chọn chiến lược như thế nào

để tối đa hoá lợi ích cho mình?

Với Viettel:

- Nếu Vinaphone giảm giá, thì quyết định tốt nhất của Viettel là giảm giá đểthu được lợi ích 50 thay vì 10

Ngày đăng: 01/01/2022, 14:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ này mô tả rằng, trước khi F-telecom nhảy vào, MK có 3 chiến lược có thể lựa chọn: hoặc là rút lui; hoặc trụ lại một mình; hoặc trụ lại với sự hỗ trợ của VMX - Lý thuyết trò chơi trong xác lập cân bằng Nash và ứng dụng. Liên hệ để giải thích sự phát triển của thị trường viễn thông trên cơ sở sử dụng lý thuyết cân bằng nash
Sơ đồ n ày mô tả rằng, trước khi F-telecom nhảy vào, MK có 3 chiến lược có thể lựa chọn: hoặc là rút lui; hoặc trụ lại một mình; hoặc trụ lại với sự hỗ trợ của VMX (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w