1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIÁO TRÌNH Những nội dung cơ bản của Chủ Nghĩa Mác Lê Nin 2021

461 938 56

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nội Dung Cơ Bản Của Chủ Nghĩa Mác-Lênin
Trường học Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Trung Cấp Lý Luận Chính Trị
Thể loại Giáo Trình
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 461
Dung lượng 801,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIÁO TRÌNH Những nội dung cơ bản của Chủ Nghĩa Mác Lê Nin 2021 . Tài liệu được chỉnh sửa, bổ sung mới nhất năm 2021, giúp bạn đọc cập nhật để làm bài thu hoạch tốt hơn.GIÁO TRÌNH Những nội dung cơ bản của Chủ Nghĩa Mác Lê Nin 2021

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

GIÁO TRÌNH TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NỘI DUNG CƠ BẢN

CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN

NHÀ XUẤT BẢN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 2

Bài 1 TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

Triết học ra đời khoảng thế kỷ VIII-VI Tr.CN, ở cả Trung Quốc, Ấn Độ và

Hy Lạp cổ đại Theo gốc từ trong tiếng Hán, triết học là sự truy tìm bản chất củađối tượng, là sự hiểu biết sâu sắc của con người, đi đến chân lý của sự vật Theongười Ấn Độ, triết học là Dárshana, nghĩa là sự chiêm ngưỡng dựa trên lý trí, làcon đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải Theo tiếng Hy Lạp

cổ, thuật ngữ triết học được kết hợp từ hai từ: “philos - tình yêu” và “sophia

- sự thông thái” Theo nghĩa đen, triết học là tình yêu đối với sự thông thái Nhưvậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ khi mới ra đời, thì triết họcđều được coi là đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhận thức sâu sắc về thế giới, đi sâunắm bắt được chân lý, quy luật, bản chất của sự vật Khác với thần thoại chủ yếu

là những quan niệm tưởng tượng hoang đường về thế giới; khác với tôn giáo là

2

Trang 3

sự phản ánh thế giới một cách hư ảo, triết học phản ánh thế giới một cách chỉnhthể, nghiên cứu những vấn đề chung nhất, những quy luật chung nhất của thếgiới như một chỉnh thể này và thể hiện chúng một cách có hệ thống dưới dạng lý

luận Do vậy, có thể hiểu triết học là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất

về thế giới như một chỉnh thể, về con người, tư duy của con người cũng như vị trí của con người trong thế giới đó.

1.2 Nguồn gốc ra đời của triết học

Triết học ra đời do hai nguồn gốc là nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc

xã hội

Nguồn gốc nhận thức

Triết học ra đời khi bộ óc con người phát triển, đạt đến trình độ có thểkhái quá hóa, trừu tượng hóa các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanhbằng các khái niệm, phạm trù, nguyên lý Bởi lẽ, tư duy triết học là tư duy bằngkhái niệm, phạm trù, nguyên lý Khi con người chưa thể khái quát hóa, trừutượng hóa sự vật, hiện tượng bằng các khái niệm, phạm trù, nguyên lý thì chưathể có triết học Quá trình nhận thức thế giới bên ngoài, quá trình thâm nhập vàobản chất các sự vật được thể hiện trong việc con người nhờ tư duy trừu tượng

mà hình thành các khái niệm, các phạm trù triết học

Nguồn gốc xã hội

Triết học chỉ ra đời khi trong xã hội có sự phân công lao động xã hội, đã

có sự tách lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay Trên cơ sở đó hình thànhtầng lớp trí thức, trong đó có các nhà triết học, những người chuyên lao động trí

óc, làm công việc sáng tạo tri thức, khái quát quá trình nhận thức của mình vềthế giới

1.3 Vấn đề cơ bản của triết học

Trong tác phẩm Lút-vích Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, Ph.Ăngghen đã nêu: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là

của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại”1 Mối quan hệgiữa tư duy với tồn tại được biểu hiện cụ thể ra thành mối quan hệ giữa vật chất

1 C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.21, tr.403.

Trang 4

với ý thức Mối quan hệ này được coi là vấn đề cơ bản của triết học bởi lẽ: Thứ nhất, nó ra đời cùng sự ra đời của triết học và tồn tại cùng sự tồn tại của triết học suốt từ khi ra đời cho đến nay Thứ hai, trên cơ sở giải quyết vấn đề cơ bản này

như thế nào sẽ quy định lập trường của các trường phái triết học và việc giảiquyết những vấn đề triết học còn lại Điều này đã được lịch sử phát triển củatriết học chứng minh

Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt: Mặt thứ nhất, trả lời cho câu hỏi

giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau và cái nào quyết định cáinào? Đây là câu hỏi về mặt bản thể - nguồn gốc ban đầu của thế giới và được gọi

là vấn đề bản thể Lý luận về vấn đề này được gọi là bản thể luận

Mặt thứ hai, trả lời cho câu hỏi tư duy của con người có phản ánh được

tồn tại hay không? Ý thức có phản ánh được vật chất hay không? Con người cókhả năng nhận thức được thế giới hay không? Đây là câu hỏi về mặt nhận thức

và lý luận về vấn đề này được gọi là nhận thức luận

1.4 Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã chia các nhàtriết học thành các trường phái triết học khác nhau Trong lịch sử triết học, dựatrên việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã hình thành haitrường phái triết học lớn là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Chủ nghĩa duy vật và các hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử.

Các nhà triết học cho rằng, tồn tại (vật chất) có trước tư duy (ý thức) vàquyết định tư duy (ý thức) của con người được gọi là các nhà duy vật Họcthuyết của họ hợp thành chủ nghĩa duy vật Chủ nghĩa duy vật xuất hiện ngay từthời cổ đại, từ khi triết học mới bắt đầu xuất hiện Từ đó đến nay, nó đã trải qua

Trang 5

Thứ hai, chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII - XVIII Thời kỳ này cơ

học phát triển mạnh mẽ và đã ảnh hưởng nhiều đến các nhà duy vật khiến choquan điểm duy vật của họ còn siêu hình, máy móc Các nhà duy vật siêu hìnhxem xét giới tự nhiên và con người chỉ như những cỗ máy cơ học khác nhau màthôi Hơn nữa, họ không thấy giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới có mốiquan hệ tác động, ảnh hưởng, chuyển hóa lẫn nhau

Thứ ba, chủ nghĩa duy vật biện chứng do C.Mác, Ph.Ăngghen sáng lập

vào những năm 40 của thế kỷ XIX và V.I.Lênin bổ sung, phát triển xuất sắc vàocuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Chủ nghĩa duy vật biện chứng của C.Mác,Ph.Ăngghen có sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương phápbiện chứng Nó không chỉ duy vật trong giải thích thế giới tự nhiên mà còn duyvật trong giải thích cả đời sống xã hội

Ngoài các hình thức cơ bản trên đây, trong lịch sử phát triển của chủ nghĩaduy vật còn có chủ nghĩa duy vật tầm thường như Buykhơnơ, Môlétsốt… khôngthấy vai trò của ý thức đối với vật chất và chủ nghĩa duy vật kinh tế xuất hiệnvào cuối thế kỷ XIX, coi kinh tế là cái duy nhất quyết định sự phát triển xã hội,như Bécgten người Đức, Pecơrốpxki người Nga,v.v

Chủ nghĩa duy tâm và các hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử.

Những nhà triết học cho tư duy (ý thức) có trước tồn tại (vật chất) vàquyết định tồn tại (vật chất) thuộc chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy tâm cũngxuất hiện ngay từ thời cổ đại và tồn tại dưới hai dạng chủ yếu: chủ nghĩa duytâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan

Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng ý thức chủ quan ở trong đầu óc conngười là nguồn gốc của mọi sự vật, hiện tượng Đại biểu tiêu biểu là Bécơcli,Hium, Phíchtơ, Makhơ,v.v Chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng ý thức củacác lực lượng siêu nhiên như tinh thần thế giới, ý niệm tuyệt đối, v.v ở ngoàicon người là nguồn gốc của mọi sự vật, hiện tượng, tiêu biểu như Platôn, Hêghen,v.v

Trang 6

Tuy có sự khác nhau trong quan niệm cụ thể về tư duy (ý thức), nhưng cảhai hình thức của chủ nghĩa duy tâm đều thống nhất với nhau ở chỗ coi ý thức,tinh thần là cái có trước tồn tại, vật chất, là cải sản sinh ra tồn tại, vật chất vàquyết định tồn tại, vật chất.

Trong lịch sử triết học luôn luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩaduy vật và chủ nghĩa duy tâm với tính cách là hai đảng phái chính trong triếthọc Cuộc đấu tranh đó tạo nên động lực bên trong cho sự phát triển của tư duytriết học, đồng thời, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâmcũng biểu hiện bằng cách này hay cách khác cuộc đấu tranh hệ tư tưởng của cácgiai cấp đối địch trong xã hội

1.5 Thuyết khả tri và bất khả tri

Cách giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học phân chia cáchọc thuyết triết học thành học thuyết khả tri (có thể biết) và học thuyết bất khảtri (không thể biết) Thuyết khả tri, khẳng định con người có thể nhận thức đượcthế giới Ph.Ăngghen cho rằng, đối với câu hỏi “Con người có nhận thức đượcthế giới không?” phần lớn các nhà triết học thừa nhận con người có thể nhậnthức được thế giới Tuy nhiên trong lịch sử triết học cũng có một số nhà triết họccho rằng con người không thể hiểu biết được thế giới hay ít ra cũng không thểnhận thức được bản chất của nó Học thuyết của họ được gọi là thuyết không thểbiết Đại biểu tiêu biểu: Hium (nhà triết học Anh), Cantơ (nhà triết học Đức).Theo Hium, con người không thể biết được sự vật là như thế nào và không thểbiết được nó tồn tại ra sao Còn Cantơ cho rằng, có tồn tại “vật tự nó” - thừanhận có một thế giới sự vật tồn tại nhưng con người không thể nhận thức đượcbản chất của “vật tự nó” mà chỉ nhận thức được những hiện tượng bên ngoài của

nó mà thôi Thuyết không thể biết đã bị Ph.Ăngghen phê phán: “Sự bác bỏ mộtcách hết sức đanh thép những sự vặn vẹo triết học ấy, cũng như tất cả những triếthọc khác, là thực tiễn, chính là thực nghiệm và công nghiệp Nếu chúng ta có thểchứng minh được tính chính xác của quan điểm của chúng ta về một hiện tượng

tự nhiên nào đó, bằng cách tự chúng ta làm ra hiện tượng ấy, bằng cách tạo ra nó

từ những điều kiện của nó, và hơn nữa, còn bắt nó phải phục vụ mục

Trang 7

đích của chúng ta, thì sẽ không còn có cái “vật tự nó” không thể nắm được củaCantơ nữa”2 Nhận thức của con người bị hạn chế bởi thực tiễn, bởi những điềukiện lịch sử - xã hội cụ thể, nên không thể nhận thức đầy đủ, đúng đắn về sự vậttrong thời gian nhất định Hơn nữa, mỗi sự vật, hiện tượng có vô vàn thuộc tínhnên nhận thức phải đi từ bản chất cấp một đến bản chất cấp hai, từ bản chất cấphai đến bản chất cấp ba … đến cấp n Nhưng nếu từ đó đi tới phủ nhận khả năngnhận thức thế giới của con người là sai lầm.

1.6 Biện chứng và siêu hình

Trong triết học có hai phương pháp nhận thức đối lập nhau là phươngpháp biện chứng và phương pháp siêu hình

Phương pháp siêu hình xem xét sự vật, hiện tượng trong trạng thái cô lập,

tĩnh tại, bất biến, đứng im, nghĩa là, “chỉ nhìn thấy những vật riêng biệt màkhông nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tạicủa những vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sựvật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vậnđộng của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”3

Ngược lại, phương pháp biện chứng xem xét sự vật, hiện tượng trong mối

liên hệ, vận động, biến đổi, phát triển, tức không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật

mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật, không chỉ nhìn thấy trạngthái tĩnh của sự vật mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật Như vậy, phươngpháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫnnhau, trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo,linh hoạt, "không chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệgiữa chúng, không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinhthành và tiêu vong của sự vật, không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh… mà còn thấy

cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấy cây mà còn thấy cả rừng" Do đó,phương pháp biện chứng là phương pháp khoa học, mềm dẻo, linh hoạt, chophép con người phản ánh đúng bản chất của sự vật, hiện tượng

2 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 1995, t 21, tr 406.

3 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H 1994, t.20, tr 37.

Trang 8

Các hình thức cơ bản của phép biện chứng trong lịch sử

Thứ nhất, phép biện chứng tự phát thời cổ đại là hình thức đầu tiên của

phép biện chứng trong lịch sử triết học Tiêu biểu cho tư tưởng biện chứng củatriết học Trung Quốc là thuyết âm - dương và “ngũ hành luận” (học thuyết vềnhững nguyên tắc tương tác, biến đổi của các yếu tố bản thể trong vũ trụ) Trongtriết học Ấn Độ, tư tưởng biện chứng biểu hiện rõ nét nhất là ở triết học PhậtGiáo với các phạm trù “vô ngã”, “vô thường”, “nhân duyên tương lục” Đặcbiệt, trong nhiều học thuyết của triết học Hy Lạp cổ đại, các nhà tư tưởng đãthấy rằng, các sự vật của thế giới xung quanh ta có mối liên hệ và tác động qualại lẫn nhau, làm cho mọi sự vật, hiện tượng luôn trong quá trình vận động, biếnhóa, sinh thành và tiêu vong Nhìn chung, do chưa đạt đến trình độ đi sâu phântích thế giới nên các nhà biện chứng cổ đại nói chung chưa chỉ ra được nguồngốc, bản chất của mối liên hệ, sự vận động và biến đổi của mọi sự vật, hiệntượng Cách xem xét thế giới như vậy, theo Ph.Ăngghen còn mang tính ngâythơ, chất phác Vì vậy, phép biện chứng thời cổ đại còn hạn chế

Thứ hai, phép biện chứng duy tâm của Hêghen Hêghen cho rằng, có tồn

tại “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới” luôn trong quá trình vận động,biến đổi, phát triển Trong quá trình phát triển ấy, ý niệm tuyệt đối “tự tha hóa”,chuyển hóa thành giới tự nhiên và sau đó lại “tha hóa” trở về với bản thân mìnhdưới dạng tinh thần Hêghen đã xây dựng phép biện chứng của thế giới bênngoài, nhưng thế giới này là do “ý niệm tuyệt đối” tha hóa mà thành Vì vậy, ởHêghen sự phát triển biện chứng của thế giới bên ngoài chỉ là sự sao chép lạiquá trình vận động của “ý niệm tuyệt đối” mà thôi và phép biện chứng của ông

là phép biện chứng duy tâm

Thứ ba, phép biện chứng duy vật do C.Mác, Ph.Ăngghen sáng lập và

V.I.Lênin bổ sung, phát triển Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác –Lênin được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật biện chứng và có sựthống nhất giữa nội dung thế giới quan (duy vật biện chứng) và phương phápluận (biện chứng duy vật), vì vậy nó không chỉ giải thích thế giới mà còn là công

cụ để cải tạo thế giới Nói khác đi, phép biện chứng duy vật có sự thống nhất

Trang 9

giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, giữa lý luận khoa học và thực tiễn.

2. TRIẾT HỌC LÊNIN VÀ VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC LÊNIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

MÁC-2.1 Khái lược sự ra đời và phát triển của triết học Mác-Lênin

2.1.1 Những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội

Chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng ra đời vào những năm

40 của thế kỷ XIX Lúc bấy giờ, chủ nghĩa tư bản ở châu Âu đang trên đà pháttriển mạnh mẽ Anh và Pháp cơ bản đã hoàn thành cách mạng công nghiệp.Nước Đức, mặc dù còn là nước quân chủ phong kiến nhưng có bước phát triểnvượt bậc về kinh tế, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp Chính sự phát triểnmạnh mẽ về kinh tế của chủ nghĩa tư bản đã làm bộc lộ những mâu thuẫn vốn cócủa nó, đặt ra những vấn đề đòi hỏi các nhà tư tưởng của thời đại phải trả lời.Trong đó, có cách trả lời, tiếp cận của C.Mác và Ph.Ăngghen

Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo ranhững điều kiện vật chất, kỹ thuật cho việc thực hiện những lý tưởng của chủnghĩa xã hội, làm cơ sở khắc phục tính không tưởng của những tư tưởng xã hộichủ nghĩa không tưởng trước đó, thúc đẩy sự ra đời của triết học Mác

Sự phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làmcho giai cấp vô sản phát triển không chỉ về số lượng mà cả về chất lượng Trongnhững năm 30 - 40 của thế kỷ XIX, ở Anh, Pháp, Đức đã nổ ra nhiều cuộc đấutranh quy mô lớn, có tính chất giai cấp như phong trào Hiến chương ở Anh (vàonhững năm 30); khởi nghĩa của công nhân ở thành phố Lyông của Pháp (1831,1834); khởi nghĩa của công nhân ở thành phố Xilêdi của Đức 91844),v.v Những cuộc đấu tranh này của giai cấp công nhân đòi hỏi phải có một lý luậnkhoa học, cách mạng dẫn đường Trong khi ấy, nhiều trào lưu tư tưởng phi khoahọc như chủ nghĩa xã hội “chân chính” lại tìm cách len lỏi vào phong trào côngnhân Đã vậy, vào thời điểm này giai cấp tư sản đã bộc lộ tính chất phản động vềmặt lịch sử, không còn là đại diện cho sự tiến bộ của lịch sử nữa Chính những

Trang 10

điều này thúc đẩy cho sự ra đời của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng.

1882) Những phát minh khoa học này không chỉ làm bộc lộ rõ tính hạn chế củaphương pháp tư duy siêu hình trong nhận thức thế giới, mà còn tạo ra cơ sở khoahọc để khắc phục phương pháp tư duy siêu hình Đồng thời, chúng cũng cungcấp những cơ sở khoa học cho phương pháp tư duy biện chứng và quan niệmduy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội ra đời, phát triển

Đánh giá về vai trò, ý nghĩa của những phát minh khoa học thời kỳ nàyđối với sự hình thành phương pháp tư duy biện chứng, Ph.Ăngghen viết: “Quanniệm mới về giới tự nhiên đã được hoàn thành trên những nét cơ bản: tất cả cái

gì cứng nhắc đều bị tan ra, tất cả cái gì là cố định đều biến thành mây khói; vàngười ta đã chứng minh rằng toàn bộ giới tự nhiên đều vận động theo một dòng

và một tuần hoàn vĩnh cửu”4 Những phát minh khoa học tự nhiên này đã lànhững cơ sở, tiền đề khoa học trực tiếp cho sự ra đời chủ nghĩa Mác nói chung,thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng duy vật của triết học Mác nóiriêng

2.1.3 Tiền đề lý luận

Học thuyết của C.Mác “ra đời là sự thừa kế thẳng và trực tiếp những học

thuyết của những đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong kinh tế chính trịhọc và trong chủ nghĩa xã hội”5 Trong đó, triết học Mác ra đời là sự kế thừatoàn bộ thành tựu lịch sử tư tưởng triết học nhân loại, nhưng trực tiếp nhất làtriết học cổ điển Đức

4 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.20, tr.471.

5 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Tiến bộ, M.1980, t.23, tr.49-50.

Trang 11

Với triết học của Hêghen, C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa tư tưởngbiện chứng, đồng thời gạt bỏ cái vỏ duy tâm, thần bí của phép biện chứng ấy vàđặt phép biện chứng ấy trên nền thế giới quan duy vật Còn thế giới quan duyvật được ông và Ph.Ăngghen làm giàu bằng phương pháp biện chứng ChínhC.Mác đã khẳng định: “Phương pháp biện chứng của tôi không những khácphương pháp của Hêghen về cơ bản, mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấynữa”6.

C.Mác và Ph.Ăngghen cũng kế thừa những giá trị trong triết học duy vậtnhân bản của Phoiơbắc, vận dụng chủ nghĩa duy vật này để khắc phục chủ nghĩaduy tâm của Hêghen Đồng thời, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cải tạo chủ nghĩaduy vật của Phoiơbắc, khắc phục tính chất siêu hình, máy móc, trực quan, khôngtriệt để của nó Trên cơ sở đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm giàu chủ nghĩa duyvật bằng phép biện chứng, còn phép biện chứng được hai ông đặt trên nền thếgiới quan duy vật Cả chủ nghĩa duy vật, cả phép biện chứng đều được C.Mác vàPh.Ăngghen phát triển lên một trình độ mới về chất so với trước đó Trong triếthọc Mác, chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng, còn phép biệnchứng là phép biện chứng duy vật Không những vậy, chủ nghĩa duy vật củaC.Mác và Ph.Ăngghen còn là chủ nghĩa duy vật triệt để so với chủ nghĩa duy vậtkhông triệt để của Phoiơbắc Chủ nghĩa duy vật của C.Mác và Ph.Ăngghen đãgiải thích một cách duy vật không chỉ thế giới tự nhiên mà cả xã hội, lịch sử loàingười

Ngoài ra, C.Mác và Ph.Ăngghen kế thừa có chọn lọc tư tưởng kinh tếchính trị hợp lý của A.Xmít và Đ.Ricácđô; tư tưởng chủ nghĩa xã hội khôngtưởng của XanhXimông, S.Phuriê và R.Ôoen để xây dựng nên những tư tưởngtriết học duy vật biện chứng của mình

2.1.4 Nhân tố chủ quan của C.Mác và Ph.Ăngghen

Triết học Mác ra đời ngoài những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, tiền

đề khoa học và tiền đề lý luận còn có những điều kiện chủ quan Đó là nhữngnhân tố thuộc về cá nhân của C.Mác và Ph.Ăngghen

6 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.23, tr.35.

Trang 12

Các Mác (5.5.1818 - 14.3.1883), tên đầy đủ Karl Henrich Marx sinh tạiTriơ (Trier), tỉnh Ranh nước Đức trong một gia đình lao động Ngay từ nhỏC.Mác đã nhận được sự giáo dục tốt từ gia đình và chịu ảnh hưởng sâu sắc tinhthần nhân đạo, yêu thương con người, yêu tự do, niềm say mê nghiên cứu khoahọc Lớn lên ông chịu ảnh hưởng tư tưởng dân chủ cách mạng của cuộc cáchmạng tư sản Pháp 1789 và sớm có ước mơ giải phóng con người khỏi mọi hìnhthức nô dịch, áp bức, bất công Ông tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Béclin ngànhtriết học và được công nhận tiến sĩ triết học năm 1841 bằng công trình tự nghiêncứu của mình Những đức tính, phẩm chất, tố chất ấy đã góp phần quan trọngtrong việc hình thành nên học thuyết triết học duy vật, biện chứng, nhân đạo vĩđại mang tên C.Mác.

Phridrich Ăngghen (Fridric Engels), sinh 28.11.1820 tại Bácmen nướcĐức, mất ngày 5 tháng 8 năm 1895 tại Luân Đôn nước Anh Ph.Ăngghen sinh

ra trong một gia đình chủ xưởng dệt Ông không có cơ hội tốt nghiệp trung học

vì gia đình bắt phải học nghề kinh doanh từ rất sớm và phải tham gia thực hiệnnghĩa vụ quân sự Tuy nhiên, ông là người thông minh, chăm chỉ, cần cù tự học

và tích cực nghe dự thính các bài giảng của các giáo sư triết học đương thời.Cũng giống C.Mác ông có tố chất thông minh và rất yêu thương người lao động,

từ nhỏ ông đã căm ghét sự chuyên chế, độc đoán nhà nước phong kiến Phổ Ông

có cơ hội tham gia phong trào Hiến chương, làm việc, tiếp xúc với đời sống giaicấp công nhân Anh Điều này đã giúp Ph.Ăngghen sớm nhận ra tính chất thần bícủa triết học Hêghen; hiểu, thông cảm với cuộc sống vất vả của những ngườicông nhân Cũng chính sự tham gia vào đời sống công nhân đã làm nảy sinh tinhthần dân chủ cách mạng, tư tưởng vô thần, tình yêu thương, sự đồng cảm vớingười công nhân và mong muốn giải phóng công nhân khỏi nô dịch, áp bức, bóclột

Chính tình yêu thương những người công nhân, những người lao động,tinh thần hy sinh không mệt mỏi vì sự nghiệp giải phóng những người lao động,niềm tin sâu sắc vào lý tưởng cách mạng của giai cấp công nhân, cùng sự thôngminh, trí tuệ uyên bác của C.Mác và Ph.Ăngghen là những nhân tố chủ quan

Trang 13

đóng vai trò quan trọng nhất cho sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng.

2.2 V.I.Lênin phát triển triết học Mác

2.2.1 Hoàn cảnh V.I.Lênin phát triển triết học Mác

Về điều kiện chính trị-xã hội, vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX, chủ nghĩa tư bản phát triển, chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa,nhưng bản chất bóc lột, ăn bám của chúng không đổi Mâu thuẫn giữa giai cấp

tư sản và vô sản càng gay gắt Các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Nga

nổ ra nhiều hơn, đặc biệt là cách mạng dân chủ tư sản (1905-1907); cách mạng

tư sản tháng Hai 1917 và đỉnh cao là cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười

1917 Lúc bấy giờ, chủ nghĩa Mác được truyền bá rộng rãi ở Nga, nhưng xuấthiện đủ các loại trào lưu tư tưởng phản động như chủ nghĩa kinh nghiệm phêphán; chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa dân túy muốn thay thếchủ nghĩa Mác

Về khoa học tự nhiên, cuối XIX đầu XX đạt được những thành tựu mới,

đặc biệt là vật lý học, đi sâu nghiên cứu thế giới vi mô, phát hiện ra các dạng vậtchất mới như các tia, các hạt, trường, sóng,v.v Những phát minh của vật lý này

đã làm cho quan niệm siêu hình đồng nhất vật chất với nguyên tử không còncăn cứ khoa học nữa.Trong bối cảnh ấy, một số nhà khoa học tự nhiên đã chorằng “vật chất biến mất, vật chát tiêu tan”, rơi vào duy tâm, tạo ra cuộc khủnghoảng trong vật lý học Tất cả những điều kiện này đã thôi thúc V.I.Lênin bổsung và phát triển chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng

2.2.2 Những nội dung chủ yếu V.I.Lênin bổ sung, phát triển triết học Mác

V.I.Lênin đóng góp vào triêt học Mác, có thể chia làm ba thời kỳ, đáp ứng

ba nhu cầu cơ bản của thực tiễn: thời kỳ từ 1893 - 1907; thời kỳ từ 1907 - 1917;thời kỳ sau cách mạng Tháng Mười

Thời kỳ đầu 1893- 1907 là những năm V.I.Lênin tập trung chống phái dântúy Nga, vạch trần bản chất tư sản, phản động của phái dân túy Nga, bảo vệ lýluận hình thái kinh tế-xã hội của Mác

Trang 14

Thời kỳ những năm 1907 - 1917, V.I.Lênin đấu tranh chống chủ nghĩaduy tâm chủ quan của phái Makhơ, đưa ra định nghĩa nổi tiếng về vật chất cùngcác nguyên tắc của lý luận nhận thức duy vật biện chứng, đồng thời kiên quyếtđấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội, xét lại.

Thời kỳ sau cách mạng Tháng Mười (1917), V.I.Lênin tiếp tục đấu tranhchống bệnh ấu trĩ “tả khuynh” cùng các trào lưu tư tưởng sai lầm khác; bàn vềnhững vấn đề biện chứng của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực;thực hiện chính sách kinh tế mới; về bản chất chủ nghĩa đế quốc; về nhà nước vàcách mạng; v.v Chính những đóng góp to lớn của V.I.Lênin vào sự phát triển lýluận của triết học Mác mà một giai đoạn mới trong sự phát triển của triết họcMác được gắn với tên tuổi của Người, đó là triết học Mác-Lênin

3. VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN TRONG ĐỜI SỐNG XÃHỘI

3.1 Vai trò thế giới quan và phương pháp luận

Vai trò thế giới quan

Thế giới quan, theo nghĩa hẹp, là quan niệm hay hệ thống quan niệm của

con người về thế giới Quan niệm hay hệ thống quan niệm này cũng không phảinhất thành bất biến mà nó thay đổi theo điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể, phụthuộc vào trình độ nhận thức và hoạt động cải tạo thế giới của con người Nhưngthế giới quan không tách rời con người Bởi vậy, theo nghĩa rộng, thế giới quan

là hệ thống những quan niệm của con người về thế giới; về vị trí của con ngườitrong thế giới đó, về chính bản thân cuộc sống của con người và loài người trongmỗi giai đoạn lịch sử nhất định

Thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống con người

và xã hội loài người Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, nghĩa là triếthọc quan niệm về thế giới bằng hệ thống lý luận của mình Thế giới quan triếthọc Mác-Lênin có quan niệm duy vật, biện chứng, khoa học về thế giới, về lịch

sử, xã hội và về tư duy của con người Do vậy, thế giới quan triết học

Mác-Lênin có vai trò định hướng đúng đắn cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Nghĩa là, trên cơ sở quan niệm của thế giới quan triết

Trang 15

học Mác-Lênin về thế giới này mà con người sẽ định hướng đúng đắn cho hoạtđộng nhận thức và hoạt động thực tiễn của mình Chẳng hạn, nếu một người cóquan niệm duy vật biện chứng về thế giới thì trong nhận thức cũng như hoạtđộng thực tiễn, anh ta sẽ hành động theo tinh thần duy vật, biện chứng Ngượclại, nếu anh ta có thế giới quan duy tâm về thế giới thì trong nhận thức và hoạtđộng thực tiễn, anh ta sẽ thực hiện theo tinh thần duy tâm Trong triết học có haithế giới quan cơ bản đối lập nhau là thế giới quan duy vật và thế giới quan duytâm Thế giới quan triết học Mác-Lênin là đỉnh cao của thế giới quan duy vật vàtiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực, đúng đắn.

Vai trò phương pháp luận

Phương pháp có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của con người, làmtăng hiệu quả hoạt động của con người, làm cho hoạt động của con người mangtính sáng tạo, tích cực, tự giác và hiệu quả

Chủ nghĩa duy tâm cho rằng phương pháp là những nguyên tắc do lý trícon người tự ý đặt ra để tiện cho nhận thức và hoạt động thực tiễn Theo quanniệm này, phương pháp là phạm trù thuần tuý chủ quan, không phụ thuộc vàođối tượng nhận thức và đối tượng tác động của con người

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định phương pháp dù là nhữngnguyên tắc do con người đặt ra và dùng để điều chỉnh hoạt động của mình nhằmđạt mục đích nhất định, nhưng không phải đặt ra một cách hoàn toàn chủ quan,tuỳ tiện, cũng không phải là những nguyên tắc có sẵn bất biến Phương pháp phụthuộc vào đối tượng nghiên cứu và đối tượng tác động, phụ thuộc vào mục đíchđặt ra của chủ thể Đối tượng tác động và mục đích của con người không phải docon người tạo ra theo ý muốn chủ quan thuần tuý của mình Muốn tiếp cận đốitượng và giải quyết nhiệm vụ đặt ra, chủ thể phải nghiên cứu đối tượng và mụcđích cần đạt tới một cách khách quan Nghĩa là phải vạch rõ đối tượng có tínhchất gì, các yếu tố cấu thành nên đối tượng, giới hạn tồn tại của đối tượng là gì,v.v Từ đó chủ thể nhận thức rõ những quy luật tồn tại và biến đổi của đốitượng Chỉ trên cơ sở đó chủ thể mới xác định được phải nghiên cứu và hànhđộng như thế nào và cần phải sử dụng những phương tiện, công cụ và biện pháp

Trang 16

gì cho thích hợp, cũng như cần phải kết hợp các yếu tố đã cho theo một trình tựnhư thế nào cho hợp lý để đạt được mục đích tối ưu.

Theo triết học Mác-Lênin, phương pháp là những cách thức, con đường thực hiện hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm đạt mục đích đã đặt

ra một cách tối ưu nhất Phương pháp là một trong những yếu tố quyết định sự

thành công hay thất bại đối với hoạt động của con người Nếu với những điềukiện khách quan nhất định như nhau, phương pháp phù hợp thì kết quả đạt đượccàng cao và ngược lại phương pháp không phù hợp có thể không đưa đến kếtquả như mong muốn, hoặc hiệu quả công việc không cao

Phương pháp luận Trên thực tế, để giải quyết một công việc đã định

người ta có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau Trong các phương pháp đó

có phương pháp thích hợp đưa lại hiệu quả cao, cũng có phương pháp khôngthích hợp, đưa lại hiệu quả thấp Làm thế nào để chọn được một phương phápthích hợp nhất trong số rất nhiều phương pháp có thể sử dụng? Trả lời cho vấn

đề này làm nảy sinh nhu cầu tri thức về phương pháp Từ nhu cầu tri thức vềphương pháp đưa đến sự ra đời khoa học và lý luận về phương pháp Đó chính

là phương pháp luận Theo triết học Mác-Lênin, phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là hệ thống quan điểm, nguyên tắc xác định phương pháp, phạm

vi ứng dụng phương pháp, lựa chọn phương pháp, v.v cho hoạt động nhận thức

và hoạt động thực tiễn của con người một cách tối ưu nhất Triết học Mác-Lênin

với các nguyên tắc phương pháp luận của mình như nguyên tắc khách quan, toàndiện, phát triển, lịch sử - cụ thể, thực tiễn có vai trò phương pháp luận rất to lớnđối với hoạt động nhận thức và hoạt động hực tiễn của con người

3.2 Triết học Mác-Lênin với việc nhận thức chủ nghĩa tư bản

Triết học Mác-Lênin chỉ ra rằng, trong điều kiện cách mạng khoa học vàcông nghệ hiện đại, chủ nghĩa tư bản với những lợi thế về vốn, khoa học, côngnghệ và thị trường đã tạo cho nó một bộ mặt mới so với thế kỷ XX Ở nhữngkhía cạnh nào đó, chủ nghĩa tư bản đã đạt được những thành tựu nhất định vềmột số lĩnh vực: kinh tế, khoa học, công nghệ, v.v Nhưng chính chủ nghĩa tưbản cũng là kẻ đã gây ra không ít tai họa cho con người như chiến tranh, nghèo

Trang 17

đói, bất công xã hội, sự nô dịch áp bức Chủ nghĩa tư bản vẫn lấy lợi nhuận tối

đa làm phương châm sống và hành động Do vậy, nó không chỉ gây ra mâuthuẫn giữa con người với con người mà còn gây ra mâu thuẫn giữa con ngườivới tự nhiên, môi trường, v.v Cho nên chủ nghĩa tư bản tự nó không thể giảiquyết được những vấn đề nội tại, vốn có của nó Những tai họa mà nó gây ra chỉ

có thể được giải quyết triệt để trong một xã hội không dựa trên sở hữu tư nhân

về tư liệu sản xuất và không còn người bóc lột người Chính vì vậy mà ĐảngCộng sản Việt Nam đã nhận định: “Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năngphát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công.Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữatính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu

tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không được giải quyết mà ngày càng trởnên sâu sắc Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra”7 Về bốicảnh quốc tế đương đại, với phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin nóichung, triết học Mác-Lênin nói riêng, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Trongnhững năm tới dự báo tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều thay đổi rấtnhanh, phức tạp, khó lường Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn,song cũng đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn, thách thức Toàn cầu hóa và hộinhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng cũng đang bị đe dọa bởi sự trỗi dậy củachủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiếntranh thương mại diễn ra gay gắt Do tác động của đại dịch Covid-19, thế giớirơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt Cuộc cách mạng công nghiệp lầnthứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ

và thách thức đối với mọi quốc gia Các nước điều chỉnh chiến lược và phươngthức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới Khu vực Châu Á – Thái BìnhDương tiếp tục có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng Tại Đông Nam Á,môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên biển Đông còn diễn biến phứctạp Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và acsc vấn đề an ninh phi truyềnthống khác, nhất là an ninh mạng, ngày càng tác động mạnh mẽ, nhiều mặt, đe

7 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NxbCTQG,H.2011; tr 68.

Trang 18

dọa nghiêm trọng đến sự phát triển ổn định, bền vững của thế giới, khu vực vàđất nước ta”8.

3.3 Triết học Mác-Lênin với việc nhận thức chủ nghĩa xã hội

Triết học Mác-Lênin đã luận chứng tính tất yếu của sự thay thế chủ nghĩa

tư bản bằng chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa tư bản đang tạo ra cho chủ nghĩa xã hộikhông chỉ có tiền đề khoa học, kỹ thuật mà còn cả tiền đề kinh tế, vật chất nữa

Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong điều kiện cách mạng khoa học và côngnghệ làm cho những tiền đề của chủ nghĩa xã hội càng thêm chín muồi

Triết học Mác-Lênin cho chúng ta cơ sở lý luận để khẳng định mặc dùchủ nghĩa xã hội hiện thực có khủng hoảng, chủ nghĩa tư bản có những điềuchỉnh, thích nghi và có những thành tựu nhất định về kinh tế, khoa học, v.v nhưng thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa

xã hội trên phạm vi toàn thế giới Đúng như Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiềulần khẳng đinh: “Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dântộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức,

nhưng sẽ có những bước tiến mới Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” 9 Rõ ràng, triển vọng của chủ nghĩa xã

hội thể hiện rất rõ ở cả chủ nghĩa xã hội hiện thực đang đổi mới, phát triển; ở cảchủ nghĩa tư bản

C.Mác và Ph.Ăng-ghen ngay từ năm 1845-1846 đã từng lưu ý rằng "

chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản

là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay Những điều kiện của

phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra"10 Điều này cho chúng

ta cơ sở lý luận để thấy rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên xô,Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội giáo điều, cứngnhắc, rập khuôn, không đổi mới chứ không phải sự dụp đổ của chủ nghĩa xã hộinói chung, càng không phải sự sụp đổ của lý luận Mác-Lênin về chủ nghĩa xã

8 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, NxbCTQGST, H.2021, tr.30-31.

9 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NxbCTQG,H.2011; tr.69.

10 C Mác và Ph Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội 1995, tr.51.

Trang 19

hội Chính vì vậy mà Đảng Cộng sản Việt Nam luôn “kiên định mục tiêu độc lậpdân tộc và chủ nghĩa xã hội;”11.

3.4 Triết học Mác-Lênin với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam

Chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung, triết học Mác-Lênin nói riêng đã, đang

là kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam không chỉ trong các cuộc kháng chiếnchống giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc mà còn cả trong công cuộc đổi mớihiện nay Triết học Mác-Lênin chỉ ra rằng thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội

đã làm nảy sinh hàng loạt vấn đề không thể tìm lời giải có sẵn trong di sản kinhđiển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh Do vậy, trên cơ sở kiêntrì chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì chúng ta phải tổng kết thựctiễn để vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng HồChí Minh Chỉ trên cơ sở đó, chúng ta mới thực hiện đổi mới chủ nghĩa xã hộithành công Thực tiễn đã cho thấy sự lạc hậu của nhận thức lý luận về chủ nghĩa

xã hội không chỉ là sự lỗi thời của những hiểu sai, làm sai với lý luận của cácnhà kinh điển Mác-Lênin mà còn là lý luận không được vận dụng, bổ sung, pháttriển sáng tạo phù hợp yêu cầu của thực tiễn Do vậy, trong đổi mới phải nắmvững phương pháp luận khoa học của triết học Mác-Lênin như là một tiền đềquan trọng để đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội; giúp hiểu đúng quanniệm của các nhà kinh điển Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội, khắc phục nhữngsai lầm trong nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội; đòi hỏi chúng ta dám từ bỏ

cả những kết luận của chính mình nếu chúng không còn phù hợp, và phát triển

bổ sung lý luận trong tình hình mới, như chính C.Mác, Ph.Ăngghen vàV.I.Lênin, Hồ Chí Minh đã thực hiện Chính vì vậy, Đảng ta đã khẳng định "tiếnhành đổi mới xuất phát từ thực tiễn và cuộc sống của xã hội Việt Nam, thamkhảo kinh nghiệm tốt của thế giới, không sao chép bất cứ một mô hình có sẵnnào; đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để với những bước đi, hình thức và cáchlàm phù hợp"12 Cũng chính vì vậy mà Đại hội XIII của Đảng đã khẳng địnhquan điểm chỉ đạo thứ nhất đối với qúa trình tiếp tục đổi mới là “Kiên định và

11 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, NxbCTQGST, H.2021, tr.109.

12 Ðảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG - ST, H.,2001, tr.81.

19

Trang 20

vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổimới của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa”13.

C CÂU HỎI ÔN TẬP

1.Tính tất yếu của sự ra đời triết học Mác?

Câu hỏi thảo luận: Vai trò của triết học Mác-Lênin đối với sự nghiệp đổi

mới ở Việt Nam?

D TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị, NxbLLCT, 2014

2 GS,TS Trần Văn Phòng, PGS,TS Đặng Quang Định: Triết học Mác- Lênin - Hỏi và đáp, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội 2017.

3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XIII,

NxbCTQGST; H.2021; tập 1

13 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập1, NxbCTQGST, H;2021; tr.109.

Trang 21

Băi 2 CHỦ NGHĨA DUY VẬT MÂCXÍT - THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC CHO

NHẬN THỨC VĂ CẢI TẠO HIỆN THỰC

A MỤC TIÍU

1.Về kiến thức

Cung cấp cho người học kiến thức cơ bản về chủ nghĩa duy vật mâc-xítvới tư câch lă thế giới quan khoa học cơ sở cho hoạt động nhận thức vă thực tiễncủa cân bộ, đảng viín

B NỘI DUNG

1.QUAN ĐIỂM DUY VẬT MÂC-XÍT VỀ VẬT CHẤT

1.1 Quan niệm của câc nhă duy vật trước mâc về vật chất

Quan niệm của chủ nghĩa duy vật cổ đại về vật chất

Văo thời cổ đại ở Hy Lạp, câc nhă triết học duy vật đê đồng nhất vật chấtnói chung với những dạng cụ thể của nó Talĩt coi thực thể của thế giới lă nước.Anaximen coi thực thể đó lă không khí Với Híraclít thực thể đó lă lửa, còn vớiĂmpíđôlơ thì thực thể đó bao gồm cả bốn yếu tố: đất, nước, lửa vă không khí.Anaximanđrơ cho rằng, thực thể của thế giới lă một bản nguyín không xâc định

về mặt chất vă vô tận về mặt lượng Bản nguyín năy không thể quan sât được vẵng gọi nó lă apđyrôn Sự tương tâc giữa câc mặt đối lập vốn có trong apđyrôntạo nín toăn bộ thế giới Lơxíp vă Đímôcrít thì cho rằng, thực thể của thế giới lănguyín tử Đó lă câc phần tử cực kỳ nhỏ, cứng, tuyệt đối không thđm nhậpđược, không quan sât được… vă nói chung lă không cảm giâc được Nguyín tử

Trang 22

chỉ có thể được nhận biết nhờ tư duy Đêmôcrít hình dung nguyên tử có nhiềuloại: có loại góc cạnh, xấu xí; có loại cong, nhẵn; có loại tròn, hình cầu… Sự kếthợp hoặc tách rời nguyên tử theo các trật tự khác nhau của không gian sẽ tạo nêntoàn bộ thế giới.

Nhìn chung, những quan điểm trên tuy còn thô sơ, mang tính trực quan,cảm tính, họ đồng nhất vật chất nói chung với những vật thể hữu hình, cảm tínhđang tồn tại ở thế giới bên ngoài, nhưng có ưu điểm căn bản là vật chất được coi

là cơ sở đầu tiên của mọi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Điều nàyđối lập với quan điểm duy tâm tôn giáo coi cơ sở đầu tiên của thế giới là tinhthần, ý thức Học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít là một bước phát triển mới trêncon đường hình thành phạm trù vật chất trong triết học, tạo cơ sở triết học mớicho nhận thức khoa học sau này

Quan niệm của chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII - XVIII về vật chất.

Kế thừa nguyên tử luận cổ đại, các nhà duy vật thời cận đại tiếp tục coinguyên tử là những phần tử vật chất nhỏ nhất, không phân chia được, vẫn táchrời chúng một cách siêu hình với vận động không gian và thời gian Họ chưathấy được vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất Các nhà triết học của thời

kỳ này còn đồng nhất vật chất với một thuộc tính nào đó của vật chất như đồngnhất vật chất với khối lượng, năng lượng, v.v

1.2 Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi xuất hiện những phát minh mới trongkhoa học tự nhiên, con người mới có được những hiểu biết căn bản hơn và sâusắc hơn về nguyên tử Những phát minh tiêu biểu mang ý nghĩa vạch thời đạinhư: Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X, một loại sóng điện tử có bước sóng

từ 0,01 đến 100.10-8cm Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ.Với hiện tượng này, người ta hiểu rằng, quan niệm về sự bất biến của nguyên tử

là không chính xác Năm 1897, J.Tômxơn phát hiện ra điện tử và chứng minhđược điện tử là một trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử Nhờ phátminh này, lần đầu tiên trong khoa học, sự tồn tại hiện thực của nguyên tử đã

Trang 23

được chứng minh bằng thực nghiệm Năm 1901, W.Kaufman đã chứng minhđược khối lượng của điện tử không phải là khối lượng tĩnh mà là khối lượngđiện tử tăng khi vận tốc của nó tăng Như vậy, từ những phát minh trên mâuthuẫn với quan niệm quy vật chất về nguyên tử hay khối lượng Chủ nghĩa duytâm đã lợi dụng tình hình này và cho rằng: nếu nguyên tử bị phá vỡ thì tức là vậtchất đã tiêu tan, và chủ nghĩa duy vật dựa trên nền tảng là vật chất cũng khôngthể đứng vững được nữa.

Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”(năm 1908), V.I.Lênin đã phân tích tình hình phức tạp ấy và chỉ rõ những

phát minh có giá trị to lớn của vật lý học cận đại không hề bác bỏ chủ nghĩa duyvật Không phải “vật chất tiêu tan” mà chỉ có giới hạn hiểu biết cũ của conngười về vật chất là tiêu tan Nghĩa là cái mất đi không phải là vật chất mà làgiới hạn của sự nhận thức cũ về vật chất

Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc và khái quát những thành tựu củakhoa học tự nhiên Đồng thời kế thừa những tư tưởng của C.Mác và Ph

Ăngghen, trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, V.I Lênin đã đưa ra một định nghĩa toàn diện và khoa học về phạm trù vật

chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đượcđem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”14

Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin

Về phương pháp định nghĩa Theo V.I Lênin, không thể định nghĩa vậtchất bằng phương pháp định nghĩa các khái niệm thông thường Phương phápđịnh nghĩa thông thường là quy khái niệm cần định nghĩa vào một khái niệmkhác rộng hơn, đồng thời chỉ ra đặc điểm riêng của nó Nhưng phạm trù vật chấtvới tư cách là phạm trù triết học - một phạm trù khái quát nhất và rộng cùng cực,không thể có một phạm trù nào rộng hơn, thì duy nhất về mặt phương pháp luận

chỉ có thể định nghĩa vật chất bằng cách đối lập nó với ý thức, xác định nó “là cái mà khi tác động lên giác quan của chúng ta thì gây ra cảm giác” V.I.Lênin

14 V.I.Lênin (1980), Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, t.18, tr.151.

Trang 24

khẳng định vật chất không có nghĩa gì khác hơn là “thực tại khách quan tồn tại độc lập đối với ý thức con người, và được ý thức con người phản ánh”.

Nội dung định nghĩa vật chất của V.I.Lênin

Một là, vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan.

Khi nói vật chất là một phạm trù triết học - nó là sự trừu tượng hóa Song, sựtrừu tượng này lại chỉ rõ cái đặc trưng nhất, bản chất nhất mà bất kỳ mọi sự vật

hiện tượng vật chất cụ thể nào cũng có đó là: tồn tại khách quan và độc lập với ý thức của con người Đặc tính này là tiêu chuẩn cơ bản duy nhất để phân biệt cái

gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất

Hai là, vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được

đem lại cho con người ta trong cảm giác, , và tồn tại không lệ thuộc vào cảmgiác Với nội dung này, V.I Lênin muốn chỉ rõ thực tại khách quan (tức vật chất)

là cái có trước ý thức, không phụ thuộc vào ý thức, còn cảm giác (tức ý thức)của con người có sau vật chất, phụ thuộc vào vật chất Vật chất là nội dung, lànguồn gốc khách quan của ý thức, là nguyên nhân phát sinh ra ý thức, không cócái bị phản ánh là vật chất thì sẽ không có cái phản ánh là ý thức

Ba là, thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,

phản ánh, nghĩa là con người bằng các giác quan có thể nhận thức được vật chất.Điều này cũng có nghĩa là cảm giác, ý thức của con người có thể nhận thức đượcthực tại khách quan, được vật chất Vì vậy, về nguyên tắc, không có đối tượngnào không thể nhận biết được, chỉ có đối tượng chưa nhận thức được mà thôi

Ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I.Lênin

Định nghĩa về vật chất của V.I Lênin đã khắc phục triệt để sai lầm cơ bảncủa chủ nghĩa duy vật trước Mác quy vật chất vào một dạng cụ thể và đã đưahọc thuyết duy vật tiến lên một bước mới, đáp ứng được những đòi hỏi mới donhững phát minh mới của khoa học tự nhiên tạo ra Đây cũng là cơ sở khoa học

để nhận thức vật chất dưới dạng xã hội, đó là những quan hệ sản xuất, tổng hợpcác quan hệ sản xuất là cơ sở hạ tầng, tạo thành quan hệ vật chất, và từ đây làmnảy sinh quan hệ tư tưởng, đó là kiến trúc thượng tầng… điều mà các nhà duyvật trước C.Mác cũng chưa đạt tới

Trang 25

Định nghĩa của V.I Lênin giúp cho các nhà khoa học có cơ sở lý luận đểgiải thích những nguyên nhân cuối cùng của các biến cố xã hội, những nguyênnhân thuộc về sự vận động của phương thức sản xuất; trên cơ sở đó, người ta cóthể tìm ra phương án tối ưu để hoạt động thúc đẩy xã hội phát triển.

Nội dung “dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người

ta trong cảm giác và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” chống lại mọi luậnđiệu sai lầm của cả chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủquan - cố luận giải tinh thần là cái quyết định mọi sự vật hiện tượng trong thếgiới xung quanh

Nội dung thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép lại, chụplại, phản ánh đã bác bỏ hoàn toàn thuyết không thể biết Đồng thời cổ vũ độngviên các nhà khoa học đi sâu vào nghiên cứu thế giới vật chất, phát hiện ranhững kết cấu mới, những thuộc tính mới cũng như những quy luật vận động vàphát triển của thế giới để làm giàu thêm kho tàng tri thức của nhân loại

2.QUAN ĐIỂM DUY VẬT MÁC-XÍT VỀ Ý THỨC

ánh của bộ óc người Phản ánh là thuộc tính chung của mọi dạng vật chất Đó

là năng lực giữ lại và tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của

hệ thống vật chất khác, khi hai hệ thống vật chất đó tác động lẫn nhau Cùng

với sự phát triển của thế giới vật chất, thuộc tính phản ánh của nó cũng pháttriển từ thấp lên cao (phản ánh cơ học, phản ánh vật lý, phản ánh hóa học, phảnánh sinh vật với các hình thức như kích thích, cảm ứng; phản ánh tâm lý độngvật; phản ánh ý thức của con người) Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chấtsống có tổ chức cao là bộ óc người (có khoảng 14 tỷ-16 tỷ tế bào thần kinh).Chính bộ óc người và sự tác động của thế giới khách quan lên bộ óc người lànguồn gốc tự

Trang 26

nhiên của ý thức Như vậy, không có bộ óc người và không có sự tác động củathế giới khách quan vào bộ óc người thì cũng không thể có ý thức.

Nguồn gốc xã hội

Nguồn gốc xã hội của ý thức thể hiện ở chỗ phải có lao động và cùng vớilao động là ngôn ngữ thì mới có ý thức được Chính lao động đã góp phầnchuyển biến từ vượn người thành người; giúp bộ óc phát triển, làm nảy sinhngôn ngữ Trên cơ sở đó thúc đẩy tư duy trừu tượng, phản ánh ý thức phát triển.Như vậy, lao động và ngôn ngữ là hai nguồn gốc xã hội trực tiếp quyết định sự

ra đời của ý thức con người

2.2 Bản chất của ý thức

Về bản chất, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan “Ý thức(das Bewuβstsein) không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ýthức (das bewuβt) và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực củacon người”15 Nghĩa là, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óccon người Ý thức là hình ảnh của sự vật được thực hiện ở trong bộ óc người.Nhưng đây là sự phản ánh năng động, sáng tạo Điều này thể hiện ở chỗ: Phảnánh của ý thức là phản ánh có chọn lọc, phản ánh những cái cơ bản nhất mà conngười quan tâm; phản ánh của ý thức là phản ánh không nguyên xi, mà còn đượccải biến ở trong bộ óc người; phản ánh của ý thức có thể là phản ánh vượt trướchiện thực, có thể dự báo được xu hướng biến đổi của hiện thực, thực tiễn

Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà là một hiệntượng xã hội Ý thức bắt nguồn từ thực tiễn - lịch sử xã hội, phản ánh nhữngquan hệ xã hội khách quan Hơn nữa, ý thức là ý thức của con người, nhưng conngười là con người hiện thực của một xã hội lịch sử cụ thể Con người sốngngoài xã hội, không giao lưu, giao tiếp với người khác, không tham gia hoạtđộng nhận thức và hioatj động thực tiễn sẽ không có ý thức Do vậy, ý thức củacon người luôn mang bản chất xã hội

3. QUAN ĐIỂM DUY VẬT MÁC-XÍT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬTCHẤT VÀ Ý THỨC

15 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, NxbCTQG ST, H.1995, tập 3, tr.37.

Trang 27

3.1 Vật chất quyết định ý thức

Vật chất và ý thức liên hệ mật thiết với nhau, có vật chất không có ý thức,nhưng không có ý thức tách rời vật chất Nhưng xét đến cùng thì vật chất quyếtđịnh ý thức, điều này thể hiện trên các khía cạnh chủ yếu sau:

Thứ nhất, vật chất “sinh” ra ý thức vì ý thức là một thuộc tính của một

dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc của con người Nếu không có bộ óc conngười và sự tác động của thế giới khách quan vào bộ óc người thì không thể có ýthức

Thứ hai, vật chất quy định nội dung của ý thức, bởi lẽ ý thức dưới bất kỳ

hình thức nào, suy cho cùng đều là sự phản ánh vật chất Nội dung phản ánh này

do vật chất quyết định Trong đời sống xã hội được biểu hiện ở chỗ chính trịphản ánh kinh tế, đời sống tinh thần phản ánh đời sống vật chất, ý thức xã hộiphản ánh tồn tại xã hội

Thứ ba, mọi sự tồn tại, phát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình

biến đổi, phát triển của vật chất; vật chất thay đổi thì sớm hay muộn, ý thứccũng phải thay đổi theo

Thứ tư, vai trò của vật chất đối với ý thức trong đời sống xã hội được biểu

hiện ở vai trò của kinh tế đối với chính trị, vật chất đối với tinh thần, tồn tại xãhội đối với ý thức xã hội Trong xã hội, sự phát triển của kinh tế xét đến cùngquy định sự phát triển của chính trị, tinh thần, ý thức xã hội; đời sống vật chấtthay đổi thì sớm hay muộn, nhanh hay chậm, ít hay nhiều mặt tinh thần, ý thứccủa đời sống cũng thay đổi theo

3.2 Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất

Một là, do có tính độc lập tương đối so với vật chất nên ý thức có thể

phản ánh, thay đổi nhanh hơn hoặc chậm hơn so với sự thay đổi của vật chất

Hai là, ý thức tự nó không có vai trò gì với vật chất, nhưng thông qua

hoạt động thực tiễn của con người, ý thức có thể góp phần làm biến đổi điềukiện, hoàn cảnh vật chất, “sáng tạo ra thiên nhiên thứ hai” Một trong nhữngnguyên nhân là do bản chất của ý thức là năng động, sáng tạo Chính bản chất

Trang 28

năng động, sáng tạo làm cho ý thức có thể giúp con người phản ánh đúng bảnchất hiện thực, khám phá, cải tạo được hiện thực phục vụ cho mình.

Ba là, ý thức chỉ đạo hoạt động, hành động của con người bằng cách hình

thành nên mục tiêu, kế hoạch, biện pháp, phương thức hoạt động thực tiễn đúng,sai, thành công, thất bại

Bốn là, xã hội càng phát triển, vai trò sáng tạo của ý thức ngày càng lớn.

Đặc biệt, trong nền kinh tế tri thức Tuy nhiên, mọi ý thức đều bị giới hạn bởiđiều kiện vật chất, hoàn cảnh vật chất, nguồn lực vật chất… Nói khác đi, xét đếncùng ý thức vẫn do vật chất quyết định

Năm là, ý thức tác động trở lại vật chất theo hai chiều hướng cơ bản: tích

cực hoặc tiêu cực Xu hướng tác động, phạm vi, mức độ tác động của ý thức đốivới vật chất phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, chẳng hạn như tính khoa học haykhông khoa học của bản thân ý thức; trình độ nhận thức của con người; khảnăng vận dụng ý thức của các chủ thể vào hoạt động thực tiễn,v.v

3.3 Ý nghĩa của quan điểm duy vật mácxít về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong nhận thức và cải tạo hiện thực

Từ mối quan hệ vất chất và ý thức rút ra quan điểm khách quan Quan điểm khách quan yêu cầu: Một là, trong nhận thức phải nhận thức sự vật vốn

như nó có, không “tô hồng, không bôi đen” sự vật, hiện tượng “Tô hồng, bôiđen” trong nhận nhận thức đều là phản ánh không đúng sự vật, từ phản ánhkhông đúng này sẽ dẫn tới sai lầm trong hành động

Hai là, trong hoạt động thực tiễn luôn luôn phải xuất phát từ thực tế khách

quan, tôn trọng quy luật khách quan và hành động theo quy luật khách quan.Chúng ta không thể lấy mong muốn chủ quan thay cho thực tế khách quan,không thể hành động không đúng quy luật khách quan Vì như vậy sẽ phải trảgiá

Ba là, không được lấy chủ quan áp đặt cho hiện thực khách quan Nhận

thức, cải tạo sự vật, hiện tượng phải xuất từ chính bản thân sự vật, hiện tượng đóvới những thuộc tính, mối liên hệ bên trong vốn có của nó

Trang 29

Bốn là, quan điểm khách quan cũng yêu cầu trong hoạt động thực tiễn

phải biết phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, tinh thần trong cải tạo thếgiới Chủ động phát huy sức mạnh của tri thức trong nền kinh tế tri thức và nângcao đời sống tinh thần của nhân dân

Ý nghĩa của quan điểm khách quan

Một là, chống bệnh chủ quan duy ý chí Thực chất của bệnh chủ quan duy

ý chí là biểu hiện cực đoan của chủ nghĩa duy tâm chủ quan, tuyệt đối hóa ý chí,quyết tâm, coi nhẹ tri thức và điều kiện vật chất

Hai là, chống chủ nghĩa duy vật tầm thường, chống chủ nghĩa khách quan

- thường không thấy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ý thức của từng cánhân người nói riêng và của loài người nói chung Tức là trông chờ, thụ động, ỷlại điều kiện vật chất khách quan, không cố gắng, tích cực vượt khó vươn lên.Chính vì vậy, khi đề cập đột phá về nguồn nhân lực, Đại hội XIII của Đảng đãnhấn mạnh phải “đổi mới sáng tạo gắn với khơi dậy khát vọng phát triển đấtnước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự cường và phát huy giá trị văn hóa, con ngườiViệt Nam”16

3.4 Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với đội ngũ cán

bộ lãnh đạo, quản lý

Thế giới quan duy vật biện chứng giúp người cán bộ lãnh đạo, quản lý cótầm nhìn xa, trông rộng, bao quát, thấy được cái lâu dài, tổng thể, chiến lược,cuối cùng, không sa vào những cái vụn vặt, nhỏ nhặt, trước mắt

Thế giới quan duy vật biện chứng củng cố cho cán bộ lãnh đạo, quản lý

cơ sở niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Thế giới quan duy vật biện chứng giúp người cán bộ lãnh đạo, quản lý cócăn cứ khoa học, có niềm tin sâu sắc, có phương pháp luận khoa học hiện thựchóa được đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào lĩnh vực

mà mình phụ trách một cách khách quan và sáng tạo trên cơ sở khoa học, thựctiễn

16 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XIII, NxbCTQGST,H.2021,tập 1, tr.220.

Trang 30

Thế giới quan duy vật biện chứng giúp người cán bộ lãnh đạo, quản lý cócái nhìn khách quan, khoa học, biện chứng về tự nhiên, lịch sử, xã hội, tư duycủa con người, trên cơ sở đó có căn cứ khoa học để xác định mục tiêu, nhiệm

vụ, con đường, biện pháp, cách thức thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý đượcgiao phó

Thế giới quan duy vật biện chứng giúp người cán bộ lãnh đạo, quản lý cónhân sinh quan tích cực, trên cơ sở đó có căn cứ, niềm tin xây dựng, rèn luyệnđạo đức cách mạng của mình Có thể nói, thế giới quan duy vật biện chứng giúpngười cán bộ lãnh đạo, quản lý rèn luyện đạo đức cá nhân, nâng cao trình độ trithức, sự hiểu biết; trau dồi kỹ năng, phương pháp lãnh đạo, quản lý góp phầnhoàn thành nhiệm vụ được giao

C CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Phân tích định nghĩa vật chất của V.I Lênin?

2 Quan điểm của triết học Mác-Lênin về quan hệ giữa vật chất và ý thức?

Câu hỏi thảo luận: Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng đối với

đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam?

D TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị, NxbLLCT, 2014

2.GS, TS Trần Văn Phòng, PGS, TS Đặng Quang Định: Triết học Lênin - Hỏi và đáp, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội 2017.

Mác-3.Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XIII,NxbCTQGST,H.2021,tập 1

Trang 31

Bài 3 HAI NGUYÊN LÝ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

A MỤC TIÊU

1.Về kiến thức

Cung cấp cho người học kiến thức cơ bản về hai nguyên lý của phép biệnchứng duy vật, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thứckhoa học và hoạt động cải tạo xã hội

2 Về kỹ năng

Biết vận dụng kiến thức đã học để rèn luyện phương pháp tư duy biệnchứng, hạn chế được tư duy siêu hình trong nhận thức khoa học và trong hoạtđộng lãnh đạo, quản lý

3 Về tư tưởng

Củng cố niềm tin khoa học vào phép biện chứng duy vật mácxít nóichung, hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật nói riêng

B NỘI DUNG

1.NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN

1.1 Khái niệm liên hệ phổ biến

Những người theo chủ nghĩa duy tâm đi tìm cơ sở của sự liên hệ giữa các

sự vật, hiện tượng ở các lực lượng siêu nhiên hay ở trong ý thức con người,nghĩa là ở ngoài các sự vật, hiện tượng Cái mà Béccơli gọi là “phức hợp cảmgiác”, Makhơ gọi là “yếu tố cảm giác” hay Hêghen gọi là “ý niệm tuyệt đối”,v.v

Những người theo quan điểm siêu hình cho rằng, các sự vật, hiện tượng,quá trình tồn tại một cách độc lập, tách rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, giữachúng không có liên hệ gì với nhau và nếu có, thì đó cũng chỉ là liên hệ bênngoài, ngẫu nhiên Phương pháp tư duy này - như Ph.Ăngghen nói - chỉ thấynhững sự vật cá biệt mà không thấy mối liên hệ giữa những sự vật ấy Chủ nghĩaduy vật mácxít cho rằng giữa các sự vật, hiện tượng luôn có mối liên hệ tácđộng, ảnh hưởng, chi phối, v.v lẫn nhau Các sự vật, hiện tượng cấu thành thế

Trang 32

giới vừa tồn tại một cách tách biệt, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập vàchuyển hóa lẫn nhau.

Liên hệ là khái niệm chỉ sự phụ thuộc, sự ảnh hưởng, sự tương tác và

chuyển hoá, v.v lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới hay giữa cácmặt, các yếu tố, các thuộc tính của một sự vật, hiện tượng, một quá trình

Liên hệ phổ biến là khái niệm nói lên rằng mọi sự vật, hiện tượng trong

thế giới (cả tự nhiên, xã hội và tư duy) dù đa dạng phong phú, nhưng đều nằmtrong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác Cơ sở của mối liên hệ này làtính thống nhất vật chất của thế giới

1.2 Nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Một là, mối liên hệ là khách quan và phổ biến Mọi sự vật, hiện tượng đều

tồn tại trong mối liên hệ với những sự vật, hiện tượng khác, hơn nữa không chỉtồn tại trong một, hoặc vài mối liên hệ, mà tồn tại trong vô vàn mối liên hệ Đây

là mối liên hệ của bản thân sự vật, hiện tượng Mối liên hệ phổ biến, nghĩa làmối liên hệ này tồn tại cả trong tự nhiên, cả trong xã hội, cả trong tư duy, tồn tạitrong mọi lúc, mọi nơi

Hai là, bản chất của sự vật được hình thành, biến đổi và bộc lộ thông qua

mối liên hệ Dưới góc độ bản thể luận, nội dung này khẳng định bản chất của sựvật hình thành, biến đổi không chỉ do bản thân sự vật quy định mà còn phụthuộc vào mối liên hệ phổ biến trong đó sự vật tồn tại Cùng là một sự vậtnhưng tồn tại trong những mối liên hệ khác nhau có những biểu hiện về bản chấtkhác nhau

Dưới góc độ nhận thức luận nội dung này chỉ ra rằng, bản chất của sự vậtchỉ bộc lộ thông qua mối liên hệ phổ biến Bản chất của sự vật - như chúng ta đãbiết - là cái bên trong, là cái mà con người không thể cảm nhận được một cáchtrực tiếp thông qua các giác quan Trong quá trình tồn tại và phát triển của sựvật, tùy theo những điều kiện khách quan, những mối liên hệ (tác động vớinhững sự vật khác, môi trường, hoàn cảnh…) mà bản chất của sự vật mới bộc lộ

ra hiện tượng này, hay hiện tượng khác Con người nhận thức được bản chất của

Trang 33

sự vật thông qua những hiện tượng, thông qua khái quát hóa, trừu tượng hóa từnhững hiện tượng mà bản chất bộc lộ ra ngoài.

Ba là, mối liên hệ đa dạng, phong phú Có mối liên hệ bên trong, bên

ngoài; có mối liên hệ tất nhiên và ngẫu nhiên; có mối liên hệ cơ bản và không cơbản, có mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu, có mối liên hệ bản chất và không bảnchất, v.v Dĩ nhiên, sự phân loại các mối liên hệ chỉ có ý nghĩa tương đối Cácmối liên hệ khác nhau trong những điều kiện cụ thể khác nhau có thể chuyểnhóa lẫn nhau

Các mối liên hệ khác nhau có vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại,vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng Chẳng hạn, mối liên hệ bên trongbao giờ cũng giữ vai trò quyết định, còn mối liên hệ bên ngoài không có ý nghĩaquyết định và nó phải thông qua mối liên hệ bên trong mới phát huy tác dụngđối với sự vật, hiện tượng

Như vậy, sự liên hệ, tác động qua lại của các sự vật, hiện tượng là vôcùng, vô tận, rất đa dạng, phong phú và phức tạp Đặc biệt trọng lĩnh vực đờisống xã hội, tính phức tạp của mối liên hệ được nhân lên do sự đan xen, chồngchéo, chằng chịt của vô vàn các hoạt động có mục đích, có ý thức của conngười Chính vì vậy, nhận thức và phân loại đúng đắn các mối liên hệ trong xãhội khó khăn hơn nhiều so với trong giới tự nhiên

1.3 Ý nghĩa phương pháp luận

Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến triết học duy vật mácxít rút ra quan điểm toàn diện Quan điểm toàn diện yêu cầu:

Một là, để có được nhận thức đúng đắn về sự vật, hiện tượng cần phải

xem xét nó trong sự liên hệ, tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật kháccũng như giữa các bộ phận, yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật

đó Tức là phải đặt sự vật trong mối liên hệ cụ thể mà xem xét và giải quyết.Đồng thời, phải tính tới tổng hòa các mối quan hệ của sự vật

Hai là, từ tổng số mối liên hệ phải phân biệt, đánh giá được vị trí, vai trò

của từng mối liên hệ, rút ra mối liên hệ bản chất, cơ bản, tất yếu Và từ mối liên

hệ bản chất, tất yếu phải xem xét với mối liên hệ khác

Trang 34

Ba là, xem xét sự vật trong tính chỉnh thể của nó và giải quyết sự vật phải

đảm bảo tính đồng bộ, tính hệ thống Có như vậy trong nhận thức cũng nhưtrong hoạt động thực tiễn chúng ta mới có thể tránh được những sai lầm

Ý nghĩa của quan điểm toàn diện:

Quan điểm toàn diện góp phần khắc phục bệnh phiến diện: Xem xét mộtmặt, một khía cạnh của sự vật, hiện tượng rồi rút ra kết luận về bản chất của sựvật, hiện tượng đó Hoặc tuyệt đối hóa một mặt nào đó của sự vật, hiện tượng.Tránh chủ nghĩa chiết trung, tuy cũng tỏ ra chú ý tới nhiều mối liên hệ khácnhau, nhưng lại kết hợp chúng một cách vô nguyên tắc vào làm một Tránh thuậtngụy biện tuy cũng thừa nhận sự tồn tại của các mối liên hệ khác nhau của sựvật, nhưng lại đánh tráo một cách có chủ đích vị trí, vai trò của các mối liên hệ.Không phải ngẫu nhiên mà Đại hội XIII của Đảng khẳng định “Tiếp tục pháttriển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ cácnhiệm vụ, trong đó, phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng làthen chốt”17 Hay, tinh thần “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triểnnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,”18

2.NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN

2.1 Khái niệm phát triển

Những người theo quan điểm duy tâm đi tìm nguồn gốc phát triển của sựvật, hiện tượng ở các lực lượng “siêu nhiên” hay ở ý thức của con người, nghĩa

là ở bên ngoài sự vật, hiện tượng Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là

sự tăng lên hay sự giảm đi đơn thuần về mặt lượng, không có sự thay đổi gì vềmặt chất của sự vật; hoặc nếu có sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấycũng chỉ diễn ra theo một vòng khép kín, chứ không có sự sinh thành ra cái mớivới những chất mới; phát triển như là một quá trình tiến lên liên tục, không cónhững bước quanh co, thăng trầm, phức tạp, v.v Đối lập với quan điểm siêuhình, quan điểm biện chứng duy vật xem xét sự phát triển là một quá trình tiếnlên từ thấp đến cao Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa tới sự

17 Đảng Cộng sản Việt Nam: văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XIII, NxbCTQG,ST,H.2021, tập 1, tr.110.

18 Đảng Cộng sản Việt Nam: văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XIII, NxbCTQG,ST,H.2021, tập 1, tr.115.

Trang 35

ra đời của cái mới thay thế cái cũ Dù trong hiện thực khách quan hay trong tưduy, sự phát triển diễn ra không phải lúc nào cũng theo đường thẳng, mà rấtquanh co, phức tạp, thậm chí có thể có những bước lùi tạm thời.

Phát triển là sự vận động từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Phát triển là một trường hợp đặc biệt của vận động, vận động theo

hướng tiến lên Phát triển không bao quát toàn bộ sự vận động nói chung Nó chỉkhái quát xu hướng chung của sự vận động - xu hướng vận động đi lên của sựvật, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ Trong quá trình phát triển của mìnhtrong sự vật sẽ hình thành dần dần những quy định mới cao hơn về chất, sẽ làmthay đổi mối liên hệ, cơ cấu, phương thức tồn tại và vận động, chức năng vốn cótheo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn

Phát triển theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng là kết quả củaquá trình thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; là sự thay đổi dần dần vềlượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại; là quá trình ít nhất qua hai lầnphủ định biện chứng sự vật kết thúc một chu kỳ phát triển, dường như quay trởlại sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn, nghĩa là theo đường xoáy ốc đi lên

2.2 Tính chất của sự phát triển

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phát triển có ba tínhchất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú

Tính khách quan Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân

sự vật Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồntại và vận động của sự vật, nhờ đó sự vật luôn phát triển Vì thế sự phát triển làtiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con người

Tính phổ biến Nghĩa là phát triển được diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên,

xã hội và tư duy; ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan Ngay

cả các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm trong quá trình vậnđộng và phát triển; chỉ trên cơ sở của sự phát triển, mọi hình thức của tư duy,nhất là các khái niệm và các phạm trù, mới có thể phản ánh đúng đắn hiện thực

Tính đa dạng, phong phú Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự

vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng lại có quá trình phát triển

Trang 36

không giống nhau.Tồn tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau, sự vậtphát triển sẽ khác nhau Đồng thời trong quá trình phát triển của mình, sự vậtcòn chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác, của rất nhiều yếu tố, điềukiện Sự tác động đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật, đôikhi có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí làm cho sựvật tạm thời thụt lùi Do đó, dù trong hiện thực khách quan hay trong tư duy, sựphát triển diễn ra không phải lúc nào cũng theo đường thẳng, mà rất quanh co,phức tạp, thậm chí có thể có những bước lùi tạm thời.

2.3 Nội dung của nguyên lý

Một là, phát triển là khuynh hướng phổ biến “Phổ biến” ở đây trước hết

được hiểu là phát triển là khuynh hướng có trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xãhội và tư duy Trong hiện thực khách quan, tùy thuộc vào hình thức tồn tại cụ thểcủa các dạng vật chất, sự phát triển được thể hiện hết sức đa dạng Ngoài ra,

“phổ biến” còn được hiểu như là khuynh hướng chủ đạo trong sự vận động Sựphát triển trong hiện thực, cũng như trong tư duy không phải theo đường thẳng

mà vận động theo đường quanh co, phức tạp, trong đó có thể có những bước lùitương đối, “những sự chệch hướng” nhất định, nhưng xu hướng tất yếu sẽ làkhuynh hướng phát triển

Hai là, phát triển là một quá trình “tự thân” Nguồn gốc của sự phát triển

nằm ngay trong sự vật, đó là sự thống nhất và đấu tranh của những mặt đối lậpbên trong của sự vật Phương thức của sự phát triển là từ sự biến đổi về lượngdẫn đến sự biến đổi về chất và ngược lại Khuynh hướng của sự phát triển là cáimới phủ định một cách biện chứng cái cũ theo đường xoáy ốc đi lên Như vậy,phát triển là quá trình “tự thân”, khách quan, độc lập với ý thức của con người

2.4 Ý nghĩa phương pháp luận

Cả tự nhiên, xã hội và tư duy đều nằm trong quá trình phát triển khôngngừng, để phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, cần có quan điểm pháttriển Quan điểm phát triển yêu cầu khi xem xét các sự vật, hiện tượng phải đặt

nó trong sự vận động, phát triển, phải phát hiện ra các xu hướng biến đổi, pháttriển của chúng Không phải ngẫu nhiên mà Đại hội XIII của Đảng đề ra nhiệm

Trang 37

vụ “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chếphát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường…,”19.

Quan điểm phát triển đòi hỏi chống bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới, yêu cầuphải tin tưởng tương lai khi có khó khăn thất bại tạm thời vì quy luật chung làphát triển đi lên Trong hoạt động thực tiễn phải có tầm nhìn chiến lược, dự báođược các tình huống có thể xảy ra để có các phương án dự phòng tối ưu

Quan điểm phát triển có ý nghĩa: Với tư cách là nguyên tắc phương pháp

luận để nhận thức sự vật hoàn toàn đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, địnhkiến về sự vật

Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần khắc phục quan niệm giảnđơn, siêu hình về sự phát triển Khắc phục tình trạng né tránh mâu thuẫn, giảiquyết mâu thuẫn một cách siêu hình; không dám chấp nhận “bước lùi” để có sựphát triển; thiếu kiên quyết, thiếu triệt để (nửa vời) trong đổi mới, hoặc phủ địnhsạch trơn, hoặc kế thừa nguyên xi cái cũ trong phát triển

C CÂU HỎI ÔN TẬP

1.Trình bày nguyên lý về mối liên hệ phổ biến ?

2.Trình bày nguyên lý về sự phát triển?

Câu hỏi thảo luận: Cơ sở lý luận, yêu cầu của nguyên tắc toàn diện và

nguyên tắc phát triển?

D TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị, NxbLLCT, 2014

2.GS,TSTrần Văn Phòng, PGS,TS Đặng Quang Định: Triết học Lênin - Hỏi và đáp, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội 2017.

Mác-3.Đảng Cộng sản Việt Nam: văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XIII,NxbCTQG,ST,H.2021, tập 1

19 Đảng Cộng sản Việt Nam: văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XIII, NxbCTQG,ST,H.2021, tập 1, tr.114.

Trang 38

Bài 4 CÁC CẶP PHẠM TRÙ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

A MỤC TIÊU

1.Về kiến thức

Cung cấp cho người học kiến thức cơ bản về sáu cặp phạm trù của phépbiện chứng duy vật, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận của từng cặpphạm trù trong nhận thức khoa học và hoạt động cải tạo xã hội

2 Về kỹ năng

Biết vận dụng kiến thức đã học để rèn luyện phương pháp tư duy biệnchứng, hạn chế được tư duy siêu hình trong nhận thức khoa học và trong hoạtđộng lãnh đạo, quản lý

Mỗi bộ môn khoa học đều có phạm trù riêng của mình Triết học cũng cóphạm trù như vật chất, ý thức, chất, lượng, mâu thuẫn, biện chứng,v.v

Phạm trù triết học là những khái niệm chung nhất phản ánh những mặt,những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến nhất không chỉ trongmột lĩnh vực nhất định mà của toàn thế giới hiện thực (tự nhiên, xã hội và tưduy) Phạm trù triết học khác phạm trù của các khoa học cụ thể khác ở chỗ, nómang tính quy định về thế giới quan và phương pháp luận Các phạm trù củaphép biện chứng duy vật có tính khách quan Mặc dù, phạm trù là kết quả của tưduy, song nội dung mà nó phản ánh là khách quan, do hiện thực khách quan mà

nó phản ánh quy định Nghĩa là phạm trù khách quan về nguồn gốc, về cơ sở,

Trang 39

nội dung Các phạm trù của phép biện chứng duy vật có tính biện chứng Điềunày thể hiện ở chỗ, nội dung mà phạm trù phản ánh luôn vận động, phát triển.Các phạm trù có thể thâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau Tính biện chứng của sựvật, hiện tượng mà phạm trù phản ánh quy định biện chứng của phạm trù Cácphạm trù của phép biện chứng duy vật là công cụ của nhận thức, đánh dấu trình

độ nhận thức của con người

Phạm trù phán ảnh thế giới hiện thực khách quan, mà bản thân thế giớikhách quan lại luôn trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng; mặt khác,

sự nhận thức của con người về thế giới đó cũng phát triển, ngày càng trở nên sâu

sắc hơn, cho nên các phạm trù phản ánh chúng cũng luôn vận động, phát triển.

2.CÁI RIÊNG, CÁI CHUNG VÀ CÁI ĐƠN NHẤT

2.1 Khái niệm

Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng,

một quá trình riêng lẻ nhất định tồn tại như một chỉnh thể tương đối độc lập với

cái riêng khác Ví dụ, một con người cụ thể, một ngôi nhà cụ thể Cái chung là

phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung không chỉ có

ở một sự vật, hiện tượng, kết cấu vật chất, mà còn được lặp đi lặp lại trong nhiều

sự vật, hiện tượng, kết cấu vật chất riêng lẻ khác

Ví dụ, thuộc tính chung của thủ đô là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoácủa cả một quốc gia, dân tộc Cái chung có thể là một đặc điểm, một thuộc tínhhoặc một bộ phận của những cái riêng Tùy thuộc vào tính bao quát của nó màngười ta phân thành cái phổ biến và cái đặc thù

Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những nét, những mặt,

những thuộc tính, v.v chỉ có ở một sự vật, một hiện tượng, một kết cấu vật chấtnhất định mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng hay kết cấu vật chất khác

2.2 Mối quan hệ biện chứng giữa cáí riêng và cái chung

Theo quan điểm của triết học Mác-Lênin, cái riêng và cái chung khôngthể tách rời nhau mà giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, được biểuhiện cụ thể:

Trang 40

Một là, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu

hiện sự tồn tại của mình Ví dụ, thuộc tính chung của thủ đô là trung tâm chínhtrị, kinh tế, văn hoá của cả một quốc gia, dân tộc chỉ tồn tại thông qua từng thủ

đô cụ thể như: thủ đô Hà Nội của Việt Nam, thủ đô Phnômpênh của Campuchia,thủ đô Viêngchăn của Lào, v.v

Hai là, cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung, không có cái

riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập, tách rời cái chung Giữa những cái riêng ấybao giờ cũng có những cái chung giống nhau Ví dụ, trong một lớp học, mỗi họcviên như một “cái riêng” nhưng giữa các học viên lại có những cái chung vềquốc tịch, về quê hương, về nghề nghiệp, về giới tính, v.v

Ba là, cái riêng là cái toàn bộ nên phong phú hơn cái chung - cái bộ phận,

hơn nữa, trong cái riêng còn có cái đơn nhất (những cái chỉ vốn có ở nó vàkhông được lặp lại ở bất cứ sự vật nào nữa) Cái chung là cái bộ phận nhưng sâusắc hơn cái riêng bởi cái chung là cái bộ phận nhưng là bộ phận mang tính quyluật, mang tính tất nhiên, mang tính bản chất của sự vật, hiện tượng Ví dụ, cáichung của thủ đô là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của một quốc gia, dântộc Nhưng từng thủ đô cụ thể còn có nhiều nét riêng khác về diện tích, dân số,

vị trí địa lý, truyền thống lịch sử, v.v

Bốn là, cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá

trình phát triển của sự vật Tức là trong những điều kiện nhất định, cái đơn nhất

có thể chuyển hóa thành cái chung, cái phổ biến và ngược lại Có tình hình đó là

do trong hiện thực, cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay một lúc, mà lúcđầu xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất, cái đặc thù Nhưng theo quy luật, cái mớinhất định sẽ phát triển mạnh lên, ngày càng trở nên hoàn thiện, tiến tới hoàntoàn chiến thắng cái cũ và trở thành cái chung Ngược lại, cái cũ ngày càng mất

đi và từ chỗ là cái chung nó dần trở thành cái đơn nhất

2.3 Ý nghĩa phương pháp luận

Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng nên để khái quát cái chung phảixuất phát từ những cái riêng, phân tích kỹ các sự vật, hiện tượng cụ thể chứkhông được lấy ý muốn chủ quan áp đặt Muốn tìm cái chung thì không được xa

Ngày đăng: 01/01/2022, 14:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w