1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tình huống về ly hôn và hệ quả pháp lý của việc ly hôn

20 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 109 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hôn nhân là sự liên kết suốt đời giữa vợ và chồng. Quan hệ hôn nhân tồn tại lâu dài và bền vững điều đó hoàn toàn phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của những người kết hôn.Tuy nhiên tính bền vừng của hôn nhân có thể có ngoại lệ. Trong cuộc sống vợ chồng có thể phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh chấp.

Trang 1

A.ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong thời buổi hiện nay, ly hôn không còn là một chuyện xa lạ Hàng năm

có rất nhiều trường hợp ly hôn diễn ra, kéo theo đó là hàng loạt hậu quả pháp lý

liên quan như về quan hệ vợ chồng khi ly hôn, quan hệ với con chung khi ly hôn

và đặc biệt là biệc phân chia tài sản tài sản của vợ chồng khi ly hôn Trong đó

có thể nói việc phân chia tài sản là một trong những nội dung quan trọng nhất

khi giải quyết ly hôn Vợ, chồng sau khi kết hôn, tài sản chung được hình thành,

các lợi ích và các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với khối tài sản này

cũng vì thế mà hình thành Thực tiễn xét xử cho thấy, phần lớn các tranh chấp

của vợ chồng đều có liên quan đến tài sản Bên cạnh đó, sự phức tạp trong việc

xác định tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng, quyền nuôi con và cùng những

hạn chế trong việc qui định về chế độ tài sản vợ chồng trong luật dân sự, luật

hôn nhân và gia đình Chính vì vậy, thông qua việc tìm hiểu về hậu quả pháp lý

khi ly hôn nhóm sẽ tiến tới giải quyết vấn đề, đưa và đưu ra cách giải quyết tình

huống theo đúng quy định của pháp luật một cách hợp tình hợp lý nhất

Trong quá trình tìm kiếm tài liệu và giải quyết tình huống không thể tránh

khỏi sai sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy, cô giáo để bài làm được

hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

B NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH HUỐNG

I Ly hôn giữa vợ và chồng

Hôn nhân là sự liên kết suốt đời giữa vợ và chồng Quan hệ hôn nhân tồn

tại lâu dài và bền vững điều đó hoàn toàn phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của

những người kết hôn.Tuy nhiên tính bền vừng của hôn nhân có thể có ngoại lệ

Trong cuộc sống vợ chồng có thể phát sinh nhiều mâu thuẫn, tranh chấp Khi

mâu thuẫn trở nên căng thăng, không thể hòa giải được, tồn tại cuộc sống chung

là hình thức thì vợ chồng có quyền chấm dứt hôn nhân bằng một sự kiện pháp

lý, đó là ly hôn Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng khi hai người còn

sống do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu hoặc hai bên vợ chồng thuận tình được

Tòa án công nhận thuận tình ly hôn

Khi ra quyết định ly hôn, Tòa án phải dựa trên những chuẩn mực mà pháp

luật đã quy định để có thể đánh giá thực chất mối quan hệ vợ chồng từ đó đưa

ra những quyết định đúng đắn nhằm một mặt phải đảm bảo lợi ích của vợ

chồng, mặt khác phải bảo đảm lợi ích của con cái, các thành viên gia đình và xã

hội Những chuẩn mực đó gọi là căn cứ ly hôn Pháp luật nước ta đã quy định

cụ thể về căn ly hôn tại các điều 55, 56 của luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Theo đó, Tòa án giải quyết ly hôn có thể dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng,

có thể dựa trên lỗi của vợ hoặc chồng, có thể do tình trạng hôn nhân Để giải

quyết tình huống trên, ở đây chúng em sẽ phân tích việc Tòa án giải quyết ly

hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng – thuận tình ly hôn

Thuận tình ly hôn là trường hợp cả vợ hoặc chồng cùng yêu cầu

chấm dứt hôn nhân được thể hiện bằng đơn thuận tình ly hôn của vợ

chồng

Theo Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong

trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự

Trang 3

dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ

và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được

hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con

thì Tòa án giải quyết việc ly hôn”.

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì trong trường hợp

hai vợ chồng có yêu cầu thuận tình ly hôn, sự tự nguyện của hai vợ chồng khi

yêu cầu chấm dứt hôn nhân là một căn cứ quyết định việc chấm dứt hôn nhân

Bảo đảm“thật sự tự nguyện ly hôn” là cả hai vợ chồng đều được tự do bày tỏ ý

chí của mình, không bị cưỡng ép, không bị lừa dối trong việc thuận tình ly hôn

Việc thể hiện ý chí thật sự tự nguyện ly hôn của hai vợ chồng đều phải xuất phát

từ trách nhiệm đối với gia đình họ, phù hợp với yêu cầu của pháp luật và chuẩn

mực, đạo đức xã hội

Cũng trong Điều 55, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trong việc

thuận tình ly hôn, ngoài ý chí thật sự tự nguyện xin thuận tình ly hôn của vợ

chồng, đòi hỏi hai vợ chồng còn phải có sự thoả thuận về việc chia tài sản, việc

trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi

chính đáng của vợ và con, nếu vợ chồng không thoả thuận được hoặc tuy có

thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con thì

Toà án quyết định giải quyết việc ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn thì Toà án vẫn phải

tiến hành hoà giải, mục đích là để vợ chồng rút đơn yêu cầu ly hôn và đoàn tụ

với nhau Việc cho ly hôn trong trường hợp thuận tình này đối với Tòa án là

không phải dễ, bởi vì khó có thể định lượng khi chỉ dựa trên yếu tố thỏa thuận

tự nguyện thật sự của hai vợ chồng nếu không xem xét đến các yếu tố tình trạng

mâu thuẫn vợ chồng đến đâu, mức độ ảnh hưởng đến cuộc sống hôn nhân đến

cấp độ nào và gắn với việc thỏa thuận của họ đến đâu về việc chăm sóc, nuôi

dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn Thực tế, nguyên nhân phát sinh tranh chấp

trong cuộc sống vợ chồng dẫn đến ly hôn hay thuận tình ly hôn cũng là do tình

Trang 4

cảm của vợ chồng bị rạn nứt, một trong hai bên đã không làm tròn nghĩa vụ của

mình với gia đình hay vì tự ái cá nhân hoặc hiểu lầm trong quan hệ của vợ hoặc

chồng mình nên đã quyết định yêu cầu Tòa án giải quyết cho họ được ly hôn

Nhưng khi có sự giải thích, phân tích đúng, sai trong quan hệ của họ của người

làm công tác hòa giải để khuyên họ nên bỏ qua những lầm lỗi, tha thứ cho nhau

để quay lại chung sống với nhau thì họ đã hiểu ra và quay lại đoàn tụ chung

sống với nhau và Tòa án cũng không phải giải quyết về các vấn đề kéo theo như

con và tài sản

Trong trường hợp Toà án hoà giải không thành thì Toà án lập biên bản về

việc tự nguyện ly hôn và hoà giải đoàn tụ không thành Trong thời hạn 15 ngày,

kể từ ngày lập biên bản nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự

thay đổi ý kiến cũng như Viện Kiểm sát không có phản đối sự thoả thuận đó, thì

Toà án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không phải mở phiên toà

khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

- Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn

- Hai bên đã thoả thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài

sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con

- Sự thỏa thuận của hai bên về tài sản và con trong từng trường hợp cụ thể

này là bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con

Quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay

Trong trường hợp hoà giải tại Toà án mà thiếu một trong các điều kiện về

thuận tình, Toà án lập biên bản về việc hoà giải đoàn tụ không thành về những

vấn đề hai bên không thoả thuận được hoặc có thoả thuận nhưng không bảo đảm

quyền lợi chính đáng của vợ và con Đồng thời, Tòa tiến hành mở phiên toà xét

xử vụ án ly hôn theo thủ tục chung.

Trang 5

II Hậu quả pháp lý của việc ly hôn.

Khi tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của vợ chồng sẽ dẫn đến những hậu

quả pháp lý về nhân thân, tài sản giữa vợ chồng và đối với con chung (nếu có)

1.Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng

Theo khoản 1 điều 57 luật hôn nhân và gia đình: “Quan hệ hôn nhân

chấm dứt kểt từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp

luật” Như vậy, kể từ ngày bản án ly hôn hoặc quyết định công nhận thuận tình

ly hôn của Tòa án có hiệu lực, các bên chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp

luật Giữa vợ và chồng sẽ chấm dứt các quyền và nghĩa vụ về nhân thân theo

luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Mỗi bên vợ chồng có quyền kết hôn với

người khác

2.Giải quyết tài sản giữa vợ và chồng

Luật hôn nhân và gia đình 2014 là đạo luật đầu tiên của Nhà nước ta quy

định vợ chồng có quyền lựa chọn chế độ tài sản của mình, theo đó vợ chồng sẽ

có thể chọn chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận Để

phục vụ cho việc giải quyết tình huống của nhóm, ở đây chúng em sẽ tìm hiểu

về chế độ tài sản theo luật định

Chế độ tài sản của vợ chồng được hiểu là toàn bộ những quy định về việc

xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ (chồng), quyền và nghĩa vụ của vợ

chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và việc phân chia tài sản Chế độ tài

sản theo quy định của pháp luật được hiểu là chế độ tài sản mà ở đó pháp luật

dự liệu trước về căn cứ, nguồn gốc, thành phần, các loại tài sản chung và tài sản

riêng của vợ chồng (nếu có), quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với từng loại

tài sản.Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải

quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu

của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các

khoản 2,3,4 và 5 Điều này và tại các điều 60,61,62,63 và 64 của Luật này

Trang 6

Nguyên tắc chia tài sản chia tài sản của vợ chồng khi li hôn

Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố

sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

Là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả

năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các

thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và

tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình Bên gặp khó khăn hơn sau

khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên

nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù

hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát

triển khối tài sản chung Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như

lao động có thu nhập;

Là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động

của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung Người

vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao

động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm Bên có

công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và

nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

Là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang

hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động

sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và

phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch Việc bảo vệ lợi ích

chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp

Trang 7

không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa

thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.''

Là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản

của vợ chồng dẫn đến ly hôn

Như vậy, để phân chia tài sản khi ly hôn phải xác định được tài sản

chung và tài sản riêng của vợ, chồng Theo đó điều 33 và điều 43 Luật Hôn

nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể như sau:

Tài sản chung của vợ chồng:

- Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập

do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản

riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được

quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế

chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài

sản chung

- Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản

chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được

tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng

- Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để

bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng

- Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng

đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản

chung

Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia

được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật

Trang 8

có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần

chênh lệch

Tài sản riêng của vợ, chồng:

Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết

hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài

sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của

Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà

theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng

Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản

riêng của vợ, chồng Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn

nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của

Luật này

Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu riêng của người đó, trừ

trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này

Trong trường hợp có sự sát nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng và tài sản chung mà

vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá t rị tài sản của

mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác

Đặc biệt, trong trường hợp vợ hoặc chồng có yêu cầu Tòa án xác định tài

sản đang có tranh chấp là tài sản riêng của chính mình thì người yêu cầu có

nghĩa vụ chứng minh, đưa ra căn cứ để xác định đó là tài sản riêng Trường hợp

không có căn cứ để chứng minh tài sản đó là tài sản riêng thì tài sản đó được coi

là tài sản chung của vợ chồng

Ngoài ra nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn còn phải :

Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên

mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài

sản để tự nuôi mình

Trang 9

3 Quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ và chồng đối với người thứ ba

khi ly hôn

Căn cứ vào điều 60 Luật hôn nhân và gia đình : “Giải quyết quyền, nghĩa

vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn:

1 Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu

lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận

khác

2 Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng

quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự

để giải quyết

Cụ thể: Về nguyên tắc, khi vợ chồng ly hôn thì quyền, nghĩa cụ tài sản

của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực Do vậy Vợ chồng dù đã ly

hôn nhưng vẫn có quyền, nghĩa vụ về tài sản đối với người thứ ba

Khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, Tòa án phải xác định vợ,

chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba hay không để đưa người

thứ ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Trường hợp vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba mà họ có

yêu cầu giải quyết thì Tòa án phải giải quyết khi chia tài sản chung của vợ

chồng Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba mà người thứ ba

không yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án

khác

4 Quyền đối với con chung của vợ chồng

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn đã

được quy định rõ trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Sau khi ly hôn,

cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có

Trang 10

khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật

này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan

Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của

mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa

án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi

mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của

con

Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp

người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,

giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con

Còn đối với con trên 36 tháng tuổi và dưới 7 tuổi nếu hai bên không thỏa

thuận được tòa án sẽ Tòa án sẽ xem xét các yêu tố sau đây để đưa ra quyết định

sẽ giao con cho ai nuôi dưỡng:

Điều kiện về vật chất bao gồm: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập… mà

mỗi bên có thể dành cho con, các yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của

cha mẹ;

Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục

con, tình cảm đã dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải

trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn… của cha mẹ

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con

được sống chung với người trực tiếp nuôi và có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm

nom con mà không ai được cản trở

Ngày đăng: 01/01/2022, 10:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w